Xu Hướng 2/2023 # Áo Yếm Trong Thơ Văn Việt Nam # Top 3 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Áo Yếm Trong Thơ Văn Việt Nam # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Áo Yếm Trong Thơ Văn Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lịch sử

Áo yếm xuất hiện từ bao giờ không ai rõ, chỉ biết rằng nó đã có mặt trong cuộc sống của người dân Việt từ rất xa xưa. Nó được mặc bởi phụ nữ Việt ở mọi tầng lớp giai cấp xã hội, từ các tôn nữ công chúa nơi thâm cung, các phu nhân tiểu thư của những gia đình quý tộc, đến những người phụ nữ bình dân tần tảo, vất vả sớm hôm để nuôi chồng, nuôi con.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng chiếc yếm được ra đời là để tôn lên cái lưng ong vốn được xem là một nét đẹp của người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam. Theo quan niệm truyền thống của người Việt, một cô gái đẹp là phải có cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn như cái lưng ong. Người Việt xưa cho rằng những cô gái với cái lưng ong không chỉ mang một dáng hình đẹp mà còn có đầy đủ tất cả những đức hạnh của một người vợ, người mẹ. Chúng ta có câu ca dao:

Đàn bà thắt đáy lưng ong Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.

Hình dạng của chiếc áo yếm có thể là đã được thay đổi theo thời gian nhưng nó lần đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ 12 dưới triều Lý.

Vào thế kỷ 18-19, chiếc áo yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét tròn làm cổ, hai đầu của lỗ đính mẩu dây để cột ra sau gáy. Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xe, đáy chữ V mà sẻ sâu xuống gọi là yếm cổ nhạn.

Cuộc cách mạng áo yếm xảy ra vào thế 20 khi các kiểu áo Tây phương xâm nhập vào Việt Nam với sự ra đời của rất nhiều kiểu yếm mới lạ.

Màu sắc áo yếm nói lên khá nhiều về người chủ của nó: Người lao động đồng ruộng mặc yếm màu nâu bằng vải thô. Con gái nhà gia giáo thì mặc yếm nhiều màu trang nhã và kín đáo. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Kiểu yếm màu sặc sỡ, cổ khoét sâu thì ít người dùng, chỉ những người như kiểu thị Màu mới dám xài, với câu thơ ỡm ờ:

Gió xuân tốc dải yếm đào Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương

Áo yếm thường được dùng kết hợp với áo cánh hoặc áo dài, mặc với nón quai thao, khăn nhiễu và khăn mỏ quạ.

Áo yếm trong thơ văn Việt Nam

Từ những câu tỏ tình của các chàng trai trong các cuộc gặp gỡ

Hỡi cô mặc áo yếm hồng Đi trong đám hội có chồng hay chưa? Cô kia yếm trắng lòa lòa Lại đây đập đất trồng cà với anh. Bao giờ cà chín cà xanh Anh cho một quả để dành mớm con.

Cho đến câu nhớ nhung, mong đợi của kẻ xa quê

Mình về mình có nhớ chăng Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình. Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao

Rồi chiếc yếm lại trở thành vật trao tình của các cô gái trẻ. Yêu anh thì mới trao yếm cho anh. Khi anh hỏi mượn em chiếc yếm là ý anh muốn hỏi em có yêu anh không, có đồng ý theo anh không.

Thuyền anh ngược thác lên đây Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền. Ở gần mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu. Mồng tơi chẳng bắc được đâu Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang

Dải yếm thì làm sao mà dùng dây kéo thuyền được, làm sao mà bắc cầu được? Nhưng đấy chỉ là ẩn ý thôi, cái anh thực sự muốn là chân tình của em. Em phải dùng “yếm” làm dây bắc cầu thì anh mới sang.

Rồi dải yếm lại trở thành một biểu tượng cho tình yêu giữa đôi trai gái

Trời mưa trời gió kìn kìn Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông

Bên ngoài mưa gió lạnh rét, đôi uyên ương dùng đôi dải yếm để đắp và vẫn thấy ấm áp hơn nằm trong nghìn lớp chăn bông. Đó không phải là vì dải yếm có sức cách lạnh tốt, mà là vì dải yếm là biểu tượng cho tình yêu của lứa đôi, tình yêu ấy có thể làm ấm lòng người giữa tiết trời giá rét.

