Xu Hướng 2/2023 # Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Thơ # Top 4 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Thơ # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Thơ được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Check Also

Next

Bạn thấy không, chân dung văn hóa người Việt là do các nhà thơ tạo tạc.

Nghĩa láng giềng luôn là điều canh cánh bên lòng người Việt, sau tình gia đình. Vẫn là Nguyễn Bính: “Bờ rào cây bưởi không hoa/ Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo”. Thi nhân chân quê sẽ sống mãi trong tâm hồn Việt, dù xã hội Việt Nam đô thị hóa cỡ nào, dù người Việt rời xa quê cũ tới chân trời góc biển nào. Vì ông đã rải các hàng thơ xuống mọi cung bậc của người-nhà-quê ẩn hiện trong mỗi con dân Việt: “Thầy ơi! Đừng bán vườn chè/ Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng”. Và không thể nào quên câu-thơ-bảng-hiệu made by Nguyễn Bính: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê”.

Với cả cuộc đời sôi động trong và ngoài nước, Du Tử Lê là thi sĩ “toàn tòng”. Cho nên nỗi hoài hương của ông bao trùm lên tất cả: “Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè/ Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do/ Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè/ Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường”.

Vì thế, sự tinh tế trong ứng xử là điều dân Việt coi trọng. Không chỉ tinh tế trong đại sự, mà cả trong tiểu tiết: “Dịu dàng như thể tay tiên/ Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường”. Thưa, đó là dáng vẻ đi đứng của con gái nhà lành thời chàng Nguyễn Bính đang nổi như cồn vì sự đam mê thơ truyền thống trong khi say đắm người đẹp tân thời. “Mép áo” chiếc áo cánh, có thể chẳng bị cơn gió bạo nào, nhưng “tay tiên” vẫn thả nhẹ xuống ra vẻ “giữ hờ” khi người đẹp băng qua đường trước bao ánh mắt người lạ. Làm duyên là một nét độc đáo và ấn tượng trong sinh hoạt thường nhật của người phụ nữ Việt Nam. Với người Việt, đẹp xấu chưa biết, trước hết phải duyên.

Việt Nam lại là đất nước thi ca, như thi sĩ Nguyễn Bính từng viết: “Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”. Đúng vậy, so với các ngôn ngữ khác, tiếng Việt có khá nhiều thanh điệu (6 thanh điệu), như đôi cánh nâng thi ca tung bay đến chân trời của tâm hồn.

kannada girls sex chúng tôi west indies open sex indian bus groping chúng tôi tv 5 monde asie schedule tmailxnxx chúng tôi wwxxvideo com mywapking video chúng tôi chúng tôi beautiful sexy aunty chúng tôi bhabhi saree navel

sixwap com chúng tôi chettu kinda pleader songs download www.gonzo xxx chúng tôi chúng tôi xvideos new tamil lady boy xnxx chúng tôi nesapron houjou no reizoku elf 3 chúng tôi porn hantai kumari kandam chúng tôi unconscious sex video

‘Tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt

Bộ sách “Tục ngữ phong dao” dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội năm 1988: Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân; phong dao là những bài ca dao cổ.

Những câu tục ngữ như “Tối như đêm ba mươi”, “Tiễn ông Táo lên chầu trời”, “No ba ngày tết, đói ba tháng hè”… đều đi sâu vào đời sống nhân dân, được truyền từ đời này sang đời khác. Cũng có nhiều câu nói dần bị mai một, rồi biến mất, đó là điều rất đáng tiếc.

Ý thức được việc gìn giữ di sản quý giá của dân gian, nhiều cuốn sách về tục ngữ phong dao đã được biên soạn, như An Nam phong thổ thoại của cụ Thiên Bản cư sĩ Trần Tất Văn; Thanh Hóa quan phong sử của cụ Vương Duy Trinh; Đại Nam quốc túy của cụ Sự Sự Trai Ngô Giáp Đậu; Tục ngữ An Nam của cụ Triệu Hoàng Hòa; Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán; Gương phong tục của Đoàn Duy Bình; …

Tuy nhiên, những sách này được biên soạn hoặc không theo trật tự nào, hoặc đối nhau thì hai câu một, hoặc chia ra từng mục như trời đất, năm tháng, tiền của, văn học; hay từng thiên như Sơn Tây, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thừa Thiên; từng chương như Tống Sơn, Nga Sơn, Hoằng Mỹ, Hậu Lộc;… Trong thực trạng đó, Nguyễn Văn Ngọc vẫn ấp ủ và khao khát tập hợp di sản tục ngữ phong dao của Việt Nam thành một cuốn sách có hệ thống, có tác dụng lưu giữ cho tương lai.

Sách Tục ngữ phong dao được in lần đầu tiên tại Vĩnh Hưng Long thư quán, năm 1928. Cuốn sách tập hợp các sáng tác ca dao, tục ngữ, câu đố, câu đối…., được phân chia theo thể loại rõ ràng, mạch lạc. Trong mỗi thể loại, các bài lại được sắp xếp theo vần, trong mỗi vần lại được chia theo số chữ, vô cùng cẩn thận, tỉ mỉ, giúp độc giả dễ theo dõi.

Đầu năm 2019, cuốn sách được tái bản lại, với diện mạo mới, đồng thời bổ sung thêm những chú thích, dị bản, giúp độc giả có cái nhìn đa dạng hơn về một nền văn hóa dân gian đồ sộ của dân tộc.

Trong bản in mới, Tục ngữ phong dao được chia thành 2 tập. Tập 1 thuộc về thể phương ngôn, tục ngữ từ ba chữ đến hai mươi chữ; tập 2 thuộc về thể phong dao, từ bốn câu trở lên.

Tục ngữ phong dao có khoảng gần 6.500 câu và 850 bài, với gần 700 trang sách dày dặn, được xem là một kho vàng chung của nhân loại. Theo nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền, cuốn sách là “tập hợp đầu tiên những giá trị tinh thần do các thế hệ người lao động Việt Nam sáng tạo và truyền khẩu qua hàng nghìn năm, được sưu tầm, biên soạn nghiêm túc ấn thành văn bản”.

