Xu Hướng 3/2024 # Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Người Nhật đã định hình Trà đạo thành đạo lý của dân tộc, một nghệ thuật sống được truyền tải qua việc thưởng lãm một tách trà. Trong khi đó, Việt Nam – một cường quốc cà phê nhất nhì thế giới, có hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới, có một bề dày lịch sử văn hóa thưởng lãm cà phê hàng trăm năm, nhưng đến nay, giá trị cà phê Việt Nam vẫn thuộc phân khúc thấp, chủ yếu xuất thô và chưa được định hình đúng vị thế vốn có của ngành, của quốc gia.

Với mong muốn đưa ngành cà phê Việt Nam lên một tầm cao mới, nâng cao giá trị cà phê không chỉ là một thức uống thông thường mà còn ở tầm mức cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật, cà phê tinh thần… đến cà phê triết đạo, xứng đáng với vị thế của cường quốc cà phê của thế giới – Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã dành thời gian và tâm huyết trong nhiều năm để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân loại để cà phê trở thành “Cà Phê Triết Đạo”.

Trong suốt hành trình sáng tạo và phát triển của Trung Nguyên Legend thì tinh thần dấn thân phụng sự cộng đồng luôn là hạt nhân xuyên suốt bằng nhiều chương trình hành động để Kiến tạo khát vọng lớn, Chí hướng lớn cho quốc gia; để xây dựng vị thế mới cho ngành cà phê Việt Nam trên bản đồ cà phê thế giới và trên Hành trình này, Trung Nguyên Legend mong muốn cùng chung tay với các nhà hoạch định sách lược quốc gia để Việt Nam sớm trở thành quốc gia hùng mạnh và ảnh hưởng toàn diện thế giới!

Người Nhật đã làm được! Người Việt mình cũng làm được và làm tốt hơn!

Xã hội cà phê tại Viên đã tạo nên bầu khí quyển tuyệt vời cho triết gia Ludwig Wittgenstein khởi xuất những tư tưởng mới góp phần vào sự đa dạng hóa dòng hợp lưu tri thức của thời đại “bùng nổ văn hóa”.

Là chính thể quân chủ Áo – Hung, thật khó để định danh rõ ràng về mặt địa lý hay sắc tộc tại quốc gia đa dân tộc này. Mặc dù, tiếng Đức chiếm ưu thế và trở thành ngôn ngữ chính nhưng vẫn thể hiện sự thẩm thấu và ảnh hưởng lẫn nhau ở nơi kết giao với ngữ hệ Ấn – Âu (Slav) và Roman, dần dần tạo thành tính liên tục văn hóa – lịch sử tới mức ngôn ngữ này bao trùm cả nước Áo với hai nền cộng hòa trong suốt thế kỷ 20. Do vậy, muốn tách riêng tính độc lập, thống nhất của nước Áo không thể tìm trong các lĩnh vực dân tộc, chính trị mà cần tìm ở “lĩnh vực tinh thần” trong triết học. Xuất phát từ lập trường phê bình ngôn ngữ của Bernard Bolcano nhằm đòi hỏi tôn trọng khác biệt dân tộc khi công nhận tính tương đối của ngôn ngữ với từng dân tộc khác nhau, triết học ngôn ngữ đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những khuynh hướng đặc trưng của tư duy Áo thời kỳ này. Và người người đưa triết học ngôn ngữ đạt đến đỉnh cao chính là Ludwig Wittgenstein.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống trong ngành công nghiệp, ban đầu Ludwig Wittgenstein nghiên cứu các bộ môn kỹ thuật để chuẩn bị trở thành kỹ sư. Thế nhưng, với niềm yêu thích với toán học và logic ngày càng lớn,  Ludwig Wittgenstein quan tâm nhiều hơn tới lĩnh vực triết học. Và mối quan tâm đó chỉ thực sự trỗi dậy khi ông làm quen và trò chuyện với các nhà triết học nơi hàng quán cà phê thành Viên trong thời gian giảng dạy tại một làng nhỏ vùng Hạ Áo.

