Xu Hướng 1/2023 # 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh # Top 4 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngầu như trái bầu”, “Đẹp như cái kẹp”…. là những câu thành ngữ quá quen thuộc và được teen Việt Nam dùng nhiều. Còn thành ngữ tiếng Anh thì sao? Có giống như Tiếng Việt? Đây là bài viết bạn không thể bỏ qua. Tìm hiểu ngay thôi!

Các bạn trẻ Việt Nam thường hay nói “lạnh lùng con thạch sùng”, còn trong tiếng Anh, người ta dùng câu “ngầu như quả dưa chuột”. Từ “cool” không chỉ có nghĩa “mát mẻ” để nói về thời tiết. Khi dùng để mô tả người, nghĩa “bóng” của nó ám chỉ một ai đó rất “thời trang, cuốn hút hoặc ấn tượng, có thể mang vẻ ngoài lạnh lùng, điềm tĩnh.”

► Thành ngữ “As cool as a cucumber” có nghĩa là “điềm tĩnh, không bị ảnh hưởng bởi sức nóng hay căng thẳng bên ngoài”.

Xuất xứ của thành ngữ này đến từ thời xa xưa khi mọi người di chuyển bằng xe ngựa. Khi muốn ai đó dừng lại chốc lát, họ nói “hold your horses” – dừng con ngựa của bạn lại.

► Ngày nay, “Hold your houses” trở thành thành ngữ mang nghĩa “chờ một chút”.

► Tại sao “kick the bucket” (đá cái xô) lại ám chỉ việc chết chóc? Cho đến nay nguồn gốc của thành ngữ vẫn không rõ ràng. Có người cho rằng thời xa xưa khi hành hình, treo cổ ai đó hoặc một người cố tình treo cổ tự tử, họ luồn dây thừng vào cổ và đứng trên một cái xô. Khi xô bị đá ra, người đó tắt thở mà chết.

Khi một người mệt mỏi, kiệt sức, mặt họ thường được mô tả là “xanh lè”. ► Do đó, thành ngữ“blue in the face” ám chỉ sự mệt mỏi, yếu ớt sau khi đã làm lụng quá nhiều hoặc quá cố gắng làm gì đó.

“Cơn bão trong cái chén” tạo cảm giác một cơn thịnh nộ của thời tiết nhưng quy mô lại rất bé nhỏ.

► Người Anh dùng câu này để ám chỉ một cơn giận dữ của ai đó dù sự việc thực ra không đáng phải cáu giận như thế.

Nguồn gốc câu nói này đến từ Vương quốc Anh và các nước thuộc địa. Người ta kể rằng một vị Thủ tướng của Anh tên Robert “Bob” Cecil từng bổ nhiệm cháu mình là Arthur Balfour làm Tổng thư ký Ireland năm 1887 trong sự ngạc nhiên, thậm chí phẫn nộ của nhiều người. Từ đó, người ta nói “bác là Bob ấy mà”, “Bác là người ai cũng biết ấy mà” để nói về một sự việc ai cũng hiểu, không có gì khó hiểu.

► “Bob’s your uncle” (Bob là bác của bạn/của con) nhằm mô tả một sự việc đơn giản, dễ hiểu, ai cũng hiểu, ví dụ như “left over right; right over left, and Bob’s your uncle” (Bên trái nằm trái bên phải, bên phải nằm phải bên trái, và Bob là bác của bạn). Câu này có thể dịch nôm sang tiếng Việt thành “như thế đó”, “đơn giản như đan rổ” theo cách nói của giới trẻ hiện nay.

► Tương tự như khi người Việt nói “đầu óc để trên mây”, người Anh có một câu y hệt là “head in the clouds” để mô tả một người có những suy nghĩ viển vông, phi thực tế.

Thành ngữ này được dùng đầu tiên trong một bài thơ của nhà thơ Anh thuộc thế kỷ 15 William Langland. Người ta dùng câu này dựa vào việc khi một cái đinh cửa được đóng vào cửa, người ta “đóng chết” nó luôn ở đó để gắn các bộ phận lại với nhau và không dễ gì tháo ra.