Việc tập hợp, biên soạn, hệ thống tục ngữ ca dao của Nguyễn Văn Ngọc, theo ông, “cốt ở một điều là cứ theo như cái phong trào có mới nới cũ ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến quốc văn quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, mà tức là cái kho vàng chung cho cả nhân loại nếu không chịu mau mau thu nạp, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyễn, lưu lạc đi thực rất là đáng tiếc. Cho nên chúng tôi quả không dám kén chọn lựa lọc, san Thi gì”.

Bởi kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc quá đồ sộ, đồng thời cũng có mong muốn tập hợp được càng nhiều càng tốt, nên ở cuốn sách, Nguyễn Văn Ngọc chú trọng và việc thu thập thật nhiều câu, có khi không phân biệt rõ ràng thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao.

Tác giả cho rằng, “đối với công việc sưu tập bây giờ, thiết tưởng ta còn phải quý hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà quý hồ tinh được.”

Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục trong bài viết Triết học bình dân trong tục ngữ phong dao đã viết tục ngữ phong dao “phản chiếu một cách trực tiếp và trung thành những cảm nghĩ của nhân dân sinh sống hàng ngày trong nhân quần xã hội và tiếp xúc với cảnh vật trong hoàn cảnh thiên nhiên. Như vậy thì tục ngữ phong dao chứa đựng những kinh nghiệm thực tế, những lẽ phải phổ thông của dân tộc. Chúng còn có ý nghĩa hơn là ngôn ngữ nói chung, vì đó là những cảm nghĩ đã trải qua kinh nghiệm và suy luận của đại chúng. Nếu phân tích ngôn ngữ có thể tìm ra một triết lý bình dân Việt Nam, thì nghiên cứu tục ngữ phong dao càng làm cho ta thấy cái triết lý ở một trình độ cao hơn và phong phú hơn nhiều.”

Cũng bởi thế, việc sưu tầm, biên soạn và lưu giữ di sản tục ngữ phong dao của dân tộc là việc là có ý nghĩa quan trọng, “để vun trồng cho các học văn Việt Nam của tổ tiên xưa được chắc rễ, bền cây”, đồng thời góp phần phát triển ngôn ngữ Việt hiện đại đa dạng, phong phú.

Bộ sách Tục ngữ phong dao dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

Nguyễn Văn Ngọc (1/3/1890 – 26/ 4 /1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Nguyễn Văn Ngọc có lòng say mê đặc biệt với văn hóa, văn học phương Đông, nhất là văn hóa, văn học dân tộc. Ông cho ra đời nhiều cuốn sách bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Ông tham gia biên soạn các sách giáo khoa như Phổ thông độc bản, Phổ thông độc bản lớp đồng ấu, Luân lý giáo khoa thư, Giáo khoa văn học An Nam, Đông Tây ngụ ngôn. Về khảo cứu, Nguyễn Văn Ngọc có Cổ học tinh hoa, Nam thi hợp tuyển, Đào nương ca, Truyện cổ nước Nam, Ngụ ngôn, Tục ngữ phong dao…

Triết Lý Dân Tộc Việt Nam Qua Tục Ngữ

Triết lý dân tộc Việt Nam qua tục ngữ

Võ Thu-Tịnh  

Về ý nghĩa của tục ngữ, trong Việt-Nam văn-học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã nhận xét: “Các câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời… “. (1) Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã ghi: “Tục ngữ là kho tàng kinh nghệm và hiểu biết của người xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh…. Có thể nói đó là một quyển sách khôn mở ngỏ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa đến nay.” (2) Tóm lại, theo các nhà biên khảo nầy thì các câu tục ngữ là một “quyển sách khôn, một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh” giúp cho dân gian ta “có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời”. Trong các tục ngữ của chúng tôi đã sưu tập, ngoài những câu nói về “mưu sinh” và “tâm lý người đời” ra (như canh nông, thời tiết, nghề nghiệp, phong tục, luân lý, lý sự đương nhiên…, mà ở văn chương truyền khẩu nước nào cũng có), thì phần nhiều là những câu về “cái biết”, về “cái khôn” của người đời, rồi đến những câu về “vũ trụ” (như đạo Trời, vận mệnh con người, Phật, tu hành, phúc đức…), về “nhân sinh” (như trung với vua, quan lại tham nhũng, các kinh nghiệm ứng xử khôn ngoan giữa xã hội với nhau). Chúng tôi nghĩ rằng đây là cẩm nang, là bản chúc thư của tiền nhân, truyền lại cho con cháu cả một “triết lý dân tộc” xây dựng trên cái “biết” và cái “khôn”, để cư xử cho đúng “đạo làm người”, theo “Lẽ Trời và Tình người”. Tuy tiền nhân không nói rõ ra, nhưng con cháu chúng ta phải hiểu rằng dụng ý của các Ngài không ngoài mục đích tối thượng là chỉ đường cho chúng ta “tranh đấu bảo tồn nòi giống, đất nước, chống xâm lăng cho khỏi bị đồng hóa, diệt chủng”. Các nhà Nho, các thành phần sang giàu, các thị dân có những sách vở của Nho giáo để căn cứ vào đấy mà ứng xử với nhau. Còn dân gian nông thôn không có chữ, nên trong sự giao thiệp, ứng xử thường ngày, chỉ căn cứ vào các câu tục ngữ, là kho tàng hiểu biết, khôn ngoan, kinh nghiệm mà tiền nhân đã truyền miệng lại cho chúng ta. Tục ngữ nước ta rất nhiều, không có một trường hợp nào mà dân gian không có thể dùng một vài câu tục ngữ để minh chứng cho thái độ, hành vi của mình. Ở bài Parémiologie viêtnamienne et comparée (“Tục-ngữ- học Việt Nam và đối chiếu”), học giả Thái Văn Kiểm có kể lại câu chuyện về công dụng của tục ngữ trong một việc tranh chấp giữa dân gian với nhau, tóm lược như sau:

