Xu Hướng 1/2023 # Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam # Top 5 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS. Đào Thị Vân

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, em đã được sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo. Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Đào Thị Vân Người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của thầy, cô giáo trong Viện ngôn ngữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và khoa sau Đại học – Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đọc và chỉ ra những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này. Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012 Học viên: Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác. Tác giả

Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ Lời cảm ơn Lời cam đoan Mục lục …………………………………………………………………………………………………. i Danh mục các bảng ……………………………………………………………………………….iii MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ………………………………………………………………. 10 1.1. Khái quát về danh ngôn …………………………………………………………………… 10 1.1.1. Định nghĩa danh ngôn ……………………………………………………………. 10 1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn………………………………………… 11 1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh…………………………………… 12 1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh” ……………………. 12 1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ …………………………………. 15 1.2.3. Cấu trúc so sánh ……………………………………………………………………. 17 1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam. …………………………………………………………………………….. 25 1.3.1. Khái quát về văn hoá……………………………………………………………… 25 1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam 30 1.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 31 Chƣơng 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM …………………………………………………… 33 2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………………………………………………………… 33 2.1.1. Số liệu khảo sát …………………………………………………………………….. 33 2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……… 33 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii

2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc … 42 2.2.1. Nhận xét chung …………………………………………………………………….. 42 2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam …….. 43 2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa …………… 80 2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng so sánh không nói về người …………………………………………………………….. 80 2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều nói về con người…………………………………………………………………………….. 82 2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều không nói về con người …………………………………………………………….. 83 2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối tượng so sánh nói về người ……………………………………………………………… 84 2.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 85 Chƣơng 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI VIỆC LƢU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA ……………………………………………. 87 3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc ………………………………………… 87 3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong danh ngôn việt nam……………………………………………………………………………….. 88 3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật …………………………………………………… 88 3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật ………………………………………………….. 94 3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực ………………………………………………… 101 3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng ………………………………… 103 3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình……………………………………………………………………………………….. 105 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1: Bảng tổng kết so sánh luận lí và so sánh tu từ trong danh ngôn Việt Nam …………………………………………………………………………….. 35 Bảng 2.2: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh đồng nhất trong danh ngôn Việt Nam …………………………………………………………………………….. 38 Bảng 2.3: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh dị biệt trong danh ngôn Việt Nam …. 41 Bảng 2.4: Bảng tổng kết các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……. 43 Bảng 2.5: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong phép so sánh sử dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64 Bảng 2.6: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong cấu trúc so sánh sử dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64 Bảng 2.7: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố t trong phép so sánh sử dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 69 Bảng 2.8: Bảng tổng kết từ ngữ chỉ phương diện so sánh trong danh ngôn Việt Nam …………………………………………………………………………….. 69 Bảng 2.9: Bảng tổng kết các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong danh ngôn Việt Nam…………………………………………………………………….. 70 Bảng 2.10: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79 Bảng 2.11: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79 Bảng 2.12: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo nội dung A và B. …………………………………….. 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. So sánh là một thao tác được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc sống hàng ngày nói chung, trong văn chương nghệ thuật nói riêng. Để nhận thức thế giới khách quan, để nắm được bản chất quy luật của các sự vật hiện tượng muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, con người thường sử dụng thao tác này. Trong sáng tạo nghệ thuật, so sánh là thủ pháp hết sức quen thuộc, được sử dụng thường xuyên. Đây là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc sắc. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh được coi là một trong những phương thức tạo hình gợi cảm hiệu quả nhất, có tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người. Mặt khác nó còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp con người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn. Nghiên cứu về phương thức so sánh sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và giá trị của biện pháp này đối với việc cấu thành và biểu đạt ngôn ngữ nói chung, văn học nghệ thuật nói riêng. 1.2. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại được lưu giữ dưới nhiều hình thức. Một trong số những hình thức ấy là các lời danh ngôn. Theo Từ điển tiếng Việt, (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học, tái bản năm 2010 ; Hoàng Phê chủ biên) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được người đời truyền tụng” [36,218]. Danh ngôn có thể khuyết danh hoặc có tên tác giả. Các lời danh ngôn chứa đựng những bài học kinh nghiệm quý báu, những lời khuyên hữu ích, những tri thức hiểu biết, ứng xử xã hội sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị xã hội, khoa học, nghệ thuật… Việc nghiên cứu danh ngôn thế giới nói chung, danh ngôn Việt Nam nói riêng là một công việc không hề đơn giản nhưng lại hết sức thú vị. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