Sinh hoạt trong cộng đồng trí thức gắn liền với các hàng quán cà phê tại Viên, không chỉ không gian cùng mối liên hệ với hội triết gia có ảnh hướng tới Ludwig Wittgenstein mà chính thức uống tuyệt vời này đã khai mở cảm hứng truy cầu những vấn đề triết học trong ông. Một tiên đề nổi tiếng của Ludwig Wittgenstein đã mở ra một cuộc điều tra triết học thú vị về vai trò của ngôn ngữ thông qua thưởng lãm cà phê: “Liệu bạn có thể miêu tả hương vị của cà phê?”. Xem xét nhiều trích dẫn về cà phê của vị văn hào Honozé de Balzac, ông nhận thấy mỗi trích dẫn lại đem đến những cảm nhận khác nhau: đôi khi cà phê là nguồn năng lượng thức tỉnh tâm trí, khi lại được nhắc đến như yếu tố giúp lấp đầy năng lượng, cân bằng cuộc sống, hoặc được ví như phương thức để hiểu được tâm hồn người thưởng lãm. Nhận thức rằng rất khó để nắm bắt sự đầy đủ của việc “trải nghiệm thưởng lãm cà phê”, Ludwig Wittgenstein đã đi đến tổng kết cuộc điều tra triết học thú vị của mình rằng không ngôn từ nào có thể miêu tả toàn diện, mà chỉ truyền đạt trải nghiệm của con người tại thời điểm nói. Đây trở thành một trong những tiên đề quan trọng bồi đắp nên sự hoàn chỉnh cho hệ thống tư tưởng triết học ngôn ngữ của ông và được truyền tải đầy đủ trong tác phẩm “Những tìm sâu triết học”. Tác phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc đánh dấu bước ngoặt sự phát triển của triết học Ludwig Wittgenstein giai đoạn hậu kỳ, khi ông tập trung vào việc tìm sâu các hiện tượng ngôn ngữ ở trong cách dùng sơ khai của chúng, đưa đến nhận thức rõ ràng về mục đích và chức năng của từ ngữ.

Tư tưởng này của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hàng loạt các trường phái triết học kế tiếp như chú giải học, thuyết hành vi ngôn ngữ tới chủ nghĩa hậu hiện đại và hậu thực chứng. Ludwig Wittgenstein đồng thời được công nhận là triết gia vĩ đại của thế kỷ 20 khi giải quyết những nan đề của triết học, bao gồm vấn đề xem xét lại bản chất của triết học và vấn đề ngôn ngữ như là một phương cách của con người tiếp cận thế giới và chính mình.

Trong chiều hướng đó, hàng quán cà phê tại Viên chính là nơi chốn giúp con người thấu hiểu bản chất đời sống, phát huy tính hiền giả tiềm ẩn trong mỗi người. Nơi đây đã góp phần quan trọng vào quá trình Ludwig Wittgenstein tìm ra mối liên hệ giữa thế giới (thực tại), tư tưởng và ngôn ngữ. Và hàng quán cà phê cũng trở thành một loại hình câu lạc bộ dân chủ, một tổ chức xã hội lý tưởng không thể thiếu trong giới trí thức thành Viên, tạo cơ hội cho họ gặp gỡ đàm thoại, tự do tranh luận, khơi dậy suy tưởng, hình thành nên làn sóng trào lưu tư tưởng thời đại “bùng nổ văn hóa”.