“Trước đây có một lái buôn bán cho người Việt Thượng một cái áo bằng vải bông giá 50 đồng, trả được 30, còn thiếu 20 đồng, thì người Thượng bỏ lên núi không thấy quay lại thanh toán. Sau một thời gian khá lâu, người lái buôn gặp lại người Thượng xuống đi chợ, liền túm lấy dẫn đến viên cai trị người Pháp để kiện. Người Thượng nói áo mua, vải không tốt, không xứng 50 đồng, nay y chịu trả thêm 10 đồng nữa mà thôi. Còn người lái buôn nhất định đòi cho được 20. Viên cai trị Pháp xét việc cũng không có gì rắc rối, mà y lại nói tiếng Việt và tiếng Thượng thông thạo, thấy không cần gọi viên chức Việt đến giúp. Không ngờ suốt cả buổi mai y giải thích luật lệ, khuyên dụ đủ mọi cách, mà cả hai bên nguyên bị vẫn không ai chịu nghe theo. Cùng lắm, y cho gọi viên chức Việt đến. Viên chức Việt chỉ nói qua nói lại có mấy phút mà người lái buôn bằng lòng nhận 10 đồng. Viên cai trị Pháp lấy làm lạ, hỏi, thì viên chức Việt kể lại là đã dùng các câu thành ngữ, tục ngữ để nói với người lái buôn rằng: “Anh cho người Thượng mắc chịu như vậy cũng như “thả trâu vô rú”, nay được người Thượng bằng lòng trả thêm 10 đồng, là như “của đổ mà hốt” lại thôi. Xưa nay anh có thấy ai hốt của rơi lại cho đủ không? Ông bà ta thường nói: “gạo đổ lượm chẳng đầy thúng”. Bây giờ họ bằng lòng trả 10 đồng là được rồi, chớ bày chuyện kiện cáo vì tục ngữ ta có câu: “Ðược kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chẳn”. Khôn dại, hơn thiệt thế nào, là một thương gia, anh hẳn thấy rõ.” Người lái buôn cho là phải, nên nghe theo.” (3)  

1. Khôn dại trong thi ca

Vấn đề “khôn dại” rất quan trọng trong việc xử thế, cho nên trong văn thơ của các bậc thức giả xưa nay, vẫn thường thấy được nói đến. Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi, trong Quốc-âm thi tập, đã nêu lên vấn đề “khôn dại” nầy:

“Chẳng khôn chẳng dại, chỉ ương ương, “Chẳng dại người hòa (tất cả) lại chẳng thưong.”

Ðại ý nói rằng nếu ta chẳng chịu nhận là dại thì tất cả mọi người chẳng ai thương mình… Ðến thế kỉ thứ XVI, trong Bạch-Vân am quốc ngữ thi tập, Trạng Trình cũng phân biệt hai chữ “khôn dại” như sau:

“Khôn thì người dái (sợ, nể), dại thì thương, “Nhắn bảo bao nhiêu người ở thế, “Chẳng khôn đành dở, chớ ương ương.”

Nghĩa là: Khôn thì thật khôn cho người ta sợ, dại thì rõ ràng dại đi cho người ta thương, nếu không khôn được thì đành chịu dại, chớ không nên ương ngạnh. Vào cuối thế kỉ thứ XIX, khi người Pháp bắt đầu đặt quyền thống trị ở nước ta, Nguyễn Khuyến cáo bệnh từ quan, làm ra vẻ ngây ngô để khỏi bị ép ra làm việc lại. Ở Nam Ðịnh thời bấy giờ, có một người đàn bà tên là Mẹ Mốc, chồng đi mất tích (có thuyết cho là theo kháng chiến), bà giả điên giả cuồng và hủy hoại nhan sắc để khỏi bị chọc ghẹo. Nguyễn Khuyến thấy tâm sự của bà giống với tâm sự của mình, nên cảm tác ra một bài hát nói, có câu kết như sau:

“Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ, “Ðắp tai, ngảnh mặt làm ngơ, “Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây. “Khôn kia dễ bán dại nầy…” (4)

Rồi đến đầu thế kỉ thứ XX, Trần Thế Xương cũng than lên:

“Thiên hạ đua nhau nói dại khôn, “Biết ai là dại, biết ai khôn? “Khôn nghề cờ bạc là khôn dại, “Dại chốn văn chương, ấy dại khôn…”

Vấn đề “khôn, dại” nầy, từ thời xa xưa, ở Trung Hoa, Khổng Tử (551- 479 t.T.L.) cũng đã nêu ra để giảng dạy cho các môn đệ, rằng: “Ninh Võ Tử, khi trong nước có đạo lý thì ông ta tỏ ra có tài trí (để ra làm việc), nhưng gặp khi chính quyền vô đạo, thì ông làm như ngu dại (để khỏi bị ép ra cọng tác, tiếp tay với quân cường bạo sát hại nhân dân). Cái khôn của ông nhiều người làm được, đến như cái ngu của ông thì không mấy ai bì kịp.” (5)  

2. Khôn dại trong tục ngữ

Trong các câu tục ngữ của ta, dân gian đã nói nhiều về “khôn” dại”, và đặc biệt, cũng có một câu giống như các câu thơ của Nguyễn

“Khôn cho người dái (nể, sợ), dại cho người thương “Dở dở ương ương, tổ cho người ta ghét.”