2

1.3. Người đọc thường biết đến danh ngôn với tư cách là “những câu nói hay, có ý nghĩa được người đời truyền tụng” [36,218], có tác giả hoặc khuyết danh. Tuy nhiên, hiếm có ai đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu cách thức sử dụng từ ngữ, giá trị của các biện pháp tu từ mà cụ thể là phép so sánh trong danh ngôn. Đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với nhiều bạn đọc. Việc lựa chọn nghiên cứu “phép so sánh trong danh ngôn của Việt Nam” là một việc làm cần thiết, phù hợp với nhu cầu hiểu biết, cần khám phá sâu hơn về danh ngôn của độc giả. Vì những lí do trên nên trong luận văn này, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu về: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung và nghiên cứu danh ngôn Việt Nam nói riêng 2.1.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung Với những bài học sâu sắc và ý nghĩa thiết thực, đã từ lâu danh ngôn trở thành món ăn mang đến cho nhân loại những hương vị độc đáo, mới mẻ. Mỗi lời danh ngôn vừa như một trải nghiệm, lại vừa như một phát hiện lý thú, sáng tạo của con người về công việc, kinh nghiệm sống, quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc, gia đình… Hiện nay, có không ít những công trình biên soạn, sưu tầm các câu danh ngôn: Danh ngôn thế giới đông tây kim cổ (Biên soạn, biên dịch, sưu tầm, khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang Năng, Nxb Văn hóa thông tin, 2004); Danh ngôn thế giới (Biên soạn: Ngọc Khuê, Nxb Trẻ, 2001); 3500 câu danh ngôn nổi tiếng thế giới (Trần Mạnh Thường tuyển chọn, Nxb Văn hóa thông tin, 1996); Danh ngôn cổ điển; Danh ngôn hiện đại (Tri thức Việt biên soạn, Nxb Lao động, 2010); Sổ tay danh ngôn (Nguyễn Huy Giới sưu tầm, biên soạn, Nxb Lao động Xã hội, 2006); Danh ngôn Trung Hoa (Nguyễn Hữu Trọng biên dịch, Nxb Đồng Nai, 1996);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

Danh ngôn tình yêu (Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Tây phương xử thế (Kiều Văn biên soạn Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa, bổ sung, Nxb. Đồng Nai, 2003); Danh ngôn thế giới tình bạn – tình yêu (Trường Tân, Trường Khang sưu tầm, tuyển chọn, Nxb Văn hoá Thông tin, 2004)… Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn và khảo cứu một số lượng khổng lồ lời danh ngôn của nhân loại, được đúc rút từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau trên thế giới. Hệ thống những lời danh ngôn ấy dung nạp từ những câu nói nổi tiếng của các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử loài người cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, châm ngôn, cổ ngôn… tạo nên các chủ đề danh ngôn đa dạng và phong phú, trở thành nguồn tư liệu quý báu và vô giá cho hậu thế. 2.1.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa, văn học mang đậm dấu ấn dân tộc. Có thể nói những lời danh ngôn Việt Nam chính là cái hồn, là thần thái của con người nơi đây, bởi chúng được hoài thai, sinh ra và nuôi dưỡng trong lòng dải đất hình chữ S. Danh ngôn Việt Nam không chỉ là những câu nói hay của các danh nhân người Việt, mà còn là các câu tục ngữ, ca dao sâu sắc do cha ông từ xưa truyền đời để lại. Biên soạn sưu tầm các lời danh ngôn này có các công trình tiêu biểu: Từ điển danh ngôn: Thế giới và Việt Nam (Nguyễn Nhật Hoài, Vũ Tiến Quỳnh, Nxb Phương Đông, 2006); Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và biên soạn: Trí Thắng, Kim Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000); Danh ngôn Đông – Tây: Pháp – Việt (Biên soạn: Vương Trung Hiếu, Trần Đức Tuấn, Nxb Đà Nẵng, 1994); Tục ngữ Anh – Pháp – Việt (Lê Ngọc Tú, Nxb Khoa học xã hội, 1996); Danh ngôn tình yêu hôn nhân gia đình: Việt – Anh – Pháp (Vương Trung Hiếu, Nxb Đồng Nai, 1998); Lời non nước: Danh ngôn Chủ tịch Hồ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

Chí Minh (Đào Thản sưu tầm và chú dẫn, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2005); Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb Thuận Hóa, 2005); 365câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010); Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh niên, 2008)… Nhìn chung, các công trình trên đã sưu tầm và biên soạn một số lượng tương đối các lời danh ngôn Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, gia đình, ứng xử, quan niệm về hôn nhân, công việc, xử thế… Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa dân tộc, các lời danh ngôn đều mang đậm chất Việt Nam, những hình ảnh, từ ngữ, cách thức diễn đạt… đều lưu giữ dấu ấn văn hóa Việt Nam. 2.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam về phương diện ngôn ngữ 2.2.1. Nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ nói chung Trên thực tế, có rất nhiều tác giả biên soạn, sưu tầm các lời danh ngôn. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì có rất ít công trình. Tiêu biểu hơn cả trong số đó là bài viết Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân, tạp chí ngôn ngữ, số 10, Tr.1-7, 2004). Trong bài viết này, tác giả có đề cập tới danh ngôn trong việc vận dụng danh ngôn trên báo chí. Song, để nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ, hình thức biểu đạt, các biện pháp tu từ… thì chưa có tác giả nào quan tâm đến. 2.2.2. Nghiên cứu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam. Trong nghiên cứu văn học, một trong các phương thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm văn chương là phương thức so sánh. Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức biểu đạt hình tượng của mọi ngôn ngữ. Vì thế đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nền văn học thế giới, từ những buổi đầu, phương thức so sánh đã được nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp Arisstole quan tâm. Trong cuốn Thi học, ông đã đề cập tới so sánh. Arisstole xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rộng rãi trong văn chương, bởi nó mang đến giá trị biểu cảm và tính thẩm mĩ cao. Với nền văn học Trung Hoa cổ đại, phép so sánh được thể hiện qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thi ca dân gian Trung Quốc. Tỉ và hứng là những phương thức nghệ thuật có liên quan đến cách ví von bóng gió trong văn học. Vấn đề này ở nước ta cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đề cập đến. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX khi xuất hiện những công trình nghiên cứu tiếng Việt thì trong đó phương thức so sánh cũng được miêu tả trong giáo trình bài giảng Phong cách học. Nghiên cứu về phép so sánh có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ (Nxb Giáo dục, H. 1964), Phong cách học tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H. 1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H. 2005); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1973); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngôn ngữ, số 3, 1991); Hữu Đạt với Phong cách học Tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình (Nxb KHXH, 2009)… Ở những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đi đến sự hình thành khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của phương thức so sánh. Đây là cơ sở lý thuyết vô cùng quý báu giúp chúng ta tham khảo trước khi đi sâu nghiên cứu, khám phá về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam. 2.3. Tổng kết về tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam Kết quả khảo sát tư liệu cho thấy, đã có nhiều công trình sưu tầm và biên soạn danh ngôn Việt Nam, danh ngôn thế giới. Nhưng để đi sâu và tìm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