► Từ đó, khi muốn nhấn mạnh ai hay cái gì “chết thẳng cẳng” hoặc không dùng được nữa, người ta nói “as dead as a doornail”.

10. HEART IN THE MOUTH Hẳn khi một người – dù thuộc bất cứ ngôn ngữ nào – khi quá sợ hãi, quá hồi hộp hoặc bị sốc đều có cảm giác tim nhảy đi đâu đó. Đó là lý do khiến người Việt và người Anh đều có những cụm từ tương tự nhau để mô tả cảm giác này. ► Người Việt nói“tim bắn ra ngoài lồng ngực” còn người Anh nói “tim nhảy lên miệng” – “Heart in your mouth”.

Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ

Sau khi Báo điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải bài viết ” Dạy thành ngữ, tục ngữ cho học sinh tiểu học ” ngày 14/10/2019, nhiều bạn đọc, đồng nghiệp liên lạc bày tỏ ý muốn được biết thêm về thành ngữ, tục ngữ: chúng khác nhau cơ bản chỗ nào, làm sao phân biệt chúng nhanh nhất?

Quả thực, nhận diện và phân biệt rạch ròi, nhanh chóng thành ngữ với tục ngữ cũng không phải là việc dễ dàng gì, chưa kể, hiện tại chưa phải tất cả mọi người đều thống nhất với khái niệm về hai loại trên.

Có lẽ vì thế, cho nên nhiều nhà nghiên cứu khi soạn sách, để tránh tình trạng bất đồng trong phân biệt 2 khái niệm, đã nhập chung chúng thành một nhóm “thành ngữ – tục ngữ”, mặc dù chúng không hề có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Trong nhà trường, thành ngữ và tục ngữ được giới thiệu cho học sinh từ cấp tiểu học, lên cấp trung học cơ sở, cả hai đều được dạy thành bài riêng biệt, cụ thể trong chương trình lớp 7, nhưng ở 2 thời điểm và thuộc 2 phân môn khác nhau.

Thành ngữ được dạy ở tuần 12, trong phân môn “Tiếng Việt” như một loại đơn vị từ vựng, còn tục ngữ thì được dạy ở tuần 18, 19 trong phân môn Văn học với tư cách là những văn bản tác phẩm văn học dân gian.

Phần ghi nhớ trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 ghi rõ khái niệm về hai loại trên như sau:

“Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh.

Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh…”.[1, tr.144]

“Nhìn chung, tục ngữ có những đặc điểm về hình thức:

– Ngắn gọn;

– Thường có vần, nhất là vần lưng;

– Các vế thường đối xứng nhau cả về hình thức, cả về nội dung;

– Lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh”. [2, tr.5]

Lên cấp trung học phổ thông, trong bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” ở chương trình lớp 10, riêng tục ngữ được xếp theo thứ tự ở vị trí thứ 7 trong 12 thể loại của văn học dân gian, còn thành ngữ thì không hề thấy. [3, tr.18]

Như vậy, trong sách giáo khoa, việc giải thích để giúp cho các em phân biệt cho thật rõ thành ngữ, tục ngữ chưa được chú trọng, chỉ dừng ở mức độ cung cấp khái niệm của từng loại một cách khái quát chứ chưa đưa ra sự đối sánh, phân biệt thật rạch ròi, có lẽ do dung lượng, thời lượng của từng bài học bị hạn chế, không cho phép nói dài hơn.

Điểm chung giữa thành ngữ và tục ngữ dễ nhận thấy nhất, là chúng có phần giống nhau về hình thức cấu tạo: đều được cấu tạo từ cùng một loại đơn vị là “từ”.

Chúng đều là những tổ hợp từ cố định, kết hợp với nhau theo một cấu trúc chặt chẽ, có thể có vần điệu và đối xứng (về số lượng tiếng).

Có lẽ do tên gọi của hai loại này có vẻ từa tựa giống nhau, thành ngữ – tục ngữ cùng chứa từ tố “ngữ”, nên thoạt nhìn dễ nhầm lẫn, tưởng chúng gần gũi nhau hoặc có quan hệ họ hàng với nhau.