Nhưng vì sao dân ta cho rằng cần phải phân biệt dứt khoát “khôn”, “dại” như thể Nguyên là trải qua bao thế kỉ, dân tộc Việt thường xuyên phải chọn lựa giữa hai con đường: Ðầu hàng, cọng tác với địch, hay kháng chiến chống lại với ngoại xâm và bạo quyền độc tài tàn ác. Con đường nào là khôn? Con đường nào là dại? Nhưng khôn hay dại, thường bị các thành kiến chủ quan thiên lệch của người đời chi phối. Lắm khi, điều mà ta cho là khôn, thì người khác lại cho là dại, hay ngược lại, như trong cổ tích “Trâu rừng với trâu nhà”: “Trâu rừng chê trâu nhà là dại, vì để cho chủ bắt làm việc cực nhọc, rồi cuối cùng cũng bị chủ làm thịt, và cho mình là khôn vì đã chọn cuộc sống tự do, không bị cưỡng bách lao lực. Còn trâu nhà thì chê lại trâu rừng là dại, vì ở rừng bị đói khát, nhất định có ngày sẽ bị beo cọp ăn thịt, và cho mình là khôn vì thường ngày có cỏ để ăn, có nhà để ở, khỏi bị dãi dầu mưa nắng, khỏi bị thú dữ sát hại. Bên nào cũng tự cho mình là khôn hơn bên kia, và cảnh cáo lẫn nhau: “Khôn thì sống, mống (dại) thì chết”. (Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, tập 2, tóm lược truyện số 28). Trong suốt bao nhiêu thế kỉ bị ngoại thuộc hay hay bị kềm hãm dưới các chế độ bạo ngược, cái “khôn thật”, “khôn giả”, và cái “dại thật”, “dại giả” thường bị lẫn lộn với nhau. Tuy vậy, dân gian không phải là không phân biệt được, song không dám nói rõ ra, mà trái lại, thường còn làm như dại khờ không biết đến. Cũng như Nguyễn Khuyến, dân gian đã có câu kín đáo tự hào rằng:

“Rù đầu, giả dại, làm ngây, “Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn !”

Văn-minh Việt-Nam, để giải thích thêm về vấn đề nầy:

“Làm thế nào khác hơn được? khi một dân tộc bị sống trong hoàn cảnh đe dọa diệt tộc thường xuyên, bởi một kẻ mạnh gấp trăm ngàn lần mình, ở ngay bên nách mình, nếu chẳng nghĩ tha thiết đến sự sống còn, đến con cái nối nghiệp, thì chỉ sơ sẩy để đầu óc viễn vông một chút thôi, cũng đủ mất tích vào trong bản đồ của địch thụ Cho nên Trạng Trình, một vị hiền triết được dân chúng kính trọng là có tài tiên tri, đã chỉ dạy có một điều rất gọn:

“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”.

Biết tương quan lực lượng giữa mình và người, biết tâm lý khát vọng giữa mình và người, biết dằn lòng chờ cơ hội thuận tiện để thực hiện ý định, biết giả dối để che đậy bí mật hành động cho khỏi hại, biết cương quyết tiến lui, biết cứng mềm tùy lúc, biết thích ứng hoàn cảnh để sống còn, biết lẩn tránh mũi dùi của địch… toàn là những cái biết rất thực tế, có thể kiểm điểm lại qua mọi sự kiện lịch sử, và có thể thấy rất rõ ràng là chính nhờ cái biết ấy mà nước Việt Nam chúng ta còn được tới ngày nay”. (6) “Khôn cũng chết ” như Trạng Trình nói, đó là cái “khôn giả”; và “dại cũng chết ” như Trạng Trình nói, đó là cái “dại thật”. Chỉ ai biết phân biệt được “khôn thật” với “khôn giả”, “dại thật” với “dại giả”, thì mới có thể sống được mà thôi. Cũng như Trạng Trình, tục ngữ đã kết thúc rằng:

“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống.”

Xem như thế, “biết” là điều kiện chính yếu để biện biệt cái “khôn” với cái “dại”, giúp cho chúng ta có thể thực hiện được “đạo làm người”, giúp cho dân và nước Việt Nam chúng ta khỏi bị diệt vong.

Cho nên tưởng trước hết, chúng ta nên tìm hiểu qua các câu tục ngữ: “Biết là thế nào?” và “Khôn là thế nào?”  

A) “Biết ” là thế nào ?

1 – Biết là suy xét cho đúng phép: suy chín, xét xa, biết rõ gốc ngọn, vắn dài, đắn đo nặng nhẹ, nông sâu:

“Làm người suy chín, xét xa, “Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”

…”Làm người phải đắn, phải đo, “Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.”

Biết suy nghĩ rất quan trọng, cho nên dân gian thường nhắc đi nhắc lại cho chúng ta ghi nhớ rằng:

“Làm người mà chẳng biết suy, “Ðến khi nghĩ lại, còn gì là thân.”  

2 – Biết còn là suy đoán phân biệt để nhận diện đúng sự vật. Suy đoán là sở trường của những câu đố.  Câu đố – Câu đố có hình thức một câu gọn ngắn có vần hay không có vần, có bản văn nhất định, nhưng câu đố cũng có hình thức một chuyện kể ngắn, không có lời văn nhất định. Tuy vậy vì nội dung hoàn toàn thuộc về trí tuệ, suy luận, nên chúng tôi vẫn xem câu đố như là một loại tục ngữ: Câu đố thường dùng để mua vui, giải trí sau những giờ làm việc mệt nhọc, nhưng câu đố cũng góp phần không nhỏ với tục ngữ để luyện tập, một cách linh động, tinh thần và lề lối suy đoán, biện biệt cho dân gian. Ở đây chúng tôi không thể đi sâu vào việc nghiên cứu toàn thể các câu đố, mà chỉ dẫn ra một số câu đố liên hệ hơn cả với cách suy đoán biện biệt, bổ túc thêm về cái “biết” trong các câu tục ngữ mà thôi. Chúng tôi chú trọng nhiều đến các câu đố gọi là đố mẹo, nghĩa là dùng những cách kín đáo, khéo léo để “gài bẩy”, làm cho người đâu mà suy đoán giải đáp. a) Về loại câu đố mẹo nầy, trước hết, có những câu đố “vừa dố vừa giảng” rất dung dị, song người nghe qua tưởng lầm là vấn đề khó khăn, rắc rối, nên suy nghĩ xa xôi, đi tìm lời giải ở ngoài lời đố, không ngờ lời giảng lại nằm sờ sờ trong câu đố rồi:

“Con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt, rõ ràng con cua”

“Tổ kiến, kiển tố, vừa đố vừa giảng” Ðố: Là những con gì, vật gì ? Giải: Là con cua và tổ kiến (có ghi rõ trong các lời đố).