hiểu đầy đủ, toàn vẹn về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì hiếm có hoặc có rất ít công trình. Đặc biệt, tìm hiểu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam thì chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào. Bởi vậy, trong khuôn khổ luận văn này, bước đầu chúng tôi đi tìm hiểu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, từ đó thấy được giá trị của chúng trong sáng tạo nghệ thuật truyền thống. 3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu – Về đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát của luận văn là các lời danh ngôn Việt Nam trong một số công trình sau: + Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và biên soạn: Trí Thắng, Kim Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000); + Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb Thuận Hóa, 2005); + 365 câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010); + Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh niên, 2008); + Danh ngôn thế giới Đông Tây kim cổ (Biên soạn, biên dịch, sưu tầm, khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang Năng, Nxb Văn hóa thông tin, 2004 ) + 7500 câu danh ngôn (Nhiều tác giả biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010); + 3600 câu danh ngôn (Mai Ngọc Lan biên soạn, Nxb Văn hóa Thông tin, 2010);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

+ Danh ngôn hôn nhân và gia đình (Việt Hương sưu tầm, Nxb Thanh Niên, 2005) + Danh ngôn thế giới (Việt Hùng sưu tầm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005). – Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt về hai phương diện sau: (1) Nghiên cứu đặc điểm của phép so sánh được sử dụng trong các câu danh ngôn của người Việt: (Cấu trúc, ngữ nghĩa; Phương thức so sánh; Hình thức so sánh…); (2) Nghiên cứu phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt với vai trò lưu giữ tri thức văn hoá dân tộc. 4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu: 4.1.1. Về mặt lí luận: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn của Việt Nam, người viết nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của phép so sánh và phân loại phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, đồng thời qua đó thấy được vai trò lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc của phép so sánh trong danh ngôn người Việt. 4.1.2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, người viết hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu danh ngôn về phương diện ngôn ngữ nói chung và phép so sánh nói riêng. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây: 1. Nghiên cứu và lựa chọn một số lí thuyết liên quan được dùng làm căn cứ lí luận cho đề tài; 2. Thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí đã định trước; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

3. Miêu tả, phân tích đối tượng nghiên cứu đã phân loại; 4. Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu được và rút ra kết luận. 5. Các phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: 5.1. Phương pháp thống kê, phân loại Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu, cụ thể ở đây là thông kê và phân loại những trường hợp sử dụng phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt trong nguồn tư liệu đã chọn. 5.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích đối tượng nghiên cứu và tổng kết các kết quả nghiên cứu. 5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh các câu danh ngôn về một số phương diện cụ thể khi cần. 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN – Về mặt lí luận: Đây là lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam về phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Nếu đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam nói riêng, trong văn học nói chung. – Về mặt thực tiễn Như đã nói ở phần mục đích của đề tài, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai muốn học tập và nghiên cứu về phép so sánh sử dụng trong danh ngôn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Kết quả khảo sát và phân loại phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam Chƣơng 3: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Khái quát về danh ngôn 1.1.1. Định nghĩa danh ngôn 1.1.1.1. Định nghĩa danh ngôn trong từ điển Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên ; H. 2010 ) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được người đời truyền tụng” [33,218]. Trong cuốn Từ điển Hán Việt (Nxb Khoa học xã hội; Đào Duy Anh chủ biên, năm 2003), các tác giả lại quan niệm: “Danh ngôn là lời nói minh chính, mọi người đều phục” [1,93]. Cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Đại học quốc gia TPHCM; Nguyễn Như Ý chủ biên, năm 2009) đưa ra định nghĩa về danh ngôn như sau: “Danh ngôn là câu nói ngắn gọn, sâu sắc của một nhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị xã hội hay nhà khoa học, văn nghệ sĩ nổi tiếng về con người và cuộc sống” [46,523]. Tóm lại, các định nghĩa về danh ngôn dẫn trên tuy có những điểm khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một điểm: Danh ngôn là những câu nói hay, nổi tiếng, có tính triết lí được người đời truyền tụng. 1.1.1.2. Quan điểm của luận văn về danh ngôn Các định nghĩa về danh ngôn vừa dẫn cho thấy có nhiều quan niệm về danh ngôn. Mỗi quan niệm đều dựa trên những tiêu chí, nội dung nhất định. Kế thừa và tiếp thu các quan niệm dẫn trên, luận văn này bước đầu đưa ra định nghĩa về danh ngôn như sau: Danh ngôn là những lời nói hay, có giá trị triết lý nhân sinh, được người đời ưa thích và truyền tụng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