Stt Hay, Những Câu Nói Hay Liên Quan Đến Cà Phê Và Triết Lí Cuộc Sống

1, Nhiều người, không chịu được vị đắng của cà phê nên thường bỏ đường hoặc sữa cho bớt đắng. Tôi không cho đường hay sữa vào cà phê bởi tôi biết: phải nếm trải qua cay đắng mới cảm nhận được ngọt ngào đến lịm người. Cho dù vẫn tiếp tục phải uống cà phê đắng nhưng tôi vẫn không nản lòng vì dư vị ngọt ngào của nó – Bunny

2, Mỗi buổi sáng thức giấc, nếu không có tách cà phê tôi cảm thấy mình vô vị – Napoleon

3, Tôi không bao giờ cười vui cho đến khi có được ly cà phê của mình – Clark Gable

4, Một tách cà phê uống vào buổi sáng mang lại sự hưng phấn tuyệt vời mà không một tách cà phê nào khác dù là buổi chiều hay buổi tối có thể tạo ra được – Oliver Wendell Holmes

5, Cà phê tốt cho tài năng con người, còn thiên tài chỉ cần lời cầu nguyện – Ralph Waldo Emerson

6, Cà phê khiến ta mạnh mẽ, điềm đạm và thông thái – Jonathan Swifl

7, Cà phê thì phải đen như địa ngục, đắng như tử thần và ngọt ngào tựa tình yêu… – Charles Maurice de Talleyrand

8, Cà phê – thức uống yêu thích trong một thế giới văn minh – Thomas Jefferson

9, Tôi đo cuộc đời mình bằng những thìa cà phê – T.S Eliot

Stt hay, stt tâm trạng cà phê đắng và mưa

1, Ngồi ngắm mưa trong một góc quán nhỏ, nhâm nhi tách cà phê đắng thật khiến con người ta cảm thấy bình yên. Nhưng đâu phải ai cũng thích vị cà phê đắng, họ thường tìm đến những cảm giác ngọt ngào quyến rũ hơn… thường thì cà phê đắng chỉ giành cho những ai có nỗi buồn giống hương vị của nó…

2, Ôi! cafe đắng, sao dư âm để lại chát chúa, đậm sâu. Chiều mưa này, chỉ riêng em, cafe đắng. Em như ly cafe đắng, anh nhấp ngụm nhỏ rồi nhăn mặt kêu lên

3, Ngồi lặng thinh, quán vắng tanh, em một mình Chẳng còn anh nhưng vẫn kêu cafe đắng Cành hoa trắng mỏng manh, rụng trên phím cây dương cầm Như chính em buồn heo hắt những chiều mưa.

1, Cà phê tốt cho tài năng, nhưng thiên tài cần lời cầu nguyện.Coffee is good for talent, but genius wants prayer.

Ralph Waldo Emerson

2, Một ly cà phê ngon là phải vừa ngọt vừa đắng. Một tình yêu lý tưởng là một tình yêu vừa ngọt ngào, vừa đắng cay.

Khuyết danh

3, Đàn ông rất giống cà phê, bởi nếu là loại ngon sẽ làm bạn mất ngủ.

Khuyết danh

4, Cà phê không sặc sỡ để gây sự chú ý, không ngọt ngào để “xu nịnh cảm xúc”, mà nó tồn tại để mang lại cho chúng ta một kho tàng cần khám phá, một người dẫn lối để đi đến sự thanh tịnh.

Cà phê

5, Trong màu đen của cà phê tinh ý sẽ thấy được nét sóng sánh của màu nâu đỏ, sau vị đắng ngắm lòng là dư vị ngòn ngọt lạ kì của vị hương. Nhìn đời qua lăng kính phân kì sẽ thấy ngỡ ngàng sự hòa quyện của một tập hợp bao nhiêu là màu sắc, thoang thoảng trong kí ức bao trùm cả không gian những mùi vị của yêu thương.

Khuyết danh

6, “Cô muốn gì?” “Chỉ cà phê mà thôi. Cà phê đen – như linh hồn tôi.”“What do you want?” “Just coffee. Black – like my soul.”

Cassandra Clare

7, Cà phê không hỏi những câu hỏi ngu ngốc. Cà phê hiểu ta.Coffee doesn’t ask silly questions. Coffee understands.

Khuyết danh

8, Mỗi giọt cà phê rơi, thời gian như ngừng hẳn lại.

Khuyết danh

9, Cà phê khiến ta mạnh mẽ, nghiêm nghị và thông thái.Coffee makes us severe, and grave and philosophical.