Đối với những đôi trai gái không được nên duyên nên phận vợ chồng như mong ước, chiếc yếm lại hiện lên trong câu thơ xót thương tiếc nuối của các chàng trai.

Kiếp sau đừng hóa ra người Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân

Yếm còn trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao thế hệ thi sĩ Việt. Tác giả bài “Chùa Hương” khi tả một cô thiếu nữ đẹp đang lên chùa đã viết

“Em đeo giải yếm đào Quần lĩnh áo the mới Tay cầm nón quai thao”.

Vẫn nguồn cảm hứng từ chiếc áo yếm, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết nên khúc “Hội Yếm Bay”

“Ngất núi ô kìa anh vỗ nhịp Bay cờ triệu yếm ríu ran ca Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi”

Còn nhà thơ Nguyễn Bính khi bày tỏ sự tiếc nuối đối với cô em thôn nữ của ông đã viết

“Nào đâu chiếc yếm lụa đào. Chiếc khăn lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?…”

Yếm, đã đẹp, lại còn lôi cuốn ở nét vừa kín vừa hở. Xem Hồ Xuân Hương tả cô gái sau thì rõ:

“Lược trúc lỏng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long Ðôi gò Bồng đảo sương còn ngậm Một lạch Đào nguyên suối chửa thông”

(Bài viết Thùy An, Tranh: họa sỹ Quốc Dũng)

Bài Thơ Về Áo Dài, Chùm Thơ Ý Nghĩa Về Chiếc Áo Dài Việt Nam Hay

Như các bạn đã biết, hình ảnh chiếc áo dài đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam, chiếc áo dài tượng chưng cho một nền văn đậm bản sắc dân tộc Việt. Ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển, hình ảnh chiếc áo dài vẫn còn đó, và được xuất hiện trong những dịp lễ quan trọng của đất nước. Bởi vì lý do đó, chúng tôi muốn chia sẻ đến các bạn loạt những bài thơ về chiếc áo dài xưa cực hay ngay dưới đây nhé.

Những chiếc áo dài đơn giản nhưng khi khoắc lên người phụ nữ Việt Nam, nó trở nên tinh tế đẹp và cực kỳ lôi cuốn người nhìn. Chiếc áo dài tượng chưng cho vẻ đẹp Á đông, người phụ nữ dịu dàng và duyên dáng bên những tà áo dài thướt tha. Những câu thơ về áo dài Việt Nam như những ca từ dùng để miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp áo dài truyền thống và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam.

Chiếc Áo dài là niềm kiêu hãnh của dân tộc, là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam – một hình thức không gian văn hóa có giá trị đã được UNESCO công nhận năm 2002. Xin mời mọi người chiêm ngưỡng nét đẹp của bộ quốc phục Việt Nam được giới thiệu qua những bài thơ hay về áo dài Việt Nam ngay bên dưới đây nhé.

Áo Dài Ơi Em Tạo Dáng Làm Chi – Tác Giả: Qui Phi Hoang

Áo Dài Truyền Thống – Tác Giả: Nguyen Thanh Tung Nguyen

Duyên Dáng Áo Dài – Tác Giả: Vũ Thư Lê

Áo Dài Trong Tôi – Tác Giả: Huỳnh Thanh An

Áo Dài Xanh Lá – Tác Giả: Trung Pham

Màu xanh ở khắp mọi miền Nên non nhớ rừng đi biển nhớ phương Màu xanh ai cũng vấn vươngMùa Thu gửi gió đem Thương cho nàng

Áo dài Xanh lá mơ màng Mênh man sao xuyến gửi trăng đêm rằm Lá thu rơi rụng âm thầm Gửi Mây quyện Gió như Tằm với Tơ

Duyên Dáng Áo Dài Việt Nam – Tác Giả: Hồng Phấn

Áo Dài Và Người Con Gái – Tác Giả: Nguyễn Văn Pứ

Gió bay bay vạt áo dài Chân thon nhẹ bước tóc mai bồng bềnh Em đi trời đất chông chênh Còn anh chết lặng men tình trào dâng! Liễu xanh lặng đứng tần ngần Cánh mày râu lạc bước chân thẫn thờ…