11

Về hình thức, danh ngôn có thể thuộc nhiều thể loại như tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ… hoặc có khi là những câu nói có ý đẹp lời hay mang tính triết lý. Danh ngôn là sản phẩm trí tuệ của con người qua nhiều thế hệ sáng tạo đúc kết ra. Nó đã được hình thành trong quá trình lao động và tác động vào tự nhiên, các mối quan hệ cộng đồng xã hội đã “thai nghén” nảy sinh ra nó, rồi từ các mối quan hệ ấy kết hợp với quan sát tự nhiên, người ta phát hiện ra các quy luật và tiếp tục nhận xét, đánh giá, nâng lên tầm triết lý. 1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn Có thể nói ngay rằng, đến nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu sâu về vấn đề phân loại danh ngôn. Qua khảo sát các tuyển tập danh ngôn, có thể thấy các nhà sưu tầm đã phân loại danh ngôn dựa trên một số tiêu chí sau: – Phân loại danh ngôn dựa trên tiêu chí nguồn gốc xuất xứ: Đây là kiểu phân loại dựa trên nguồn gốc xuất hiện của các câu danh ngôn. Theo tiêu chí này, danh ngôn được phân thành các tiểu loại như: danh ngôn nước Anh, danh ngôn nước Pháp, danh ngôn nước Đức, danh ngôn Việt Nam, danh ngôn Trung Quốc… – Phân loại danh ngôn theo chủ đề, đề tài: Đây là kiểu phân loại dựa trên lĩnh vực, đề tài đời sống mà các lời danh ngôn phản ánh. Theo tiêu chí này, danh ngôn được chia làm rất nhiều loại nhỏ, như: danh ngôn về gia đình, danh ngôn về hạnh phúc, hôn nhân, tình yêu, anh em, bạn bè, lao động, học tập, cuộc sống,… Như vậy, có thể phân loại danh ngôn dựa theo hai tiêu chí cơ bản: đó là nguồn gốc xuất xứ và chủ đề, đề tài mà danh ngôn phản ánh. Trong luận văn này, những lời danh ngôn được đưa vào khảo sát nghiên cứu đều là danh ngôn Việt Nam. Nội dung, đề tài của các lời danh ngôn cũng rất đa dạng và phong phú, nó phản ánh tương đối toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực trong đời sống văn hóa vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

12

1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh 1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh” 1.2.1.1. Định nghĩa trong từ điển So sánh là một thao tác của tư duy. Đó là thao tác đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để nhìn thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. Phép so sánh được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: trong thơ ca, trong các ngành khoa học, trong sinh hoạt xã hội, v.v… Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Từ điển bách khoa – Viện Ngôn ngữ học; Hoàng Phê chủ biên ; H. 2010 ) thì so sánh là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [33,789]; Theo Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh (Nxb Văn hóa Thông tin; Song Dương, Đặng Thông chủ biên; H. 2010) thì so sánh là “xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước, phẩm chất” [7,382]. Tóm lại, các định nghĩa về so sánh dẫn trên tuy có khác nhau nhưng đều có điểm chung: so sánh là đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau để tìm ra điểm tương đồng hoặc khác biệt giữa chúng. Trên thực tế, ta thường gặp hai kiểu so sánh: – So sánh logic (so sánh luận lí); – So sánh tu từ. 1.2.1.2. Định nghĩa của một số nhà nghiên cứu khác: So sánh là một phương thức phổ biến ở mọi ngôn ngữ. Đây là một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, chẳng hạn: Vinoogradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Moorren với Phong cách học tiếng Pháp (1970). Những công trình này đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý thuyết và ứng dụng của phương thức so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo nghệ thuật.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

13

Phương thức so sánh cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học ở nước ta quan tâm. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi xuất hiện những công trình nghiên cứu tiếng Việt, thì so sánh tu từ cũng được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu. Xin được dẫn một số định nghĩa tiêu biểu về phép so sánh dưới đây: a) Định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc: Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa ra quan niệm về so sánh như sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung. Mục đích so sánh là để cụ thể hóa những sự vật trừu tượng, để người đọc dễ hiểu, dễ tưởng tượng hơn”[16,28]. Ở cuốn giáo trình này, ngoài nghiên cứu những biện pháp tu từ khác, tác giả còn bàn về hình thức biểu hiện của biện pháp tu từ so sánh. Có thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học ở Việt Nam nghiên cứu về các biện pháp tu từ nói chung và biện pháp tu từ so sánh nói riêng. b) Định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa: Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, hai tác giả này cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: ” So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [17,190]. Như vậy, trong định nghĩa trên, hai tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về so sánh tu từ mà còn đề cập đến hiệu quả nghệ thuật khi sử dụng phép so sánh. c) Định nghĩa của tác giả Nguyễn Thế Lịch: Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật tiếng Việt” (đăng trên Số phụ, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1988), tác giả đã đưa ra định nghĩa về so sánh như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hỏa mai, Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.