Jonathan Swift

10, Đen tối như ác quỷ, nóng bỏng như địa ngục, trong lành như thiên thần, ngọt ngào như tình yêu.Black as the devil, hot as hell, pure as an angel, sweet as love.

Charles Maurice de Talleyrand

11, Cà phê không chỉ là một loại đồ uống; nó là thứ gì đó đang xảy ra. Không phải mốt thời thượng, mà giống như một sự kiện, một nơi để đến, nhưng không giống như một địa điểm, mà giống như nơi nào đó bên trong bản thân. Nó cho bạn thời gian, nhưng không phải thực sự là giờ và phút, mà một cơ hội để làm chính mình, và uống cốc thứ hai.Coffee is a lot more than just a drink; it’s something happening. Not as in hip, but like an event, a place to be, but not like a location, but like somewhere within yourself. It gives you time, but not actual hours or minutes, but a chance to be, like be yourself, and have a second cup.

Gertrude Stein

12, Cà phê đen, cà phê đắng… cà phê trong mắt nhiều người vẫn còn đó gợi lên nét hoài nghi về sự quyến rũ, và mối phân vân tự vấn sức hút mãnh liệt ấy có được từ nơi nao. Cuộc đời cũng là màu đen điểm thêm bao nhiêu là vị chua chát mặn đắng đến tê tái cõi lòng… thử hỏi tìm đâu màu hồng như bao người vẫn nghĩ và vị ngọt ngào biết nơi nào mới tìm được chút dư hương.

Khuyết danh

13, Tôi nên tự sát, hay nên uống một cốc cà phê?

Should I kill myself, or have a cup of coffee? Albert Camus

14, Cà phê đã trở thành một món ngon dành cho tâm hồn mỗi người, người tìm đến cà phê khi có những tâm sự, trăn trở, người tìm đến cà phê như tìm một nguồn cảm hứng sáng tạo trong công việc, người tìm đến cà phê đơn giản như một cách thưởng thức cuộc sống!

Khuyết danh

16, Tôi đo cuộc đời mình bằng những thìa cà phê. I have measured out my life with coffee spoons.

T. S. Eliot

17, Cà phê là thứ tốt nhất để giội lên bình minh.Coffee is the best thing to douse the sunrise with.

Drew Sirtors

18, Một tách cà phê uống vào buổi sáng mang lại sự hưng phấn tuyệt vời mà không một tách cà phê nào khác dù là buổi chiều hay buổi tối có thể tạo ra được.The morning cup of coffee has an exhilaration about it which the cheering influence of the afternoon or evening cup of tea cannot be expected to reproduce.

Oliver Wendell Holmes Sr

19, Nhiều người, không chịu được vị đắng của cà phê nên thường bỏ đường hoặc sữa cho bớt đắng. Tôi không cho đường hay sữa vào cà phê bởi tôi biết: phải nếm trải qua cay đắng mới cảm nhận được ngọt ngào đến lịm người. Cho dù vẫn tiếp tục phải uống cà phê đắng nhưng tôi vẫn không nản lòng vì dư vị ngọt ngào của nó.

Bunny

20, Chúng ta muốn làm nhiều chuyện; chúng ta không sung sức lắm. Chúng ta không có giấc ngủ ngon. Chúng ta hơi rầu rĩ. Cà phê giải quyết tất cả những rắc rối đó trong một tách ngon lành.We want to do a lot of stuff; we’re not in great shape. We didn’t get a good night’s sleep. We’re a little depressed. Coffee solves all these problems in one delightful little cup.

Jerry Seinfeld

21, Chừng nào vẫn còn cà phê trên thế giới, sao có thể quá tệ được chứ?As long as there was coffee in the world, how bad could things be?

Cassandra Clare

22, Đen như đêm, ngọt như tội lỗi.Black as night, sweet as sin.

Neil Gaiman

23, Thậm chí cà phê tồi cũng còn tốt hơn là không có cà phê.Even bad coffee is better than no coffee at all.

David Lynch

24, Phiêu lưu trong đời là tốt; sự nhất quán trong cà phê còn tốt hơn.Adventure in life is good; consistency in coffee even better.

