Xu Hướng 2/2023 # Bài Thơ Của Lý Mạc Sầu # Top 11 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bài Thơ Của Lý Mạc Sầu # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Bài Thơ Của Lý Mạc Sầu được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài thơ của Lý Mạc Sầu

Hỏi thế gian tình ái là chi

Mà đôi lứa thề nguyền sống chết

Nam bắc hai đàng rồi ly biệt

Mưa dầm dãi nắng hai ngả quan san

Thiếp nhớ chàng muôn ngàn đau khổ

Thiếp nhớ chàng khốn khổ xiết bao

Giờ chàng đang ở nơi nao

Nhấp nhô mây núi nao nao cõi lòng.

Bài thơ tình duy nhất của Lý Mạc Sầu đã trở thành bất hủ đối với những người hữu tình trên thế gian,bài thơ mà nàng đã cay đắng thốt lên khi bị phụ tình và cả khi gieo mình nơi biển lửa của Tuyệt Tình cốc.

Lý Mạc Sầu là đệ tử chân truyền của phái Cổ Mộ,như bao nữ nhân phái Cổ Mộ khác,Lý Mạc Sầu cũng phải lập một lời thề: “Không bao giờ rời khỏi Cổ Mộ đài, trừ phi đã phải lòng một trang nam tử” nhưng nàng cũng chỉ là một nữ nhi thường tình,hiền dịu và yếu đuối,muốn yêu và được yêu.Và nàng đã phạm vào lời thề nghiệt ngã ấy,nàng cam tâm chịu tiếng phản bội sư môn,phụ bạc sư phụ,vứt bỏ cả lễ tiết của người theo đạo, trở thành kẻ thân khoác áo đạo mà tâm không có đạo…tất cả chỉ để được sống bên người nàng yêu say đắm là Lục Triển Nguyên.Nàng cùng Lục Triển Nguyên thề non hẹn biển cùng nhau,ước định mãi mãi có nhau.Lý Mạc Sầu đã từ bỏ tất cả để theo tiếng gọi trong sâu thẳm trái tim và nàng đang rất hạnh phúc,ngỡ rằng những hy sinh của nàng âu cũng là xứng đáng.

Nhưng ông trời thật khéo trêu người.Một Hà Cán Quân ngây thơ duyên dáng xuất hiện,lấy đi trái tim của Lục Triển Nguyên vình viễn,cũng là ấy đi tình yêu duy nhất của Lý Mạc Sầu mãi mãi…

Lý Mạc Sầu chới với giữa cuộc đời,nàng ko có sự lựa chọn nào cho bản thân khi giờ đây nàng đã mất đi tất cả.Nỗi đau quá lớn khiến Lý Mạc Sầu khoác lên mình bộ mặt lạnh lùng,oan nghiệt, mang đầy hơi thở gấp gáp của lòng tự tôn và thói ích kỉ.Nàng đi khắp thế gian gây thù chuốc oán,đôi tay nhỏ bé của nàng nhuốm đầy máu tươi của biết bao anh hùng nữ hiệp trên giang hồ.Lý Mạc Sầu trở thành một ma đầu giết người ko gớm tay,bị tất cả mọi người khinh ghét và căm hận nhưng nàng vẫn ngẩng đầu bước tiếp con đường ấy để đứng trên cao khinh thị mọi thứ,để ve vuốt lòng kiêu hãnh đang bị tổn thương.Và lòng căm thù của Lý Mạc Sầu đạt đến đỉnh điểm khi nàng giết cả nhà Lục Triển Nguyên,mang đến cho người mình yêu một kết cục vô cùng bi thảm.Giờ đây ta chỉ có thể thấy ở Lý Mạc Sầu sự tàn độc và ích kỷ,sự lý trí chế ngự tình cảm yếu đuối…

Người ta nói yêu là phải biết hy sinh cho người mình yêu,yêu là hạnh phúc khi thấy người mình yêu hạnh phúc nhưng Lý Mạc Sầu đã chối bỏ những luân lý đạo đức về sự hy sinh và lòng cao thượng đó,đối với nàng yêu là hận,yêu là muốn chiếm đoạt.Nhưng dù cố che giấu nỗi lòng của mình thì ẩn sâu trong con người Lý Mạc Sầu vẫn là một tình yêu sâu nặng với Lục Triển Nguyên và một khao khát có được hạnh phúc…Lý Mạc Sầu từng tha mạng cho Lục Vô Song và Trình Anh,cháu của Lục Triển Nguyên khi nhìn thấy chiếc khăn kỷ vật năm xưa nàng trao cho chàng Lục.Lý Mạc Sầu từng che chở cho Quách Tương,ái nữ của Hoàng Dung và Quách Tĩnh,đứa trẻ mà nàng tưởng là nghiệt chủng của một mối tình phi lễ giáo giữa Dương Quá và Tiểu Long Nữ,tuy rằng luôn miệng dọa giết đứa bé nhưng Lý Mạc Sầu lại chăm sóc ,yêu thương và nâng niu nó.Phải chăng bên một Quách Tương bé nhỏ ngây thơ,Lý Mạc Sầu đã trở về bản ngã của con người minh? Lý Mạc Sầu từng vì vẻ bề ngoài của Công Tôn Chỉ,cốc chủ Tuyệt Tình cốc,giống với Lục Triển Nguyên mà nghe theo những lời đường mật của hắn để cuối cùng chết giữa biển lửa Tuyệt Tình.