Tùng tùng trống đánh ngũ liên, Chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa Tay nâng chén thuốc, tay đèo múi ve

Bây giờ anh khỏi anh lành, Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi. Nhưng vì con cái họ lại một lần nữa cam chịu hẩm hiu.

Chàng ơi phụ thiếp làm rua Thiếp như cơm nguội đỡ xua đói bụng Thân em buôn bán cơ hàn vẫn vui. Thân em đi lẻ về côi một mình.

Thân em như chẽn lúa đòng đòng

Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai

Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa Thân em như Hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân Kẻ thì nói dở người thì khen ngon Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa. Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ruộng cày. Kẻ chài, người lưới biết vào tay ai? Ngoài tuy cay đắng nhưng trong ngọt bùi. Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay. Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng. Người thanh tham mỏng, kẻ thô tham dày. cớ sao anh chửi em vậy anh ơi,

Cớ sao lại trách em vậy hỡi anh.

Nay chìm mai nổi ngày mô cho thành? Phải chăng chàng thật là người yêu hoa? Lấy phải thằng chồng như đống cứt khô. Hết phương vùng vẫy biết nhờ nơi đâu. Khác nào như cái bung xung chui đầu. Lâu lâu anh bóp cho lây nỗi buồn. Ngược xuôi xuôi ngược theo chiều nước trôi.

Cái cối sần sùi xây nếp anh

Sầu đâu trĩu nhánh bên sông

Phận em con gái chờ anh trở về

Phận em con gái chờ anh trở về . Thân em vất vả trăm bề,

Tay dơ cũng quẹt, tay phung cũng chùi. Kẻ qua ngắt nhụy, người vào bẻ bông. Nằm trong chạn bếp… biết mèo nào tha. Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương. Không ăn có chịu, tiếng đồn oan chưa! Vì tình em nặng, mấy nghìn cũng mua. Sáng sáng anh đói, anh nhai đỡ lòng. Buồn thì anh nhổ, anh trồng rau răm. Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay. Mơ vào cửa phủ thấm vần thơ anh. Cha mẹ đánh mắng anh tình phụ tôi

Có thịt anh tình phụ xôi Có cam phụ quýt, có người phụ ta

Có quán tình phụ cây đa Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn. Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.

Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe. Gặp nơi trong đục ai may ai nấy nhờ…

Trở về làng cũ, học cày cho xong.

Rừng Trong Văn Học Việt Nam

Rừng trong văn học Việt Nam

Thái Công Tụng

1. Dẫn nhập

Con người từ thời cổ đại cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống: rừng đã là nơi cung cấp chỗ trú ẩn, chỗ nương tựa, chỗ săn bắn, vật liệu làm nhà.. Do đó con người tôn thờ cây như một cái gì linh thiêng, chứa đựng những linh hồn.

2. Vai trò của rừng.

Có thể nói rừng liên hệ đến con người qua 4 khía cạnh chính sau đây :

2.1 cung cấp :

-rừng cung cấp gổ củi: gổ làm bàn ghế giường tủ; củi nấu ăn, nung trong lò gạch, làm than .

– rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ củi như nấm, mật ong, măng tre, mây, hoa lan, dược thảo, trầm v.v. Người lính thú đời xưa ở các đồn hẻo lánh cũng chỉ dựa vào rừng m à sống:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thời canh điếm tối dồn việc quan

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

– rừng cung cấp thuốc trị bệnh

Xưa kia, con người nhờ các loại cây cỏ trong rừng để chữa bệnh vì cây cỏ có chất làm lành vết thương, giải nhiệt, giải độc, mụn nhọt, trị cảm cúm, trị ho .. Ngày nay, dù khoa học có tiến bộ nhưng rừng vẫn là nơi các thực vật cung cấp nguyên liệu để khảo cứu, trích các tinh dầu

Nạn sốt rét gây tàn phá làm chết rất nhiều sinh mạng. Cây quinquina (Cinchona sp) cho chất quinine và các thuốc trị sốt rét như chloroquine, quinacrine, primaquine đều từ quinine mà ra .

Trong quãng 3000 cây chứa các đặc tính chống ung thư thì có đến hơn 2000 cây từ rừng nhiệt đới .

2.2 rừng cho nhiều loại trái cây ăn được

Nhiều loài cây trong rừng có trái ăn được: sim, mồng quân, dâu rừng, trái giẻ (noyer; walnut), trái mơ ..

Trái sim có nhiều miền duyên hải Trung Việt:

Đói lòng ăn mớ trái sim

Nhịn ăn khát nước đi tìm người thương

Trái mơ cũng có trong thơ Nguyễn Bính :

Thơ thẩn đường chiều một khách thơSay nhìn xa rặng núi xanh lơ. Khí trời êm ả và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