Justina Chen

25, Tôi tin rằng con người làm được nhiều chuyện, không phải bởi vì chúng ta thông minh, mà bởi vì chúng ta có ngón tay để pha cà phê.I believe humans get a lot done, not because we’re smart, but because we have thumbs so we can make coffee.

Flash Rosenberg

26, Cuộc đời của chúng ta cũng như 1 tách cà phê. Nhưng đôi khi vì quá chạy theo những cái tách mà chúng ta bỏ lỡ cơ hội thưởng thức cà phê.

Khuyết danh

27, Với đủ cà phê, tôi cảm thấy như mọi chuyện đều có thể. Có nhiều chuyện rất có thể sẽ không thành, nhưng chúng khả thi.With enough coffee I feel as though all things are possible. Many of them are highly unlikely, but they are possible.

Stt Cà Phê Đắng, Câu Nói & Triết Lý Hay Về Cafe Cuộc Sống, Tình Yêu

Status & Câu Nói Hay Về Cafe Đắng

1. Sáng nay lại pha cà phê, trông có vẻ tiến bộ hơn những lần trước, cà phê tí tách rơi từng giọt chứ không xối xả như cơn mưa đầu mùa…

2. Những khi trời vừa dứt mưa, bầu không khí mát lạnh, vị cà phê dường như thấm hơn.

3. Người ta vẫn nói, uống cà phê không phải chỉ là thưởng thức một thứ ăn chơi, uống cà phê dần dần đã trở thành một nét văn hóa, để đẩy đưa câu chuyện, để lùi xa những phân cấp, để giải tỏa những muộn phiền và để tìm về những ký ức.

4. Uống một ly cafe, nếu thấy đắng, bạn có thể cho thêm đường và chấp nhận mất đi một phần hương vị của nó, nếu không thì đừng uống. Khi yêu, nếu thấy ngoài niềm vui vẫn có những đau khổ, buồn sầu, bạn có thể cố gắng chấp nhận như một điều hiển nhiên, nếu không thì đừng yêu.

5. Đắng café, đắng không lời. Đắng câu duyên lỡ, đắng đời nhau ra..

6. Cafe phin là cafe hảo hạng nhất. Nhưng cafe anh thích nhất là cafe được nếm trực tiếp trên môi em.

7. Có ti tỉ tì ti điều bí mật trong sâu thẳm trái tim của một cô gái. Cô có thể ngồi hàng giờ liền tâm tình với bạn bè qua điện thoại, e-mail, Facebook hay thậm chí là ở một quán cà phê nhỏ xinh nào đó. Nhưng có rất nhiều điều mong muốn be bé vẫn luôn được cất kín không thổ lộ bao giờ. Không phải vì cô không đủ can đảm để bày tỏ chúng. Mà chỉ đơn giản bởi vì : Cô là một cô gái. Và mọi cô gái đều xứng đáng được yêu thương trọn vẹn.

8. Trưởng thành là khi nhận ra, lượng đường trong ly cafe mình uống ngày càng ít dần. Cho đến khi không còn nữa.

9. Cuộc sống cũng giống như một ly café. Bạn ngồi bên cửa sổ, nhấc tách café lên… nhấp một ngụm… và chợt nhận ra rằng ly cafe chưa có đường. Rồi bởi vì ngại đứng dậy để lấy đường, bạn ngồi đó và uống ly café đắng. Khi ly café đã cạn, bạn mới phát hiện ra rằng đường đã không tan ra và dính ở đáy ly… Chúng ta mất quá nhiều thời gian để băn khoăn tại sao cuộc đời lại quá ảm đạm, nhạt nhẽo…, và tốn rất nhiều thời gian đi tìm kiếm sự ngọt ngào trong khi ta chỉ cần khuấy lên…

10. Cho đến trước khi đá tan hết, ly cafe sữa đá đã từng rất ngon.

11. Thích café dù biết tiền mua kem dưỡng da sẽ mắc hơn nhiều lần so với mấy ly café rẻ bèo. Thành thói quen, ngày nào không có café trong người lại ngầy ngà ngầy ngật, mắt mở không lên.