Thế nhưng, thực ra chúng là hai loại đơn vị khác xa nhau, thuộc hai ngành nghiên cứu riêng biệt là ngôn ngữ và văn học, hoàn toàn khác nhau về phân loại, nội dung ngữ nghĩa và chức năng sử dụng. Cho nên không thể có một câu vừa là tục ngữ vừa là thành ngữ được.

Nhận xét một cách thỏa đáng thì mối quan hệ giữa chúng khá mờ nhạt chứ không hề khăng khít, mật thiết dễ dẫn đến tình trạng nhầm lẫn, khó phân biệt như nhiều người đang lầm tưởng.

Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “thành ngữ” là “tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”. [4, tr.882]

Còn “tục ngữ” là “câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân”. [4, tr.1026]

Theo thuật ngữ ngôn ngữ học, tục ngữ là một câu hoàn chỉnh (cho nên viết hoa đầu câu), diễn đạt trọn vẹn một ý có nội dung là một nhận xét về kinh nghiệm đời sống, ví dụ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, “Ăn vóc, học hay”...

Còn thành ngữ chỉ là một cụm từ cố định (cho nên không viết hoa từ đầu cụm), nêu ra một khái niệm một cách có hình ảnh, chẳng hạn: ” đẹp như tiên”, “mẹ tròn con vuông”, “trăm năm hạnh phúc” …

Có nhiều cách để phân biệt sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, phổ thông nhất chúng ta có thể tạm căn cứ vào hai phương diện sau:

1. Về hình thức: Tuy cả hai loại đều có vần hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, nhưng tục ngữ thường là câu nói ngắn gọn, còn thành ngữ chỉ là cụm từ cố định.

Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, còn thành ngữ chưa thành câu, mới chỉ là cụm từ (cho nên chỉ nên nói “câu tục ngữ”, chứ nói “câu thành ngữ” là chưa đúng)

2. Về nội dung: Tục ngữ diễn đạt trọn vẹn một ý, có thể là một nhận xét, một sự đánh giá, một kinh nghiệm, một tâm lý, một phong tục tập quán, một chân lý quen thuộc, nhằm giáo dục khuyên răn, hướng dẫn con người trong ứng xử, cuộc sống; còn thành ngữ, chưa diễn đạt một ý trọn vẹn, chỉ đề cập đến một khái niệm.

Như vậy, thành ngữ là một đơn vị thuộc lĩnh vực ngôn ngữ, còn tục ngữ thuộc lĩnh vực văn học. Tục ngữ thường dùng độc lập, kiểu như “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”…

Còn thành ngữ chỉ là một vế câu nên thường dùng để tạo câu, chêm xen vào trong câu nói, chẳng hạn: “Chúc hai bạn sống với nhau đến “răng long đầu bạc”, “Chúc chị mẹ tròn con vuông”, “Bạn đừng nên “đứng núi này trông núi nọ”…

Mặc dùthành ngữ và tục ngữ đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân về các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, nhưng chúng khác nhau ở chỗ những tri thức ấy khi được rút lại thành những khái niệm thì tạo nên thành ngữ, còn khi được trình bày thành những nhận xét, đánh giá thì tạo nên tục ngữ.

Qua sự phân tích trên, ta có thể khẳng định sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ về cơ bản là sự khác nhau giữa thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ thuộc từ vựng – đối tượng nghiên cứu của khoa ngôn ngữ học (có thể tìm thấy trong từ điển tiếng Việt), khác xa tục ngữ là một đơn vị thuộc thể loại văn học – đối tượng của nghiên cứu văn học (không phải là đơn vị từ vựng, không có mặt trong từ điển tiếng Việt).

Suy cho cùng, hiểu biết nội dung ý nghĩa và phân biệt được những đơn vị thành ngữ, tục ngữ để sử dụng phù hợp với ngữ cảnh, đạt hiệu quả cao, cũng chính là trân trọng tiếng mẹ đẻ – một biểu hiện tôn trọng nét đẹp truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 7, Tập 2, NXB Giáo Dục.