2.3 điều hoà : rừng hút được chất CO2 và nhả ra oxy; rừng cản dòng nước lũ, giữ lại một phần lượng nước mưa và như vậy, giảm xói mòn, lũ lụt, giúp nước ngầm phong phú hơn. Trong thời kỳ biến đổi khí hậu như hiện nay mà thủ phạm là các khí thải CO2 do sự sử dụng các nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu hoả và hơi đốt thì rừng giúp giảm các khí đó vì với hiện tượng quang hợp, cây rừng có thể hút được các loại khí CO2. Thực vật rừng cũng có khả năng bốc và thoát hơi nước nên trong khí quyển có nhiều hơi nước bốc lên cao làm nguồn nước mưa . Nếu phá rừng thì mỗi khi mưa to, gió, bão, lại càng dễ bị lụt hơn . Lý do là vì nhờ cây rừng có thể giảm được sức mạnh của dòng chảy. Tại nhiều miền duyên hải nhiệt đới, có loại rừng ngập mặn với cây bần, cây đước. Loại rừng này giúp chận lại các trầm tích phù sa và cũng giúp cản trở dòng nước mặn ngoài biển vào nội điạ . Rừng ngập mặn che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: cua, tôm, cá, cá sấu và chim cò, khỉ, ong trên cây

Trong bài Lời nguyện của rừng, có những câu sau, đề cao vai trò đều hoà đọc ghi nhận :

Để ta sống, ta điều hòa mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi. 

Để ta sống, ta ngăn luồng vũ bão; chận cát bay làn gió bốc tung trời. 

Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian. 

Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thủy nộ lầm than. 

2.4 rừng đóng góp vào các giá trị văn hoá, như tâm linh, thẩm mỹ, giải trí, sức khoẻ và giáo dục

Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’

Các tôn giáo lớn luôn luôn nhắc nhở đến cây: cây bồ đề trong Phật giáo, rừng trúc ở đó Phật Thích Ca truyền đạo; cây sồi trong Thánh Kinh

Rừng có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của con người, và nhất là con người thời đ ại ngày nay . Với dân số tăng nhanh, với công nghiệp hoá, đô thị hoá, loài người đã mất đi không gian thiên nhiên, chỉ sống với cao ốc beton, chung đụng với ô nhiễm, với tiếng đ ộng nhà máy, tiếng động xe cộ, máy bay v.v. do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên. :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Lắm khi con người ngày nay sống hối hả ở đô thị cũng chỉ muốn những niềm vui đơn giản như đi dạo dọc theo hàng me xanh lướt thướt như trong câu thơ : Con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về., tìm lại chút bình yên thư thái

Vào rừng, thở không khí trong lành, nhìn sao ban đêm, nhìn suối, nghe nước róc rách, bướm lượn nhởn nhơ, chuồn chuồn, nghe côn trùng rỉ rả, mặt trăng lên, sao đêm nở đày trời, giúp ta tránh được các căng thẳng của cuộc sống máy móc đô thị, giúp ta quên đi những nôi nhọc nhằn của thể chất và của tâm linh, ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây (thơ Hồ Dzếnh), tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp.

Ta cũng thấy trước cảnh vật bao la của vũ trụ rằng con người chỉ là một thành phần nhỏ bé và từ đó cảm thấy khiêm tốn hơn .Mà khiêm tốn giúp cho con người đến đức tin chân thật và đức tin chân thật mới hưóng dẫn con người đến được nơi có Thượng Đế ngự trị dễ đi vào nội tâm hơn, cõi lòng lắng xuống .

Hãy đọc Bà Huyện Thanh Quan:

Dừng chân đứng lại :trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Chỉ có hai câu thơ cổ điển trên mà bao gồm mọi yếu tố môi sinh: nào là dừng chân trên đất (thổ quyển), nhìn trời tức mây trôi, gió thổi (khí quyển), nhìn non tức là núi có đá là căn nguyên của đất (thạch quyển), nhìn nước tức sông suối, biển (thủy quyển) và sinh vật, tức tác giả bài thơ (sinh quyển)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

đến những nương dâu bát ngát trong cảnh khi người vợ lính chiến xa chồng:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai !

Trong văn học dân gian, cũng nhiều ca dao tục ngữ đề cập đến rừng

Tình yêu trai gái cũng sử dụng thiên nhiên để so sánh:

Chim xa rừng thương cây nhớ cộí

Người xa nguời tội lắm người ơi

Nỏ thà không biết thì thôi

Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi, răng đành

Tình yêu trai gái đôi khi cũng mãnh liệt như trong hình ảnh này :

Yêu người như suối cuộn rừng sâu, như con tàu say gió v.v (bài Phượng Yêu)

Một môi trường hài hoà, êm ả giúp con người thảnh thơi trí óc để có thể có tư duy sáng tạo, tư duy thiền:

.. Thu ăn măng giá, đông ăn trúc

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắm

Nhìn xem phú qúy tựa chiêm bao

Chúng ta đang ở Quebec, thấy mùa thu với lá nửa vàng nửa đỏ, sau đó từ đầu tháng 10 trở đi là lá bắt đầu rụng: Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về

Lá rụng vào thu cũng là cảm xúc cho bao nhiêu nhạc sĩ, thi sĩ viết lên nhiều bài thơ, bài nhạc để đời :

Rừng thu thay lá mưa bay buồn rầu

Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào

Rừng thu lá úa em vẫn chưa về

Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ

Kiếp người cũng được ví như mùa thu với những chữ quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai trong bài Nhìn những mùa thu đi “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai”.