12. Cà phê thì có vị đắng. Nhưng vị đắng lại khiến ta “ngọt” lòng..

13. Cafe đen tuy đắng nhưng nguyên chất. Lời nói thật tuy mất lòng nhưng đáng để tin.

14. Rất ít khi uống cafe vì cafe rất đắng nhưng vị đắng của cafe lại làm người ta không quên được hương vị của nó…

15. Chỉ những người yêu cà phê đen đích thực, mới nhấm nháp được một chút ngọt ngào sau cái đắng.

16. Sài Gòn thì thất thủ, mình thì ngập ngụa với công việc… 😰… thèm Đà Lạt… thèm 1 ly cà phê sáng với tiết trời se se lạnh, chút nhạc Trịnh nhẹ và cảnh núi non xanh mượt trước mặt quá.

Dòng STT Ngắn Về Ly Cafe Đắng

17. Just coffee. Black – like my soul.” ― Cassandra Clare, City of Bones – Chỉ cà phê thôi. Đen – giống như linh hồn tôi.

18. As long as there was coffee in the world, how bad could things be?” ― Cassandra Clare, City of Ashes – Chừng nào có cà phê trên thế giới, những thứ tồi tệ như thế nào?

19. I’d rather take coffee than compliments just now.” ― Louisa May Alcott, Little Women – Tôi thích uống cà phê hơn là những lời khen cuộc sống.

20. Coffee is a way of stealing time that should by rights belong to your older self.” ― Terry Pratchett, Thud! – Cà phê là một cách để ăn cắp thời gian mà nên bởi quyền thuộc về bản thân cũ của bạn.

21. Adventure in life is good; consistency in coffee even better.” ― Justina Chen, North of Beautiful – Cuộc phiêu lưu trong cuộc sống là tốt; sự nhất quán trong cà phê thậm chí còn tốt hơn.

22. There are those who love to get dirty and fix things. They drink coffee at dawn, beer after work. And those who stay clean, just appreciate things. At breakfast they have milk and juice at night. There are those who do both, they drink tea.” ― Gary Snyder – Có những người thích bị bẩn và sửa chữa mọi thứ. Họ uống cà phê vào lúc bình minh, bia sau giờ làm việc. Và những người ở lại sạch sẽ, chỉ cần đánh giá cao mọi thứ. Vào bữa sáng, họ có sữa và nước trái cây vào ban đêm. Có những người làm cả hai, họ uống trà.

23. Come on, don’t you ever stop and smell the coffee?” ― Justina Chen, North of Beautiful – Thôi nào, đừng bao giờ dừng lại và ngửi thấy mùi cà phê?

24. Coffee is a way of stealing time which should by rights belong to your older self. – Terry Pratchet – Cà phê là một cách ăn cắp thời gian mà theo quyền của chính bạn.

25. To an old man a cup of coffee is like the door post of an old house – it sustains and strengthens him. – Old Bourbon Proverb – Đối với một ông già, một tách cà phê giống như bài cửa của một căn nhà cũ – nó duy trì và củng cố ông.

26. People say money can’t buy happiness. They Lie. Money buys Coffee, Coffee makes Me Happy! – Mọi người nói tiền không thể mua hạnh phúc. Họ nói dối. Tiền mua cà phê, cà phê khiến tôi hạnh phúc!

27. If this is coffee, please bring me some tea; but if this is tea, please bring me some coffee. Abraham Lincoln – Nếu đây là cà phê, hãy mang cho tôi một ít trà; nhưng nếu đây là trà, hãy mang cho tôi một ít cà phê.

28. Coffee has always been a significant part of my life. For me, it’s a chance to start my day and gather my thoughts – it’s fuel for my creative process. Connor Franta – Cà phê luôn là một phần quan trọng trong cuộc đời tôi. Đối với tôi, đó là một cơ hội để bắt đầu một ngày của tôi và thu thập suy nghĩ của tôi – đó là nhiên liệu cho quá trình sáng tạo của tôi.