Duyên Dáng Áo Dài – Tác Giả: Phan Thị Thoa

Những Tà Áo Dài – Tác Giả: Đàm Văn Đức

Áo Dài Việt Nam – Tác Giả: Nguyen Thanh Tung Nguyen

Áo Dài Tím – Tác Giả: Diệp Văn Hòa

Áo Dài Truyền Thống – Tác Giả: Nguyen Thanh Tung Nguyen

Áo Dài Và Người Con Gái – Tác Giả: Nguyễn Văn Pứ

Gió vờn bay vạt áo dài Chân thon nhẹ bước tóc mai bồng bềnh Em đi trời đất chông chênh Còn anh chết lặng men tình trào dâng Liễu xanh lặng đứng tần ngần Cánh mày râu lạc bước chân thẫn thờ…

Áo Dài Trắng – Tác Giả: Trung Pham

Chiếc Áo Dài – Tác Giả: Hương Trâm

Áo Dài Thướt Tha – Tác Giả: Giáo Nguyễn Ban Mê

Yêu lắm chiếc áo dài thanh lịch Của người Phụ nữ Việt Nam ta Đã làm cả Thế giới ngợi ca “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”

Yêu Lắm Áo Dài Ơi – Tác Giả: Tình Lỡ

Trong cuộc sống hiện đại, chiếc áo dài xuất hiện phổ biến nơi trường học, công sở, sân bay, khách sạn hoặc trong các dịp lễ Tết, hội hè… và nó đã trở nên quen thuộc với mọi người. Vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm của phụ nữ Việt Nam càng tăng thêm gấp bội trong chiếc áo dài tha thướt, kín đáo, mang đậm sắc thái phương Đông.

Trên là một số bài thơ vết chiếc áo dài Việt Nam mà chúng tôi muốn chia sẻ đến các bạn, Hy vọng những lời thơ, kèm theo đó là hình ảnh chiếc áo dài Việt Nam sẽ mang đến cái nhìn tuyệt đẹp về chiếc áo dài trong mắt của bạn. Đừng quên để lại một like và share bài viết các bạn nhé.

Các Bạn Đang Xem Bài Viết Bài Thơ Về Áo Dài – Chùm Thơ Ý Nghĩa Về Chiếc Áo Dài Việt Nam Hay Tại Danh Mục Thơ Quê Hương Đất Nước của Blog ChieuTa.Com. Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé!

Trích Dẫn Hay Nhất Trong Sách Văn Học Việt Nam

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn. Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. (Vội vàng)

Cái na ná tình yêu thì có trăm cái. Nhưng tình yêu đích thực thì chỉ có một. (Kẻ đi tìm tình yêu)

Phụ bạc len lỏi trong máu của mỗi người. Và những cuộc bỏ rơi nhau vẫn đang xảy ra ở đâu đó. (Gáy người thì lạnh)

Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. (Hai đứa trẻ)

Khoảnh khắc đó tôi đã biết âm thanh đẹp nhất của cuộc sống là tiếng của một người nói yêu một người. (Khói trời lộng lẫy)

Sự thật ở bên ngoài to lớn quá, mạnh mẽ quá, ăn hiếp hẳn cuộc đời tưởng tượng, hiện hình bằng giấy trắng mực đen. (Sống mòn)

Rất nhiều người sống trên đời cũng mang theo một hoặc nhiều câu hỏi mà không được trả lời. Cuộc sống là gì mà thê lương vậy? (Sông)

Có ai đó đã bảo người nhút nhát trước con gái là người lương thiện. Và tình yêu nhút nhát là tình yêu chân thành. (Ngày xưa có một chuyện tình)

Người ta buồn nhất, cô đơn nhất là khi ngủ dậy. Và khi ngoài bầu trời đang nắng ráo mà không biết phải đi đâu, về đâu. (Biển người mênh mông)

Cuối cùng cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ tiếc là không bao giờ nói được hết những gì mình nghĩ với người mình yêu thương. (Thư gửi một người)

Ta chẳng cần ai bảo ta là người tử tế. Ta chỉ cần đừng ai nghĩ rằng ta là một thằng quá hiền lành, người ta muốn bắt nạt thế nào cũng được. (Sống mòn)