Thơ của Hoàng Ngọc Ẩn Rừng lá thay chưa cũng nói đến sự vô thường của kiếp người:

Anh đi rừng chưa thay lá

Anh về rừng lá thay chưa

Phố củ bây chừ xa lạ

hắt hiu đợi gió giao mùa

Khi nàng Kiều tiễn chân Thúc sinh về quê vợ, cụ Nguyễn Du đã lồng vào cảnh mùa thu:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Cũng khi trời vào thu thì nhiệt độ hạ thấp, nước ngầm trong đất bị đông lại nên thực vật phải thich nghi với sự thay đổi khí hậu bằng cách rụng lá, nhưng trước đó, lá cây từ từ chuyển màu từ xanh sang màu vàng, màu đỏ, –nhuốm màu quan san – như mọi rừng ôn đới có lá rụng (temperate deciduous forest ) ở Canada.

Loại rừng này có ở các vùng miền hạ lưu sông Dương Tử, sông Hoàng hà, nghĩa là các vùng khí hậu ôn đới . Loại rừng này cũng có nhiều bên Âu Châu (Pháp, Đức ..) và ngoài cây phong (tên Latin là Acer, họ Aceraceae), còn có nhiều loại cây khác như cây sồi (chêne; oak), cây sồi rừng (hêtre), cây tần bì (frêne; ash), cây lê đá (sorbier), cây đào gai (aubépine), cây hồ đào ( noyer; walnut); cây dẻ (chataignier; chesnut); cây dương (peuplier; poplar); cây du (orme; elm), cây dẻ (marronnier; common-horse chesnut). Loại rừng này hiện diện ở các vùng núi phía Montreal, Sherbrooke, Hull, Trois Rivieres) …Gần mặt đất, trong loại rừng ôn đới này có nhiều loài dương sĩ, thảm cỏ tươi, thảm cỏ mục. Động vật thì gặp các loài chồn, chim, sóc ..

Tưởng cũng cần nói thêm là trên thế giới, tùy theo khí hậu, ta có những loại rừng khác nhau. Vài ví dụ: tại Việt Nam, Indonesia, Mã Lai cũng như vùng Amazone bên Brésil, có rừng mưa nhiệt đới (tropical rainforest), có nhiều tầng cây con chằng chịt.

Cũng có loại rừng khô nhiệt đới (tropical seasonal forest) khi có mùa khô kéo dài như các rừng Đông Bắc Ấn độ, Đông Bắc Thái Lan.

Trên kia là nói về rừng ôn đới trong đó có cây phong là cây chiếm dạng ưu thế .Nhưng ở ven sông, thường có nhiều đất ẩm thì thực vật cảnh hay quần xã thực vật thường gặp là một loại rừng khác, có tên là rừng ở bờ nước (riparian forest) với những rặng liễu:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang 

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

(thơ Xuân Diệu)

hoặc cây liễu như trong câu Kiều:

Sông Tần một giải xanh xanh

Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

2.5 rừng có vai trò hỗ trợ như giúp tạo ra đất, làm nhiều khối đá đầu tiên vỡ ra . Thực vật với rễ cây có thể xuyên qua các khe nứt của đá và dần dà làm đá bể ra, tạo điều kiện dễ dàng cho đất hình thành ; rễ cây và vi sinh vật thải vào môi trường chất CO2 và các acid khác nhau để huỷ hoại các khoáng chất trong đá, giúp sự phong hoá dễ dàng hơn

3. Kết luận

Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu do sự phát thải  các khí độc của các nhà máy, xe cộ, kéo theo nhiều hệ quả như băng hà tan, nước biển dâng, bão lụt tăng thì vai trò bảo vệ môi tr ường lại càng quan trọng hơn .

Do đó, giáo dục môi sinh trong học đường rất cần thiết; những thơ văn, ca dao, tục ngữ đề cao vai trò của môi sinh, từ sông ngòi đến  thác nước sẽ giúp trẻ em học sinh hiểu nhanh hơn vai trò cûa con người trong các hệ sinh thái nhằm bảo vệ chung trái đất.Giáo dục  cho mọi người về sự cần thiết của niềm đồng cảm giữa người và vũ trụ, tình gắn bó giữa con người với thiên nhiên để con người yêu thêm thiên nhiên, tạo vật, tìm lại mây trời hiền hoà, màu xanh của nước và của  núi rừng, nói theo danh từ thời đại là green awareness và từ đó thấy sự cần thiết có một sự hài hoà giữa dân số và thiên nhiên, hài hoà giữa thiên nhiên  và phát triển kinh tế, một sự hài hoà mà chính hệ thống triết học Á Đông luôn luôn đề cao.

Thái Công Tụng

.

Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam

Bán gà ngày gió, bán chó ngày mưa: Ý của câu này khuyên rằng vào những ngày trở trời, mùa có gió heo may gà hay bị mắc bệnh toi; còn ngày mưa chó bị ướt lông nên xấu mã, nếu mang đi bán sẽ bất lợi.

Chó già, gà non: Chó già thịt nhiều, ít mỡ và không tanh nên ăn ngon; thịt gà non mềm và ăn ngon.

Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa: Đây là kinh nghiệm của dân gian về khả năng dự báo thời tiết của con gà.

Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm: Ý nói một khi không có người chỉ huy, cấp dưới dễ làm điều xấu, hoặc nếu không có chủ ở nhà, người hầu sẽ làm điều bậy.

Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ: Ý nói những thứ người đời thường ưa chuộng vì ngon, đẹp.