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Ngữ văn 10, Tập 1, NXB Giáo Dục.

[4] Hoàng Phê chủ biên (1995), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh

Phương ngôn, tục ngữ, thành ngữ ở Quảng Ninh có sự đa dạng, phong phú, đúc rút kinh nghiệm sống, đối nhân xử thế của người xưa.

“Bạch Đằng giang là sông cửa ải…”.

Trong kho tàng phong phú này, vùng biển có sự xuất hiện với mật độ cao hơn miền núi. Gắn bó chặt chẽ với nghề biển, ngư dân quan tâm nhiều đến gió, nhất là cữ gió 3/3 Âm lịch: “Tiền tam nhật/ Hậu tam nhật”. Nghĩa là trước và sau 3/3, 3 ngày. Hay như cữ gió 23/10: “Ông không tha/ Bà không tha/ Nhớ 23/10”. Người đi biển đúc kết kinh nghiệm đi biển lúc trời yên, sóng êm: “Bấc lặng về hôm, nồm lặng về sớm”; “Một ngày nồm ra, ba ngày bấc xuống”.

Hai câu sau có dạng thức của ca dao nhưng lại truyền đạt kinh nghiệm dân gian kiểu tục ngữ: “Con ơi nhớ lấy lời cha/ Gió nồm, nước rặc (nước thuỷ triều chảy mạnh xuống) chớ qua sông Rừng”. Có một dị bản khác tương tự: “Con ơi nhớ lấy lời cha/ Cường Nam, lộng Bắc chớ qua sông Rừng”. Sông Rừng (tên dân gian của sông Bạch Đằng) chảy theo hướng Bắc – Nam, lúc thủy triều lên mạnh dâng sóng cao, lại gặp gió mùa Đông Bắc thì sóng gió trái triều. Nếu gối được sóng thì lại trái chiều gió, tay lái không vững thì dễ lật thuyền, rất nguy hiểm.

Tuy nhiên, sóng gió ở trên sông vẫn chưa nguy hiểm bằng bão biển. Đây là kinh nghiệm nhận diện dấu hiệu có bão: “Trông lên lá lật trắng phau/ Liệu đường chèo chống mau mau bão về”. Hoặc một dị bản khác: “Yên lòng bọt biển trắng phau/ Hễ trở màu xám bão đâu rập rình”. Khi nghe tiếng sấm lại là khi an toàn: “Rập rình tưởng bão sắp vào/ Tai nghe sấm động thở phào bão đi”. Không phải cứ có bão là sẽ ra về trắng tay, ngư dân Quảng Ninh đã đúc kết: “Đầu động, cuối yên”. Khi bão chưa đến, biển hơi động, cá xô vào gần bờ phải tranh thủ bắt. Khi bão tan, biển yên rồi mới được đi đánh cá.

Còn đây là kinh nghiệm cụ thể để tránh bão khi đi gần hòn Đũa: “Kín Đũa sống/ Trống Đũa chết”. Nghĩa là, nếu thấy giông bão khi ở gần hòn Đũa thì nhanh chóng cho thuyền lách vào khe núi sao cho không còn nhìn thấy hòn Đũa nữa; nếu cho thuyền đi ra chỗ trống nhìn rõ hòn Đũa thì chắc chắn sẽ lật thuyền. Nếu cố tình đi thì sẵn sàng có những lời cảnh báo bằng giọng bông lơn, chơi chữ: “Mồng Mười tháng Ba/ Giỗ cha thằng ngoẹo/ Muốn ăn cá nghéo/ Thì chạy ra khơi”. Mồng Mười tháng Ba tưởng trời quang nhưng còn có một đợt gió mạnh trong năm, đi ra khơi thì rất nguy nghiểm, không khéo lại… ngoẻo.

Cùng với gió, ngư dân rất quan tâm đến con nước: “Tháng chín nước vịnh chân cơ/ Mẹ con nhà siệng bơ vơ đầu gềnh”. Nghĩa là, nếu tháng chín mà trong ngày nước không lên xuống thì người làm nghề cá sẽ rất khó khăn.