Người ta ngây ngất trước sự hào nhoáng, mê mẫn trước sự bóng bẩy, nhưng lại rơi nước mắt trước sự giản dị tự đáy lòng. (Ngày mai của những ngày mai)

Càng ồn ào lễ hội người ta càng cô đơn, càng đông đúc chung quanh ta càng đơn độc, bởi có những tâm hồn không ai chạm thấu được. (Biển của mỗi người)

Khi bạn quá tin cậy hoặc sùng bái một ai, chắc chắn bạn không bao giờ đề phòng, thậm chí nghi ngờ. Và đôi khi bạn chết vì niềm ngây thơ của mình. (Tôi là Bê tô)

Bản chất của tình yêu là hi vọng. Nhiều khi trước một sự thật phũ phàng đã rõ mười mươi người ta vẫn tìm cách giải thích theo chiều hướng ít bi quan nhất. (Mắt biếc)

Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén, sở dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì khi đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác. (Chí Phèo)

Thời gian chưa bao giờ là bạn tốt của con người. Thời gian biến tóc ta thành hoa lau, nhuộm hồn ta thành lá đỏ. Và đến một ngày nó sẽ biến đời ta thành mây trắng lang thang. (Cảm ơn người lớn)

Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng. (Trăng sáng)

Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại. (Vô thường)

Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt nó trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó. (Ba phút sự thật)

Trong cuộc sống nhiều lúc gặp biến cố, trái tim chúng ta đau thắt, không kịp dừng lại để nhìn thật kĩ vào vấn đề. Chúng ta bị rối tung lên. Chúng ta cứ tưởng khổ đau bất hạnh cứ ập đến đè nặng lên vai chúng ta. (Vô thường)

Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta quá khổ thì người ta chẳng nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp. (Lão Hạc)

Bệnh buồn là hỗn hợp của những đổ vỡ, ngơ ngác, thảng thốt, vu vơ, ngớ ngẩn, lạc lỏng, mất mát, vô nghĩa, không phương hướng. Những cái buồn không nắm bắt được, mù mịt bủa vây. Không biết lối nào để thoát khỏi nó. (Ngày mai của những ngày mai)

Ta giận thân làm gì mà oán đời làm gì? Sự đời là như thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó xảy ra để cho chúng ta đang sướng phải hóa ra khổ hoặc đã khổ rồi lại phải khổ hơn trước nữa… Ai cũng chịu đựng số phận như thế chứ chẳng cứ gì một ta đâu. (Giông tố)

Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời. Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng lại vô vọng. (Tôi là ai, là ai)

Khi người ta lớn, niềm vui và nỗi buồn cũng lớn theo. Trong những giấc mơ của tôi, không chỉ có châu chấu chuồn chuồn như những ngày thơ bé. Đã có bão giông theo về trong những đêm gió luồn qua mái lá. Ở ngay cả giấc mơ cũng lớn lên đó thôi. (Cây chuối non đi giày xanh)

Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng yêu thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn. (Đời thừa)

Thật vậy, sự phù hoa giả dối của một xã hội chỉ trọng những cái bề ngoài, một nền luân lý ích kỷ, sự tín ngưỡng thế lực hoàng kim, cuộc cạnh tranh dữ dội đến vật chất đã làm hại tâm thuật người đời. Do thế, lúc người ta bần thì người ta còn thanh, và đã nên phú rồi, nhiều khi người ta hóa ra trọc. (Giông tố)

Còn chi buồn bằng tuổi trẻ gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái tim và tấm lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng. Tôi không muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết đằng cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đây ra sao. (Dế mèn phiêu lưu kí)

Một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra ý nghĩa của ước mơ không phải là ở chỗ nó có phù hợp với khả năng thực tế hay không. Điều quan trọng là nó cho phép bạn sống thêm một cuộc đời nữa với cảm xúc của riêng bạn, trong một thế giới mà bạn có thể hóa thân một cách hồn nhiên nhất vào đấng toàn năng. (Tôi là Bê tô)