Cơm gà, cá gỏi hay đầu gà, má lợn: Là món ăn ngon, bổ và có ý khen người được dùng những món ăn này là người giàu có và sang trọng.

Đầu gà còn hơn đuôi phượng hay Đầu gà còn hơn đuôi trâu: Ý nói thà làm người đứng đầu một đơn vị nhỏ còn hơn làm quan to nhưng lại là người giúp việc của người khác.

Hóc xương gà, sa cành khế: Xương gà cứng và thường sắc nhọn nên nếu bị hóc sẽ khó lấy ra. Cành khế giòn dễ gãy, nếu leo xa rất nguy hiểm đến tính mạng… Vì vậy phải cẩn thận khi ăn thịt gà và trèo cây khế.

Khách đến nhà, chẳng gà thì vịt: Chỉ những người chủ nhà có tấm lòng hiếu khách.

Lờ đờ như gà ban hôm: Giống gà khi trời bắt đầu tối có tầm nhìn rất kém, nhất là vào ban đêm gà không chịu ánh đèn. Vì thế dân gian mới có câu nói quáng gà. Và nghĩa của câu này là chê những người chậm chạp, không hoạt bát.

Mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa (mỡ gà vàng, mỡ chó trắng): Kinh nghiệm dân gian dựa vào màu mây đoán mưa gió.

Ráng mỡ gà, có nhà thì chống: Kinh nghiệm chỉ hiện tượng có bão.

Vịt già, gà to: Ý nói vịt già còn ăn được, chứ thịt gà già vừa dai vừa dở.

Chó quen nhà, gà quen chuồng: Đây là hai con vật có đặc tính nhớ nhà chủ và quen chuồng, ý nói không sợ chúng đi lạc khi kiếm ăn.

Chó liền da, gà liền xương: Đây là hai đặc tính của hai con vật này. Nếu chó bị rách da thì chúng cũng sẽ sớm lành và con gà bị gãy xương cũng vậy.

Lợn nhà, gà chợ; Gà cựa dài thì rắn, gà cựa ngắn thì mềm; Cau hoa, gà giò; Vịt già, gà tơ; Gà lấm lưng, chó sưng đồ; Chó già, gà non; Ếch tháng ba, gà tháng bảy…: Đây là thời điểm các con vật này nếu đem làm thịt thì ăn rất ngon.

Chuồng gà hướng đông, cái lông chẳng còn: Nói về kinh nghiệm nuôi gà nếu làm chuồng cửa quay hướng đông hướng quanh năm có gió, mà gà ưa nóng nên dễ bệnh mà chết.

Chó ăn đá, gà ăn sỏi: Nơi đất đai cằn cỗi, trơ trọc và nghèo khổ.

Đẻ như gà: Gà là động vật đẻ nhiều, mỗi đợt từ 8-16 quả trứng. Ý nói ai đó đẻ nhiều và đẻ dày.

Trứng gà trứng vịt: Hai loại trứng suýt soát như nhau không thua kém là bao. Ý nói không nên so bì mà nên nhường nhịn nhau.

Ngủ gà ngủ vịt…: Chỉ người ngủ nhiều, dễ ngủ, chỗ nào và lúc nào cũng có thể ngủ được.

Con tông gà nòi: Chỉ người là con cháu gia đình có truyền thống học giỏi, tài cao.

Da trắng như trứng gà bóc: Chỉ người phụ nữ có nước da trắng và ngoại hình đẹp. 

Gà trống nuôi con: Người đàn ông góa vợ phải một mình nuôi con. Ở đây còn có ý nghĩa cảm thông về hoàn cảnh đối với người đàn ông góa vợ.

Vạ vịt chưa qua vạ gà đã đến: Chỉ ai đó liên tiếp gặp rủi ro, rắc rối, vừa thoát điều không may hay tai họa này, thì lại gặp điều không may, tai họa khác…

Mặt tái như gà cắt tiết: Chỉ người làm sai, làm điều xấu và bị phát hiện, bị bắt quả tang nên sự sợ hãi thể hiện rõ ra mặt.

 Đá gà đá vịt: Chỉ người nào đó thiếu trách nhiệm với công việc được giao, chỉ thỉnh thoảng mới ghé vào hoặc tham dự gọi là cho có mặt.

Đầu gà, đít vịt: Chỉ về sự cọc cạch, chắp nối, không đồng bộ, không tương hợp với nhau.

Hăng máu gà: Chỉ người nóng tính, thiếu suy nghĩ, cân nhắc, mà hễ cứ thấy điều không hài lòng là nổi nóng.

Lộp bộp như gà mổ mo: Chỉ sự bộp chộp không cân nhắc kỹ lưỡng, thiếu chín chắn trong suy nghĩ, nói năng.

Rễ cây trắng, cỏ gà trắng: Dự báo sắp tới sẽ có mưa.

Gà luộc hai lần hay Gà luộc lại, gái cải giá: Chỉ người phụ nữ lấy chồng lần thứ hai, chắc chắn tình cảm nhạt phai.

Gà què ăn quẩn cối xay: Chỉ người hèn kém chỉ biết làm ăn, kiếm chác nhỏ nhặt ở nơi quen thuộc, không biết nhìn xa trông rộng.

Ông nói gà, bà nói vịt: Ý nói trong một gia đình mà chồng nói một đường, vợ nói một nẻo, không ai giống ai.

T.H

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!