Người Pháp cũng có một câu đố mẹo như thế: “Quelle est la couleur du cheval blanc d’Henri IV?” (Màu lông con ngựa trắng của Henri IV là màu gi?). Giải: Màu trắng (có ghi rõ trong lời đố). b) Có các câu đố mẹo khác, trong lời đố cố tình làm lẫn lộn các ý niệm “đồng thời” với “lần lượt”, “trọng lượng” với “khối lượng” khiến cho người nghe nào sơ ý, hấp tấp sẽ giải đáp sai:

“Luộc 1 cái trứng 4 phút là chín, vậy muốn luộc chín 8 cái trứng phải tốn bao nhiêu phút?” “Một tạ sắt với một tạ gòn, tạ nào nặng hơn tạ nào?” Giải: Luộc chín 8 quả trứng cũng 4 phút thôi (bỏ 8 trứng chung vào một nồi mà luộc đồng thời với nhau). Một tạ sắt và một tạ gòn, không tạ nào nặng hơn tạ nào. (Vì tạ là 100 cân, thì tạ sắt cũng nặng 100 cân, tạ gòn cũng nặng 100 cân như nhau).

c) Có câu đố mẹo cố tình làm cho lẫn lộn các ý nghĩa (đồng âm dị nghĩa) để đánh lạc hướng người nghe:

“Trục trục như con chó thui, “Chín mắt, chín mũi, chín đầu, chín đuôi.” Ðố là con vật gi? Giải: Con chó thui (Vừa đố vừa giảng; chữ “chín” ở câu nầy không phải là số 9, mà nghĩa là “thui chín”, trái nghĩa với “sống”)

d) Cũng có câu đố mẹo đã cố tình sắp đặt sẵn một câu giải đáp khôi hài nghe qua cũng hợp lý, mà thật ra thì “lãng nhách” (trả lời không đâu vào đâu cả) và ngộ nghĩnh, để “chọc quê” người giải câu đố:

“Vì sao khi hành nghề, mọi tên ăn cắp, móc túi phải nhìn trước rồi nhìn sau? “ Giải: Vì hắn không thể nhìn trước và nhìn sau cùng một lượt.

đ) Ðặc biệt có câu đố mà có thể có nhiều lời giải đúng, như:

“Con gì đứng thì thấp, ngồi thì cao ? “ Trong sách, thấy ghi lời giải đáp là: “Con chó”. Nhưng thật ra, lời giải có thể là “con mèo” vì mèo cũng “đứng thì thấp, ngồi thì cao”, như con chó. Mà con beo, con cọp cũng vậy.

Về “đố toán số” cũng có trường hợp một câu đố mà có thể có vô số lời giải đúng. Chẳng hạn như: “Ba người mua trứng. Người thứ nhất mua nửa giỏ và nửa quả, người thứ hai cũng thế (mua nửa só trứng còn lại trong giỏ và nửa quả). Người thứ ba mua số trứng còn lại. Hỏi số trứng là bao nhiêu? “ Trong sách chỉ thấy ghi có mỗi một lời giải như sau: Số trứng trong giỏ là 7, rồi giảng thêm:

Người thứ nhất: Ba quả rưỡi + nửa quả = 4 quả Người thứ hai : (còn lại: 7 – 4 = 3. Phân nửa của 3 = 1 quả rưởi) một quả rưỡi + nửa quả = 2 quả Người thứ ba: (7 – 4 – 2) = 1 quả

Nhưng thật ra có vô số lời giải đúng khác nữa, như số trứng trong giỏ là 11, 15, 19, 23, 27… chẳng hạn. Số trứng là 11: thì người thứ nhất 6, thứ hai 3, thứ ba 2 quạ Số trứng là 15: thì – 8, – 4, – 3 quả- Số trứng là 19: thì – 10, – 5, – 4 quạ Số trứng là 23: thì – 12, – 6 , – 5 quả. Số trứng là 27: thì – 14, – 7, – 6 quả. Cái mẹo trong câu đố nầy là đưa ra việc mua thêm “nửa quả” trứng. Ðó là điều trên thực tế không thể làm được. Ðiều nầy làm cho người giải câu đố bị hoang mang. Cho nên trước tiên, phải tìm hiểu vì sao lại có việc mua thêm “nửa quả”, thì mới tiếp tục suy đoán được. Là vì số trứng trong giỏ là một số lẻ, nếu chia thành hai phần đều nhau (nửa giỏ) thì, trên lý thuyết kế toán, trong mỗi phần sẽ có “nửa quả”. Cho tiện việc mua bán, người mua, ngoài phần nửa giỏ trứng ra, lại mua thêm “nửa quả” nữa, cho có được trọn y một quạ Như vậy, số trứng trong giỏ phải là một số lẹ Từ điều kiện tiên quyết nầy, người giải câu đố mò mẫm với những con số lẻ, từ số nhỏ đến số lớn, từ 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 19, 21, 23, 25 đến 27 chẳng hạn …, thì thấy các con số đáp ứng với các tiêu chuẩn trong câu đố, là 7,11, 15, 19, 23, 27. Và nhận thấy thêm rằng: lấy số 7 mà cọng với 4, hay cọng với các bội số của 4 (cho đến vô tận), thì chúng ta sẽ có rất có vô số lời giải đúng. Cái hay của câu đố nầy là ở chỗ giúp cho ta hiểu được rằng:

Cần đối chiếu với thực tế mà kiểm soát sự việc mới có thể suy đoán hữu hiệu.  

Thường không phải chỉ có một lời giải (của mình) là đúng mà thôi, cũng có nhiều lời giải khác đúng nữa. Phải có sự “truyền thông” với nhau giữa những thành phần nhân loại.