Cái cảm giác tù đọng khi thức giấc với bốn bức tường câm lặng, hé cửa ra là sóng âm thanh hỗn độn của đường phố xô vào. Những bình minh lặp đi lặp lại, không bao giờ nhìn được mặt trời lên, vội vã áo quần, vội vã tất giày, vội vã phấn son rồi ào ra đường, ào qua ngày, qua tháng, qua năm… (Những bình minh khác)

Ở đời có những sự kiện, những khuôn mặt thoảng qua đời ta như cơn gió tình cờ, chẳng lưu lại một điều gì trong ký ức, nhưng cũng có những biến cố khắc sâu vào tâm hồn ta như dao chém vào đá, mãi mãi để lại trong trí não ta một vết hằn mà năm tháng chỉ đánh bóng nó lên chứ không thể làm cho nó phai đi. (Đi qua hoa cúc)

Đời sống có thể làm cho người này không vui và người khác có thể hơi buồn buồn. Ở đây anh tự tìm một cách sống riêng để không bao giờ thấy cuộc đời là một sự khổ ải. Sống thì phải vui nếu không thì hãy ngủ lâu dài. Có những hạnh phúc không bao giờ mình đến gần được. Bình thường thôi, anh sống một mình và cố tìm niềm vui của riêng anh. (Thư gửi một người)

Sứ mệnh của người làm nghệ thuật là đem lại mỹ cảm, vẻ đẹp của tâm hồn và thiên nhiên dâng hiến cuộc đời, nhưng phải với tư cách một vẻ đẹp sáng tạo chưa từng có trước đó. Bản thân sự sáng tạo đã là một ngọn lửa, một ngọn đuốc soi đường và dẫn dắt. Tiếng hát và tác phẩm chân thật sẽ sưởi ấm và an ủi những cõi đời buồn chán, cô đơn và giá lạnh. Người nghệ sĩ có trái tim chân thật luôn là người bạn ấm áp và tốt bụng của mọi người. (Ngẫu hứng)

Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phằng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút gì mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có. (Đời thừa)

Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam

Vi sinh vật

           Khi Phật trông thấy các Tỳ-kheo dùng gáo múc nước sạch trong chum (lu, vại, khạp đựng nước) để uống, Ngài dạy: “Các ông phải niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”.

        Rồi Ngài dạy các Tỳ-kheo đọc câu chú: “Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha”.

         Ngài nói: “Mỗi lần uống nước đều nên đọc câu chú ấy ba lần để chúng-sanh nhỏ bé ấy được siêu thoát”.

        Ngày ấy, cách nay trên 2500 năm, không ai thấy hoặc biết được trong nước có sinh vật nhỏ bé. Cho đến thế kỷ thứ 17, nhà sinh vật học Aton Van Leeuwenhock (1632- 1723) đã khám phá nhiều loại Vi sinh vật (Micro-organism) trong nước, trên không, dưới đất, trong cơ thể… như sinh vật đơn bào (Protozoans), vi trùng (microbes), thực vật không chân không lá, tảo trong nước (algae, fungus), vi khuẩn (bacteria), sinh vật bé nhỏ hơn vi khuẩn (virus) …”.

Âm thanh

         Có một lần Phật bảo các Tỳ-kheo: “Âm thanh của ta, các ông, và của mọi người không mất, nó sẽ còn mãi mãi”.

         Ngày nay chúng ta đã giữ được âm thanh, có đài phát thanh, truyền hình, vô tuyến điện thoại, băng, đĩa, CD… Ngoài ra, các nhà khoa học còn cho biết họ đã nhận được nhiều tín hiệu từ rất xa ngoài hành tinh của chúng ta, mặc dù chưa tín hiệu nào được xác nhận chính thức…

                   

Hình ảnh

      Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, trang 24-27 kể rằng khi đức Phật cho bà Vi-Đề-Hy, chánh hậu của vua Tần-Bà Sa-La coi cảnh cõi nước chư Phật hiện bóng rõ nơi tòa quang minh, rất rõ ràng và nghiêm đẹp…

        Như vậy chữ ”hiện bóng” tức là hình ảnh hiện lên, và tòa quang minh tức là màn ảnh, thì ngày nay, là màn ảnh của băng video (hay DVD)…

        Trong Kinh Duy-Ma-Cật, khi Phật bảo Ngài Duy-Ma-Cật thị hiện cõi nước Diệu-Hỷ có Vô-Động Như-Lai, các Bồ-Tát, và đại chúng nước ấy cho đại chúng xem.