Vô Danh đại hiệp từng nói: “Sự lạnh lùng, tàn bạo cũng do chữ yêu mà ra. Mà một kẻ còn biết yêu, suy cho cùng vẫn là 1 kẻ có tình”. Lý Mạc Sầu biết yêu,biết hận nên nàng vẫn là một người có tình trên thế gian chứ ko phải một ma đầu tàn độc chỉ biết dùng Băng phách ngâm chăm và Ngũ độc thần chưởng làm bao đại cao thủ đến nơi cửu ngưỡng.Và đến những giây phút cuối cùng trên cuộc đời,trong đầu Lý Mạc Sầu vẫn chỉ có một hình bóng Lục Triển Nguyên.Thương thay cho Lý Mạc Sầu!!!Yêu một đời hận một đời mà kết thúc lại ko được gì ngoài sự căm hận của giang hồ và một cái chết đầy bi thảm…âu cũng vì một chữ “TÌNH” mà ra…

(Sưu tầm)

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Tác giả: Nguyễn Ngọc Thắng

Be good, be bad, be yourself !

6 Phiên Bản Lý Mạc Sầu Quyến Rũ Hút Hồn Trong ‘Thần Điêu Đại Hiệp’

Theo những gì Kim Dung miêu tả trong Thần điêu đại hiệp thì Lý Mạc Sầu là sư tỉ của Tiểu Long Nữ, cô là người xinh đẹp nhưng bụng dạ lại rất thâm hiểm độc ác và trở nên tàn nhẫn hơn sau khi bị Lục Triển Nguyên bội ước.

Dù là nhân vật phản diện, nhưng Lý Mạc Sầu vẫn nhận được nhiều tình cảm của khán giả nhờ vào câu nói: “Hỡi thế gian, tình là gì”. Trải qua nhiều lần chuyển thể và được làm lại, có 6 phiên bản Lý Mạc Sầu đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng người hâm mộ.

Bộ phim Thần điêu đại hiệp 2014 đã chính thức ra mắt những tập đầu tiên. Trong khi Tiểu Long Nữ (Trần Nghiên Hy) liên tục bị khán giả săm soi về nhan sắc thì Lý Mạc Sầu (Trương Hinh Dư) lại chiếm được tình cảm nhờ vào tính cách thú vị, đi kèm đó là một gương mặt gợi tình và một vóc dáng quyến rũ.

Trong bản Thần điêu đại hiệp 2006, nhân vật Lý Mạc Sầu được Trương Kỷ Trung đẩy bản chất tàn ác, nhẫn tâm lên cao khiến cho nữ diễn viên Mạnh Quảng Mỹ hứng phải nhiều “gạch đá” từ khán giả trong suốt thời gian phim công chiếu.

Trần Hồng – Lý Mạc Sầu xinh đẹp nhất: Năm 1998, Thần điêu đại hiệp tiếp tục được tái hiện trên màn ảnh nhỏ với sự tham gia diễn xuất của Nhậm Hiền Tề và Ngô Thanh Liên trong vai Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Nhưng trái với những phiên bản thành công trước đó, bản 1998 bị đánh giá là phim chuyển thể dở nhất trong lịch sử.

Tuy nhiên, nhân vật Lý Mạc Sầu do Trần Hồng thể hiện lại chiếm được nhiều tình cảm của khán giả và được cho là nhân vật Lý Mạc Sầu xinh đẹp nhất từ trước đến nay.

Tuyết Lê – Lý Mạc Sầu kinh điển nhất: Với những khán giả yêu mến bản Thần điêu đại hiệp 1995, chắc chắn khó lòng quên được ánh mắt sắc lạnh, vô tình của Lý Mạc Sầu do nữ diễn viên Tuyết Lê thể hiện.

Dù không sở hữu vẻ đẹp quá xuất sắc nhưng nhờ diễn xuất nổi bật cùng ánh mắt đầy “sát khí” mà nữ diễn viên Tuyết Lê đã dường như làm sống lại nhân vật Lý Mạc Sầu trong chính tác phẩm của Kim Dung. Phiên bản Lý Mạc Sầu 1995 cũng được báo chí xem là hình mẫu kinh điển của Xích Luyện Tiên Tử.