e) Ðể kết thúc phần nầy, chúng tôi xin dẫn ra một vài câu “đố tục, giảng thanh”, chẳng hạn như: “Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng “Khom lưng, uốn gối, cả đời cong “Lưỡi to mà sức ăn ra khoét, “Cái kiếp theo đuôi có thẹn không?” Câu đố nghe qua, thì thấy rõ ràng là một thóa mạ” một ông quan “có hành động xấu xa lạ lùng, bên trên thì cả đời khom lưng, uốn gối nịnh bợ, phía dưới thì ra sức hà hiếp, đục khoét dân đen, thử hỏi cái kiếp nô lệ theo đuôi ấy, tự mình có thấy hổ thẹn không?” Lời chê bai, hạch tội có phần tục tằn, sống sượng, nhưng khi giảng giải khác đi, thì nghe thanh nhã: Câu nầy tả cái cày. “Cái cày hình dáng không đẹp, cán uốn cong, lưỡi cày to, bao giờ cũng phải theo đuôi con trâu để cày”. Rồi dân gian, nhân cách hóa cái cày, mà lên tiếng hỏi rằng: “Sống cuộc đời theo đuôi con trâu như vậy, “quan anh” có thẹn không?” (Chữ “quan” trong “quan anh”, chỉ “người có địa vị không phải đi phu, tạp dịch trong làng, dưới thời Pháp thuộc” (theo Từdiển tiếng Việt, Nguyễn Lân, 1991). Kinh nghiệm: Một chuyện mới nghe qua cho là chướng tai, biết đâu nếu đứng vào một lập trường nào khác mà nhìn, thì không phải vậy. Dân gian biết dùng lối vừa đùa cợt giải trí, vừa đào luyện cho nhau về suy đoán và cân nhắc trong nhận định, một cách không kém phần sâu sắc.  

B) Khôn là thế nào ?

Khi đã “biết” suy xét, nhận định, suy đoán, thì có thể phân biệt được “khôn” với “dại”, để hành động cho khỏi sai lầm:

1 – Khôn không phải là làm khôn, (tiếng Việt, có chữ “làm khôn” nghĩa là tỏ ra mình khôn ngoan hơn người và can thiệp, xía vào việc của người khác), như thế chỉ có hại cho mình.

“Khôn vừa chứ, khôn lắm lại chết non.”

Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi đã có câu thơ đại ý như thế:

“Hễ kẻ làm khôn thì phải khó”

Và Trạng Trình cũng khuyên đừng “tranh khôn” mà có hại:

“Tranh khôn ắt có bề lo lắng.”

Mà trái lại, tục ngữ bảo ta phải biết cư xử cho nhún nhường, khiêm tốn:

“Ai nhất thì tôi thứ nhì, “Ai mà hơn nũa tôi thì thứ ba.”  

2 – Mà khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn tiếng nói.

Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác, không thận trọng, nên người ta thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao nhiêu tai họa cho bản thân và cho công cuộc đấu tranh của toàn dân:

” Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào.”

…” Thứ nhất là tội miệng mạ”

Cho nên:

“Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay.” …”Người khôn đón trước rào sau, “Ðể cho người dại biết đâu mà dò” …”Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời.” “Sông sâu, sào ngắn khôn dò, “Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng.”…

…”Người khôn nói mánh, người dại đánh đòn.”

Ông cha chúng ta có cách nói gần, nói xa, rào trước đón sau, để khỏi phật lòng người nghe và nhất là để không ai có thể bắt bẻ, hay buộc tội mình được. Ðó gọi là “nói mánh”. (Trong Ðại Nam quốc âm tự điển, 1896, Huỳnh Tịnh Của định nghĩa chữ “mánh” là “ý tứ, tình ý, màng dò” và “nói mánh” là “nói ý tứ, xa gần, nói ướm thử” để người nghe suy nghĩ mà hiểu lấy).  

3 – Khôn không phải là quỉ quyệt để làm thiệt hại người khác:

“Ðã khôn lại ngoan, “Ðã đi làm đĩ lại toan cáo làng.”

Nếu khôn mà quỉ quyệt, thì trước sau gì cũng:

“Khôn ngoan quỉ quyệt chết lao, chết tụ” “Càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều.”

Ở tiếng Việt, từ “ngoan” vốn có hai nghĩa trái ngược nhau: “ngoan” là khôn, nhơn lành, (như ngoan đạo, đứa bé ngoan), mà “ngoan” cũng có nghĩa là khó trị, quỉ quái (như ngoan cố, gian ngoan), (Ðại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của, Saigon, 1896). Trong “gian tham, quỉ quyệt”.  

4 – Mà khôn là thật thà ngay thẳng, vì cuối cùng cái khôn ngay thật bao giờ cũng hơn cái khôn gian trá:

“Khôn ngoan chẳng đọ thật thà, “Lường thưng, tráo đấu chẳng qua đong đầy.”

(Ðấu: thùng bằng gỗ để đong lúa, gạo; thưng: 1/10 đấu).

Tức là: Khôn ngoan không bằng thật thà, ngay thẳng; có gian lận, tráo đổi cũng không bằng làm ăn đứng đắn, lương thiện: đong đầy, cân đúng.

Chưa kể, “khôn” mà làm điều gian ngoan, bất nhân, thất đức, chết đi sẽ bị xuống địa ngục; còn ở đời nầy dại mà hiền lành, chết đi sẽ được lên thiên đàng:

“Khôn thế gian, làm quan địa ngục, “Dại thế gian , làm quan thiên đàng”  

5 – Khôn không dùng để hại dân, bán nước: không phải là đem cái khôn ra chống lại với đồng bào, phản lại quyền lợi chung:

“Khôn ngoan đối đáp người ngoài, “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”…

…”Chim không đánh chim cùng một tổ “Trâu một chuồng, đâu có húc nhau.

“Cùng chung một giọt máu đào, “Nỡ nào hại nước, nỡ nào hại dân.”

“Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chửa có khôn, “Núi Tam Sơn chẳng đậu, lại đi đậu cồn cỏ may !”

Dân gian ở vùng của chúng tôi cũng có một câu nữa tương tự như thế:

“Chim kia dại lắm không khôn, “Núi Lam Sơn không đậu, lại đậu cồn cỏ may.”

Lam Sơn là nơi ngày xưa Lê Lợi khởi nghĩa, ở đây “Lam Sơn” dùng để tượng trưng cho “kháng chiến”. Câu nầy đại ý nói: Thương hại cho những kẻ dại dột không biết theo kháng chiến cứu nước, mà lại đi theo phường Việt gian (đậu cồn cỏ may là một thứ cỏ, mỗi lần ta ngang qua, thì bị những hạt nhỏ của cỏ móc vào quần, rất dơ bẩn, phải mất thì giờ mới gỡ hết được). Và cũng có câu:

“Gáo đồng múc nước giếng tây, “Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta.”