Ngư dân mách nhau đặc điểm mỗi loài cá: “Nước chảy xuôi, cá buôi bơi ngược/ Nước chảy ngược, cá vược bơi ngang”. Quan trọng nữa là mưa: “Tháng bảy, mưa gãy cành trám”; “Mùng chín tháng chín không mưa/ Mẹ con mang bán cày bừa mà ăn”; “Bao giờ sấm chớp chùa Lôi/ Con ơi trở dậy mang nồi ra sân” .v.v. Và kinh nghiệm đánh bắt tùy vào thời điểm: “Tôm chạng vạng/ Cá rạng đông”; “Trời trong trăng tỏ/ Nước đục ngầu ngầu/ Cha con bảo nhau/ Chèo mau cập bến/ Cá bể mùa đông/ Cá sông mùa hè”. Hay như: “Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa/ Tháng Giêng tố dài, tháng hai tố ngắn/ Tháng bảy nước nhảy lên bờ/ Tháng Giêng, tháng Hai kéo chài không kịp”.

Bắt được cá rồi thì kinh nghiệm ẩm thực các cụ cũng rất coi trọng: “Thứ nhất phải là cá song/Thứ nhì cá vược nếu không cá ngừ/ Dẫu rằng có ốm lừ khừ/ Ăn bát cháo cá từ từ khoẻ ra”. Một con cá cũng phải biết lựa chọn những phần ngon nhất: “Bám ruộng đầu cầu/ Ăn đầu cá đối”. Còn cá rô phải biết chọn ăn vào dịp tháng tám cá béo nhất: “Cá rô tháng tám chẳng dám bảo ai/ Cá rô tháng hai bảo ai thì bảo”. Chớ ăn cá rô, cá mòi dịp đầu năm: “Tháng ba, quạ tha cá mòi”.

Địa danh Quảng Ninh được đưa vào rất nhiều: “Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”; “Gái Hòn, trai Cẩm”; “Đèo Voi, Dốc Sắt, Tây Nhật đều kinh”; “Đồi núi Cối, dốc Đèo Bụt, ngõ cụt Giếng Đồn”. Nếu nói đến Vùng mỏ, có rất nhiều địa danh gắn với cuộc đời cơ cực của phu mỏ xưa: “Ruồi vàng bọ chó, gió Vàng Danh”, hoặc “Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ/ Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu”; “Cọp dữ Mông Dương/ Nước độc Hà Tu”; “Nước Vàng Danh, canh Hải Phòng”.

Nhiều địa danh thể hiện niềm tự hào về quê hương: “Bạch Đằng giang là sông cửa ải/ Tổng Hà Nam là bãi chiến trường”; “Rừng Ba Chẽ, chè Đường Hoa”; “Đông Triều: Ráng Dọc/ Thủy Đường: Ngọc Lai”. Một số nhân vật được nhắc tên giúp ta nhận biết câu thành ngữ đó ra đời vào khoảng thời gian nào: “Giàu như Bá Trại Đồn Sơn”; “Giàu nào bằng Bạch Thái Bưởi”.

Có khi đó là những thức đặc sản, lâm sản, thổ sản được nhắc đến: “Gỗ Vẩy Rồng, thông núi Vẻn”; “Nhất đẹp là gái Hà Lôi/ Vừa treo vừa cưới một nồi khoai lang”; “Ổi chùa Mo, bò Bắc Mã”. Ở Đông Triều tương truyền có loại khoai tiến vua, củ nhỏ nhưng ăn đậm đà, thơm bở, ngọt ngào và ngon, nay không còn giống nhưng trong dân gian vẫn lưu truyền: “Khoai lang Trạo, gạo xứ Bắc”. Hoặc là món ăn dân gian: “Muốn ăn cơm nắm muối vừng/ Thì về Chợ Cột đi rừng với anh”. Hay như: “Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào/ Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh”.