Lữ Hữu Huệ – Lý Mạc Sầu hiền thục nhất: Cái tên Lữ Hữu Huệ đã quá quen thuộc với khán giả màn ảnh nhỏ vào những năm 80, 90. Năm 1983, Lữ Hữu Huệ tái hiện lại nhân vật Lý Mạc Sầu trong Thần điêu đại hiệp. Tuy nhiên với gương mặt phúc hậu, hiền lành, Lữ Hữu Huệ được nhận xét là Lý Mạc Sầu hiền thục nhất trong lịch sử.

Trương Mẫn Đình – Lý Mạc Sầu đáng yêu nhất: Được xem là người đầu tiên thể hiện nhân vật Lý Mạc Sầu trên màn ảnh vào năm 1976, nhờ vào nhan sắc “hút hồn” mà Trương Mẫn Đình (trái) được khen là đáng yêu và không hề kém cỏi về tài sắc khi đứng cạnh Tiểu Long Nữ (Lý Thông Minh).

Sau vai diễn Lý Mạc Sầu, Trương Mẫn Đình nhanh chóng được biết đến, bà là một trong những nữ diễn viên sáng giá của màn bạc Hồng Kông ở thập niên 60, 70, song Trương Mẫn Đình lại sớm giã từ phim trường và chuyển hướng sang đầu tư sản xuất phim ảnh.

Xem Bài Thơ Những Bài Dịch Thơ Xuất Sắc Của Chế Lan Viên, Đọc Bài Thơ Những Bài Dịch Thơ Xuất Sắc Của Chế Lan Viên Chi Tiết

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920 ở Cam Lộ, Quảng Trị. Lên 7 tuổi, cả nhà chuyển vào Bình Ðịnh, bút danh Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. Năm 17 tuổi, nổi tiếng với tác phẩm Ðiêu tàn. Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, vào Sài Gòn làm báo, lại về Huế dạy học. Khoảng 1942, ra Vàng sao, viết tập truyện ngắn Gai lửa. Sau Cách mạng tháng 8, làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ… Năm 1949, Chế Lan Viên vào Ðảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều năm ông tham gia ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, Ðại biểu Quốc hội các khoá 4, 5, 6, 7.

Tác phẩm đã xuất bản:

La fe, jamás.

Cuanto menos aire, más.

Cuanto más sediento, más.