“Giếng tây” là “giếng ở phía tây” mà cũng có thể hiểu là “người Tây”; “múc nước giếng Tây” có thể hiểu là “đem nước dâng cho Tây”. Ðại ý câu nầy là: Cọng tác với Tây, mà tự cho là mình khôn, nhưng có khôn cho lắm, cũng chỉ là đem thân ra làm nô lệ cho ngoại nhân mà thôi!  

6 – Mà khôn dùng để giữ vững lập trường, đừng để cho đối phương lung lạc, mua chuộc, dụ dỗ đưa vào con đường bán nước, phản dân:

“Người đời phải xét thiệt hơn, “Ðừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà sai.”…

“Ðây ta như cây giữa rừng, “Ai lay không chuyển, ai rung không dời”  

7 – Khôn mà ý thức được giới hạn của cái khôn. Chính tục ngữ đã vạch ra cho ta thấy rõ những hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã hạn chế cái khôn của người đời:

a) Hoàn cảnh khách quan đã hạn chế cái “khôn”, như: tiền bạc, lẽ phải, may mắn, thiên thời, địa lợi…:

“Cái khó, bó cái khôn.”

…”Khôn như tiên, không tiền cũng dại.”…

…”Khôn chẳng qua lẽ, khoẻ chẳng qua lời.”…

…”May hơn khôn.”…

…”Chẻ vỏ (biết nhiều) vẫn thua vận đỏ.”…

…”Người đời ai có dại chi, “Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông.” …”Khôn ngoan ở đất nhà bay, “Dù che, ngựa cưỡi, đến đây phải luồn.”  

b) Hoàn cảnh chủ quan đã hạn chế cái “khôn”, như: dục tình, nhẹ dạ, bản tính trời sinh, già nua lú lẫn…

“Miệng khôn, trôn dại.”

…”Khôn ba năm, dại một giờ “

…”Khôn từ trong trứng khôn ra,

“Dại dẫu đến già cũng dại.”

…”Trẻ khôn qua, già lú lại.”

Tổng kết

Qua tục ngữ, chúng ta thấy được đường lối nghìn năm của ông cha chúng ta, là trường kỳ tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc, của quốc gia, mà triết lý căn bản là: “biết thì sống”, biết “phân biệt dại và khôn” để bản thân, nòi giống khỏi bị diệt vong, một triết lý xây dựng trên tình người , trên sự làm lành, đùm bọc, giúp đỡ, cứu vớt lẫn nhau, một lề lối ứng xử chừng mực vừa phải, biết thận trọng, ẩn nhẫn, chịu đựng để thích nghi hóa với mọi hoàn cảnh để sống, để tồn tại, để chờ thời, chờ cơ hội thuận lợi mà vùng lên. Nguyễn Thùy, trong Tinh thần Việt Nam, cho rằng: “Có như thế, dân tộc ta mới tồn tại, mới bảo vệ được tinh thần của mình, mới tiếp thu được mọi thứ của người để có thể thể hiện được một hội nhập tròn đầy cái lý dịch hóa của vũ trụ vạn vật và của con người vào thời kỳ cuối của kỉ nguyên. Cái tính “chấp nhận để từ khước”, “hòa mà không đồng”, “tỏ ra thua thiệt để không đầu hàng”, “chịu thiệt thòi để không mất tất cả”, nếu có đưa dân tộc đến chỗ phải gánh chịu nhiều trầm luân, nhưng chính là một cuộc “chạy trốn về đằng trước” rất tế nhị của dân tộc ta để sửa soạn cho một bước đi tốt đẹp vào hồi chung cục. Chịu đựng tất cả để khỏi bị tiêu diệt.” (7) Tinh thần kết hợp cái “khôn” và cái “biết” trong tục ngữ, đã chi phối mọi xử sự, thông truyền giữa dân gian nước ta. Tinh thần ấy cũng phần nào giống với quan niệm kết hợp “khôn” và “biết” trong triết học hiện đại Tây phương. Một giáo sư Pháp, Didier Julia, cũng xác nhận rằng: “Cái “khôn”, theo nghĩa xưa, là cái “biết” bằng trực giác về những qui luật của vũ trụ, và theo định nghĩa hiện đại, là cái “biết” về những vấn đề của những người khác. Nói một cách thông thường hơn, cái “khôn” là một khái niệm luân lý chỉ sự “thăng bằng” của phẩm cách con người : sự “tiết độ” (theo Platon), hay sự “chừng mực” của mọi ham muốn. Theo nghĩa ấy, cái “khôn” trái lại với sự “say mê”, cũng như trái lại với cái “dại”. Cái “khôn” có khuynh hướng hóa đồng với sự “thận trọng”. (8) Từ điển về Triết-học Pháp cũng đã định nghĩa: “La sagesse est le but de la philosophie”, nghĩa là “cái khôn là cứu cánh của triết học”. (8) Tóm lại, dân tộc Việt Nam quả đã có một triết lý riêng của mình, triết lý mà ông cha chúng ta dụng ý trối gửi lại qua các câu tục ngự Bổn phận con cháu chúng ta là khám phá cho thấy được triết lý ấy, để hành động cho đúng, hầu tiếp tục đấu tranh bảo tồn nòi giống và quê hương. Và danh từ “triết lý” trong đầu đề “Triết lý dân tộc Việt

Võ Thu-Tịnh  

Chú Thích:

(1) Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, q. I, Paris, SudAsie, 1986, Tục ngữ, tr. 6,7.

(2) Phạm Thế Ngũ, Việt-Nam văn-học sử giản ước tân biên, q. I, Ðại Nam tái bản, Glendale,CA., năm ?, tr. 22, 23.

(3) Thái Văn Kiểm, Parémiologie việtnamienne comparée , in Présence Indochinoise, Paris, No1 – Avril 1979, pp. 81 – 117.

(4) Nguyễn Khuyến – Mẹ Mốc:

So danh giá ai bằng Mẹ Mốc, Ngoài hình hài gấm vóc cũng thêm ra. Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa, Làm thế để cho qua mắt tục. Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc, Tâm trung thường thủ tự kiêm kim.(a) Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm, Giữ son sắt êm đềm một tiết. Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết; Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ. Ðắp tai ngảnh mặt làm ngơ, Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây. Khôn kia dễ bán dại nầy!