Mỗi câu thành ngữ ở Quảng Ninh lại chứa đựng hàm nghĩa văn hóa sâu sắc không dễ hiểu hết ý nghĩa, ví dụ: “Lợn Móng Cái, gái Đầm Hà, gà Tiên Yên”. Có người nói vui với nhau rằng 3 thứ đó đều là “đặc sản”. Tuy nhiên, có thể, con lợn ỉ là vật nuôi truyền thống được tôn trọng đến mức so sánh ngang với người(?).

Những kinh nghiệm dân gian quý báu được cô đúc lại trong những câu văn vần dễ thuộc, dễ nhớ. Có thể đôi chỗ, phương ngôn, tục ngữ, thành ngữ ở Quảng Ninh còn chưa được uyển chuyển nhưng điều đó lại khẳng định tính địa phương độc đáo của văn học dân gian. Đó cũng là niềm tự hào của người dân Quảng Ninh về bề dày văn hóa mà cha ông đã vun đắp. Đáng tiếc là đến nay, chưa có một công trình sưu tầm, nghiên cứu bài bản nào về vấn đề này.

Huỳnh Đăng

Ôn Tập Về Thành Ngữ

I. MỤC TIÊU:

-HS nhớ được các câu tục ngữ, thành ngữ đã học từ đầu năm lại nay- phân loại các câu theo từng chủ điểm và hiểu được các câu tục ngữ, thành ngữ đó.

-Tìm được một số thành ngữ Hán Việt , tìm được thành ngữ thuần Việt tương đương.

II. HOẠT ĐÔNG DẠY VÀ HỌC:

Chủ điểm Thương người như thể thương thân

HS nhớ lại và nêu được các câu tục ngữ- thành ngữ đã học- yêu cầu HS nêu được các câu đó khuyên chúng ta điều gì? chê chúng ta điều gì?

-ở hiền gặp lành.

-Trâu buộc ghét trâu ăn.

-Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

-Môi hở răng lạnh

Máu chảy ruột mềm.

Nhường cơm sẻ áo.

Lá lành đùm lá rách.

Hiền như bụt.

-Lành như đất .

-Gĩư như cọp.

-Thương nhau như chị em gái.

-Anh em như thể tay chân

Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.

Thương con quý cháu.

Chị ngã em nâng.

Trên kính dưới nhường.

Nhiếu điều phủ lấy gía gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

HS nhớ và giải nghĩa từng câu.

Chủ điểm: Măng mọc thẳng

HS nhắc lại các câu thành ngữ và tục ngữ đó đồng thời giải nghĩa các câu đó.

-Thẳng như ruột ngựa.

-Giấy rách phải gữ lấy lề,

-Thuốc đắng dã tật.

-Cây ngay không sợ chết đứng.

-Đói cho sạch, rách cho thơm.

Chủ điểm: Trên đôi cánh ước mơ

Cầu được ước thấy

-Ước sao được vậy.

-Ước của trái mùa

Đứng núi này trông núi nọ.

– Chủ điểm: Có chí thì nên

-Có công mài sắt có ngày nên kim.

-Ai ơi đã quyết thì hành

Đã đan thì lận tròn vành mới thôi.

-Thua keo này, bày keo khác.

-Người có chí thì nên

Nhà có nền thì vững.

-Hãy lo bền chí câu cua

Dù ai cau chạch câu rùa mặc ai.

-Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo.

-Thất bại là mẹ của thành công.

-Nước lã mà vã nên hồ

Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

-Có vất vả mới thanh nhàn

Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

Chủ điểm: Tiếng sáo diều

-Chơi với lửa

-Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.

-Chơi diều đứt dây

-Chơi dao có ngày đứt tay.

B. Bài tập:

Đặt một câu trong đó có sử dụng một thành ngữ, hai thành ngữ.

( Với tinh thần ” Lá lành đùm lá rách” lớp chúng em đã quyên góp sách vở ủng hộ các bạn vùng lũ lụt.

-Hương sơn không phải là nơi chôn rau cắt rốn của tôi nhưng tôi vẫn rất nặng tình nặng nghĩa với nó.