        Ngài Duy-Ma-Cật liền lấy tay phải trấn cõi nước Diệu-Hỉ để vào cõi Ta-Bà, cõi Ta-Bà không thấy chật hẹp, vẫn y nguyên như trước.

        Qúy vị thấy thần thông của chư Phật và đại Bồ-Tát Duy-Ma-Cật rõ ràng là những máy truyền hình. Thí dụ ta mở máy truyền hình để xem trận đấu quốc tế có hàng nghìn người coi trận đấu trên một sân banh rộng lớn, sân banh rộng lớn và hàng nghìn người coi đâu có chèn ép gì mình, dẫu cho cả nước Mỹ hay cả thế giới chiếu lên màn ảnh đó, những quang cảnh to lớn đem bỏ vào phòng mình đâu có chật?

Mùi hương

       Kinh Pháp-Hoa Phật dạy: “Người thụ trì Kinh này trọn được tám trăm công đức sẽ ngửi được trăm nghìn thứ mùi trong Tam Thiên Đại Thiện thế giới”.

         Về Khoa học, sách Đạo Phật và Khoa Học, trang 72 ghi: “Ngày nay các nhà khoa học đã chế được máy ngửi mười nghìn thứ mùi khác nhau”.

Nguyên tử và từ trường

       (Kinh Lăng-Nghiêm của Hòa-Thượng Thích-Duy-Lực dịch, trang 103). Đức Phật dạy:

        “Nếu lấy một vật chia chẻ mãi tới còn bằng đầu sợi tóc, gọi là mao trần. Lấy hạt bụi bằng mao trần này chia chẻ còn bằng hạt bụi bay trong hư không, gọi là khích du trần. Hạt bụi bay lại chia chẻ nữa thành vi trần nhỏ, rồi hạt vi trần nhỏ này lại chia ra nữa cho tới khi không còn chia được nữa, gọi là cực vi trần, lân hư trần”.

      Ngài dạy tiếp: “Không bao giờ tìm cầu được thực tại cuối cùng của vật, vì những vật mà ta thấy chỉ là tổng tướng ảnh tượng được kết hợp bởi vô vàn vô số những cực vi, nó xuất hiện trong biên giới giữa vật và tâm, nó hiện diện khắp nơi; hư không, không phải là không có gì, mà trong đó có đủ loại quang minh cùng các loại chúng-sanh cư ngụ” (Đạo Phật và Khoa Học, trang 14, 20, 21).

          Về Khoa học. Các nhà khoa học (Đạo Phật và Khoa Học, trang 13) đã tìm ra từ phân tử tới nguyên tử mà Neil Bohr (1885-1950), Vật lý gia Đan-Mạch là một trong những khuôn mặt sáng giá trong việc đề xướng thuyết nguyên-tử. Nguyên tử trong đó có Dương điện tử (Proton), Trung hoà tử (Neutron), và Âm điện tử (Electron) chạy chung quanh.

      Nhưng nhà khoa học Muray Gellman cho rằng Dương điện tử và Âm điện tử còn có hạt vi phân gọi là Quark hay là cực vi, hạt ảo.

           Nhà bác học vật lý nổi tiếng Albert Einstein (1879-1955) người gốc Đức nói: “Vũ trụ phân tích đến cùng chẳng còn gì là vật chất mà chỉ còn lại là những rung động hay những làn sóng mà thôi”.

     Lời bàn

        Xem như vậy, lời Phật dạy về vi sinh vật, âm thanh, hình ảnh , mùi hương từ hơn hai mươi lăm thế kỷ đã được chứng minh; còn Phật nói cực vi trần, lân-hư-trần, quang minh… mà các nhà khoa học khám phá ra Nguyên-tử, Cực vi, Hạt ảo, từ trường… đâu có khác gì nhau.

                                Theo Thư Viện Hoa Sen

Cập nhật thông tin chi tiết về Áo Yếm Trong Thơ Văn Việt Nam trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!