(a) Kiêm kim = vàng ròng

(5) Luận Ngữ, bản dịch của Ðoàn Trung Còn, Paris, SudAsie, năm ?, chương Công Dả Tràng, tiết 20, trang 76: “Tử viết: Ninh Võ Tử, bang hữu đạo tắc trí, bang vô đạo tắc ngu. Kỳ trí khả cập giã, kỳ ngu bất khả cập giã”

(6) Lê Văn Siêu, Văn minh Việt Nam, Saigon, Nam Chi tùng thư, 1964, tái bản Glendale CA., Ðại Nam, năm ?, tr. 92, 93.

(7) Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân, Tinh thần Việt Nam, San José CA, Mékong Tỵ nạn, 1992, tr.195-196.

(8) Didier Julia, Dictionnaire de la Philosophie, France Loisirs, Paris, 1992, p. 252: Sagesse , “Cette définition est certainement la plus rigoureuse: la sagesse est, au sens antique, la connaissance des lois du monde et, au sens moderne, la compréhension des problèmes d’autrui. Plus communément, la sagesse est une notion morale qui désigne l'”équilibre” de la personnalité : la “tempérance” (Platon) ou la modération des désirs. En ce sens, la sagesse s’oppose à la passion, autant qúà la bêtise. Elle tend à s’identifier à la prudence.”  

Tổng Hợp Những Câu Châm Ngôn Sâu Sắc Trong Văn Hóa Nhật Bản

Người nước ngoài có thể hay bàn tàn về sự kì bí và những tập tục văn hóa Nhật Bản lên tới hàng giờ liền. Thứ cuốn hút nhất ở đất nước này thực sự, mặc cho nền văn minh và những thành tựu công nghệ hiện đại, có lẽ chính là con người ở đây luôn tiếp tục duy trì mối dây liên kết với nguồn gốc và những truyền thống xa xưa của họ. Có lẽ đó chính là nơi sự khai sáng được tìm thấy. Cùng giải mã lý do khiến các quốc gia khâm phục con người đất nước Nhật Bản qua bài ” Tổng hợp những câu châm ngôn sâu sắc trong văn hóa Nhật Bản “

1.Nếu một vấn đề có thể giải quyết được, vậy không cần phải lo lắng về nó nữa. Nếu nó không thể giải quyết được, vậy thì có lo lắng cũng chẳng ích gì.

2.Dùng thời gian để suy nghĩ, lá gan để hành động. Khi đã hành động rồi thì đừng suy nghĩ.

3.Đừng níu giữ những thứ đã xa, đừng xua đuổi những điều đang đến.

4.Nhanh nghĩa là đi chậm mà không bị ngắt quãng.

5.Thà làm kẻ thù của một người tốt còn hơn làm bạn của một kẻ xấu.

6.Không có con người vĩ đại nào mà không sở hữu những người bình thường bên cạnh mình.

7.Người có khát vọng vươn lên sẽ nghĩ về cách tạo ra cho mình một chiếc thang.

8.Vợ chồng giống như tay và mắt: khi tay đau thì mắt khóc; còn khi mắt khóc, tay lau đi những giọt lệ.

9.Mặt trời không biết ai đúng ai sai. Nó chiếu sáng không cần mục đích và đem lại hơi ấm cho tất cả mọi người.

10.Ếch ngồi đáy giếng thì không biết được sự bao la của biển cả.

11.Một hành trình dài luôn bắt đầu từ một hành trình ngắn.

12.Kẻ uống rượu không biết sự nguy hiểm của rượu, người không uống rượu không hiểu được lợi ích của nó.

13.Thanh kiếm dù chỉ cần dùng một lần trong đời, nhưng lúc nào cũng nên mang bên người.

14.Những đóa hoa đẹp không sinh ra trái ngọt.

15.Nồi sầu, như bộ đồ rách, lúc nào cũng nên bỏ ở nhà.

16.Khi người ta yêu, thậm chí cả vết sẹo ghê tởm nhất cũng trở nên xinh đẹp như má lúm đồng tiền.

17.Chẳng ai vấp ngã khi đang nằm trên giường.

18.Một lời tốt có thể giữ ấm cho bạn trong ba tháng mùa đông.

19.Luôn tránh xa những gã khờ và những thằng điên.

20.Nếu muốn sơn một nhánh cây, phải nghe được hơi thở của gió.

21.Kiểm tra lại bảy lần trước khi nghi ngờ một ai đó.

22.Làm tất cả những gì bạn có thể và để mọi chuyện còn lại cho số phận.

23.Sự thật thà quá mức thường nằm sát cạnh sự ngu xuẩn.

24.Tiền tài luôn đến với những ngôi nhà có tiếng cười.

25.Người có thể chịu đựng được chỉ hơn nửa giờ so với đối thủ của mình là người có thể đạt được chiến thắng.

26.Khi nào đá biết bơi, thì lá sẽ chìm.

27.Ngay cả khỉ cũng có thể ngã từ cây của chúng.

28.Trà nguội hay cơm nguội đều có thể chịu được; thứ không thể chịu được là cái nhìn nguội và lời lẽ cục cằn.

29.Không vào chuồng cọp, sẽ không bắt được cọp con.

30.Nếu một người phụ nữ muốn một điều gì, cô ta sẽ leo qua cả một ngọn núi để có được nó.

31.Đặt một câu hỏi và bạn chỉ cảm thấy xấu hổ trong thoáng chốc. Không hỏi và không biết nghĩa là bạn sẽ thấy xấu hổ cả đời.

32.Người thợ thủ công tệ không bao giờ làm ra một chiếc bình hoàn hảo.

33.Đất luôn cứng lại sau mưa.

34.Những con sông sâu nhất trôi rất êm đềm.

35.Nếu quyết định có một hành trình khác biệt, bạn sẽ phải một mình trong hàng ngàn ki-lo-mét.

Nguồn webtretho

Cập nhật thông tin chi tiết về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Thơ trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!