2. Điền các từ còn thiếu để hoàn chỉnh các thành ngữ nói về sự đoàn kết dưới đây, sau đó đặt câu với một thành ngữ đó?

-Đồng sức đồng …………. ( lòng).

-Đồng ……….nhất trí. ( tâm)

-Đồng cam cộng …..( khổ).

-Đồng tâm hiệp……( lực).

Đặt câu: Tôi và anh ấy đã từng đồng cam cộng khổ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.

4. Hoàn thành các thành ngữ nói về sự trung thực, thật thà rồi đặt câu với một thành ngữ đó.

-Thẳng như ………

-Thật như….( đếm)

-Ruột để ngoài….( da)

Cây ngay không sợ ……..

Đặt câu: Nó rất bộc tuệch ruôt để ngoài da , không phải là người nham hiểm.

5. Đặt câu với mỗi thành ngữ sau và đặt câu với mỗi thành ngữ đó:

Tài cao đức trọng.

Tài hèn đức mon.

Tài cao đức trọng.(Người tài giỏi, đạo đức được kính trọng.)

Tài hèn đức mon.( người tài và đức đều kém cỏi. Có khi là cách nói khiem tốn)

VD; Nguyễn Trãi là một nhà thơ yêu nước thương dân tha thiết, một nhà bác học uyên thâm, có tài cao đức trọng.

-Không thể để những kẻ tài hèn đức mọn phạm tội tham nhũng mà vẫn sống ngang nhiên.

6. Tìm thành ngữ trái nghĩa với mõi thành ngữ dưới đây:

Yếu như sên -khỏe như voi.

Chân yếu tay mềm – mạnh chan khỏe tay

Chậm như rùa -nhanh như sóc.

-Mềm như bún -Cứng như sắt.

7. Điền tiếng chứa âm tr/ch vào chỗ thích hợp để hoàn chỉnh các thành ngữ sau:

-Cha……….con nối. Vụng chèo khéo………..-Chó…….mèo đậy.-Nước chảy bèo…..8. Em hiểu thế nào về câu tục ngữ, thành ngữ sau:-Cái nết đánh chết cái đẹp…..kính dưới nhường……….mặt gửi vàng.

– Vào sinh ra tử.

Đặt câu với mối thành ngữ đó.

– Cái nết đánh chết cái đẹp.( nết na quý hơn sắc đẹp)

-Vào sinh ra tử.( xông pha nơi nguy hiểm, nơi chiến trường)

VD: Thấy chị tớ ăn diện , có lần, bà tớ nói: ” Cháu nhớ đừng có đua đòi ăn diện , quần nọ áo kia, chăm lo học hành mới là điề quan trọng . Cái nết đánh chết cái đẹp đấy cháu ạ.

-Bác ấy đã từng vào sinh ra tử ở mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa.

9. Tìm thành ngữ trong đó có tiếng ” chó” để điền vào chỗ trống trong các câu sau:

a. ở nơi………………….cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b.Nhà ấy đã nghèo túng, khó khăn lại cò gặp rủi ro, thật là……………..

c.Bọn địch lâm vào tình thế…………………, có thể sẽ liều lĩnh để thoát thân.

( chó ăn đá, gà ăn sỏi; chó cắn áo rách; chó cùng rứt dậu)

10. Cảm thụ văn học:

Trong bài Ngày em vào đội , nhà thơ Xuân Quỳnh có viết:

Màu khăn tuổi thiếu niên

Suốt đời tươi thắm mãi

Như lời ru vời vợi

Chẳng bao giờ cách xa.

Qua đoạn thơ trên, tác giả muốn nói với các em Đội viên điều gì?

(….màu khăn quàng đỏ của Đọi viên Đội TNTP HCM tượng trưng cho màu cơ Tổ quốc sẽ ” Tươi thắm mãi” trong cuộc đời của các em , giống như “Lời ru vời vợi” chứa chan tình thương của người mẹ luôn gần gũi bên em, tiếp thêm sức mạnh cho các em vươn lên cuộc sống.) Xem thêm

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!