Nhưng lòng tin, quyết không bao giờ thiếu được

Càng ít khí trời, càng thêm có lòng tin

Hẳn thế rồi! Phải thêm nữa lòng tin

Bài Dịch Của Chế Lan Viên Bài Dich Của Chế Lan Viên

La bannière étoilée a retrouvé ses origines

C’est l’Algérie plus libre que jamais

Elle a toujours été libre

Ironiquement souveraine

Armée par l’ennemi

Prisonnier de ses propres pièges

Ce n’est pas la lligne Morice

Qui tue

C’est le mortier bien nourri

Les grottes flamboyantes

Les caravanes de la nuit

C’est le sourire au combat

Et la Joconde ignorée

Partout déferle

Et se révèle

L’armée inespérée

Des paysans sans terre

Et le vieillard sort de ses ruines

Pour offrir son dernier mouton

Trước dân tộc này đang buổi bình minh

Những lò sát sinh đang diễu qua

Những bầy chó điên cuồng

Không muốn khóc

Chẳng phải là phòng tuyến dây gai Mô-rít

Có thể giết

Mà chính là súng moóc-chi-ê nhả đạn liên hồi

Là những hang sâu rực lửa

Là những đoàn quân trong đêm dài

Là, chiến đấu, trên môi vẫn giữ nụ cười

Là nàng Giô-công không ai biết

Ngày mọc lên

Quên đi đói nghèo cơ cực

Những áo quần rách nát

Bàn tay ngửa ra xin

Những đôi giày đau, chật

Và mãi mãi đưa cao quả đấm của nhân dân

Trong tiếng nổ liên thanh lò lửa cháy ngầm

Không phải chết mà là phải sống

Trên vết chân những cặp tình nhân

Cỏ đâm chồi trăm hoa về góp mặt

Ở đâu có con người đặt bước

Trong đông hàn ta cảm thấy mùa xuân

Rét rỉ tan trong một chiếc hôn

Quần chúng là quần chúng đầy hạnh phúc

Những trẻ thơ là tất cả chân trời

Hoà bình làm trẻ lại con người

Chúng ta chẳng còn bao giờ nghĩ đến việc cần giữ ý

Mùa xuân mùa hạ khi mưa khi chói mặt trời

Êm ả mùa thu, mùa đông hy vọng cháy ngời

Trên biên giới của thời gian không gian bát ngát

Chỉ còn có anh em tình người gắn chặt

Chỉ còn chung một bình minh và chung một hoàng hôn

Mùa xuân mùa hạ mùa thu mùa đông

Vang và bóng của cuộc đời vô tận

Những Bài Thơ Hay Nhất Của Nhà Thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Là một cây bút nổi bật với phong cách thơ kì dị, ám ảnh bởi những hình tượng tràn đầy sự ma quái. Sau cách mạng tháng 8, cũng như bao nhà thơ khác, Chế Lan Viên trở về với cuộc sống của nhân dân, trở về với đất nước khi tìm thấy cảm hứng thơ mới trước sự kêu gọi của thời đại. Ông đã để lại những tác phẩm vô cùng xuất sắc cho nền văn học Việt Nam. Những bài thơ tiêu biểu nhất của ông có thể kể đến những tác phẩm sau đây:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng? Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi? Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Con nhớ anh con, người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chi là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi? Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Bài thơ thể hiện rất rõ sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên, thể hiện rất rõ những tư tưởng của nhà thơ. Đó là tư tưởng của nhân dân, hòa mình vào đời sống của nhân dân. Bai thơ là hành trình đi từ cái tôi chật hẹp sang cái ta rộng lớn. Nhà thơ khao khát được cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước.

2. Con cò

Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát Có cánh cò đang bay: “Con cò bay la Con cò bay lả Con cò Cổng Phủ Con cò Đồng Đăng…” Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ “Con cò ăn đêm Con cò xa tổ Cò gặp cành mềm Cò sợ xáo măng…” Ngủ yên, ngủ yên, cò ơi, chớ sợ Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân Con chưa biết con cò con vạc Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân

II Ngủ yên, ngủ yên, ngủ yên Cho cò trắng đến làm quen Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ Con ngủ yên thì cò cũng ngủ Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi Mai khôn lớn, con theo cò đi học Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì? Con làm thi sĩ Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn

III Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con À ơi! Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi Ngủ đi, ngủ đi! Cho cánh cò, cánh vạc Cho cả sắc trời Đến hát Quanh nôi

Mượn hình tượng con cò để nói về công lao to lớn của người mẹ. Cảm nhận từ tình mẹ thiêng liêng, cảm nhận vẻ đẹp sâu sắc của hình ảnh cò, tác giả Chế Lan Viên đã mượn chất liệu là những bài ca dao, dân ca Việt Nam để dệt nên bài thơ Con cò ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi nhọc nhằn nuôi con khôn lớn của người phụ nữ, người mẹ. Bài thơ đã nhanh chóng được mọi người biết đến và trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về tình mẹ.

3. Người đi tìm hình của nước

Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi Lòng ta thành con rối                          Cho cuộc đời giật dây

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ Tìm đường đi cho dân tộc theo đi

Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước” Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người Một góc quê hương nửa đời quen thuộc Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai Thế đi đứng của toàn dân tộc Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu con người

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi Những đất tự do, những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm đi

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây? Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử? Bao giờ dải Trường Sơn bừng giấc ngủ Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao? Nụ cười sẽ ra sao?                        Ơi, độc lập! Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc Khi tự do về chói ở trên đầu

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc Sao vàng bay theo liềm búa công nông

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc “Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!” Hình của Đảng lồng trong hình của Nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười

Bác thấy:            dân ta bưng bát cơm mồ hôi nước mắt Ruộng theo trâu về lại với người cày Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân Những kẻ quê mùa đã thành trí thức Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê Thành nước Việt nhân dân trong mát suối Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói Những đời thường cũng có bóng hoa che

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc… Tuyết Mat-xcơ-va sáng ấy lạnh trăm lần Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt Lênin mất rồi. Nhưng Bác chẳng dừng chân

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai

Đây là bài thơ viết về hành trình tìm đường cứu nước của Bác, đó là một hành trình gian khổ và vất vả, song cũng là những bước chân đầy tự hào. Giọng thơ ca ngợi Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân, niềm thi hứng muôn thuở của thi ca Việt Nam.

4. Xuân

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? – Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? Với của hoa tươi, muôn cánh rã Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo Ý thu góp lại cản tình xuân?

Có một người nghèo không biết Tết Mang lì chiếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!

Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! Một cánh chim thu lạc cuối ngàn

Bài thơ được viết trong phong trào thơ mới, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên trong giai đoạn này. Một hồn thơ buồn rầu không tìm được định hướng, tất cả đều chênh vênh, vô định. Bài thơ mang đậm âm hưởng của thời đại, viết về xuân nhưng thực chất chỉ là mượn hình ảnh để nói về tâm trạng khổ đau của con người.

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, đầy sự trở trăn. Những bài thơ của ông đều là đỉnh cao trong việc sử dụng ngôn từ, có giá trị nghệ thuật và nội dung to lớn.

Thảo Nguyên

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Thơ Của Lý Mạc Sầu trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!