29. Smell the roses. Smell the coffee. Whatever it is that makes you happy. Rita Moreno – Ngửi những bông hoa hồng. Mùi cà phê. Bất cứ điều gì khiến bạn hạnh phúc.

30. I like coffee because it gives me the illusion that I might be awake. – Tôi thích cà phê vì nó mang lại cho tôi ảo tưởng rằng tôi có thể tỉnh táo.

31. Happiness is actually found in simple things, such as taking my nephew around the island by bicycle or seeing the stars at night. We go to coffee shops or see airplanes land at the airport. Andrea Hirata – Hạnh phúc thực sự được tìm thấy trong những điều đơn giản, chẳng hạn như đưa cháu trai của tôi xung quanh đảo bằng xe đạp hoặc nhìn thấy các ngôi sao vào ban đêm. Chúng tôi đi đến quán cà phê hoặc xem máy bay hạ cánh tại sân bay.

32. My dream is to have a house on the beach, even just a little shack somewhere so I can wake up, have coffee, look at dolphins, be quiet and breathe the air. Christina Applegate – Ước mơ của tôi là có một ngôi nhà trên bãi biển, thậm chí chỉ là một cái lều nhỏ ở đâu đó để tôi có thể thức dậy, uống cà phê, nhìn cá heo, im lặng và hít thở không khí.

33. To me, the smell of fresh-made coffee is one of the greatest inventions. Hugh Jackman – Với tôi, mùi cà phê mới pha là một trong những phát minh vĩ đại nhất.

34. Once you wake up and smell the coffee, it’s hard to go back to sleep. Fran Drescher – Một khi bạn thức dậy và ngửi thấy mùi cà phê, thật khó để quay trở lại giấc ngủ

35. If I asked for a cup of coffee, someone would search for the double meaning. Mae West – Nếu tôi yêu cầu một tách cà phê, ai đó sẽ tìm kiếm ý nghĩa kép.

36. If I had a free afternoon, I would play music, sit in my backyard, and drink coffee. Aja Naomi King – Nếu tôi có một buổi chiều miễn phí, tôi sẽ chơi nhạc, ngồi ở sân sau và uống cà phê.

37. We want to do a lot of stuff; we’re not in great shape. We didn’t get a good night’s sleep. We’re a little depressed. Coffee solves all these problems in one delightful little cup. Jerry Seinfeld – Chúng tôi muốn làm rất nhiều thứ; chúng ta không có hình dạng tuyệt vời. Chúng tôi đã không có một giấc ngủ ngon. Chúng tôi hơi chán nản. Cà phê giải quyết tất cả những vấn đề này trong một cốc nhỏ thú vị.

38. A leaf fluttered in through the window this morning, as if supported by the rays of the sun, a bird settled on the fire escape, joy in the task of coffee, joy accompanied me as I walked. – Một chiếc lá rung rinh qua cửa sổ sáng nay, như thể được hỗ trợ bởi những tia nắng mặt trời, một con chim định cư trên ngọn lửa thoát, niềm vui trong công việc cà phê, niềm vui đi cùng tôi khi tôi bước đi.

39. I don’t drink tea or coffee. I’m like a child: I like fruit juices and sodas and creamy hot chocolate. Talulah Riley – Tôi không uống trà hay cà phê. Tôi giống như một đứa trẻ: Tôi thích nước ép trái cây và nước ngọt và sô cô la nóng kem.

40. I put instant coffee in a microwave oven and almost went back in time. Steven Wright – Tôi đặt cà phê hòa tan vào lò vi sóng và gần như quay ngược thời gian

Cà phê có rất nhiều loại, nhưng với thối quen của người Việt chúng ta thì cafe đen vẫn luôn được ưa chuộng, không pha sẳn mà phải được pha bằng phin ngay tại bàn. Có thế bạn mới cảm nhận được hết sự tinh túy bên trong từng giọt cafe rơi đến ngay cà tách cafe cũng không được khác. Và với những người uống cafe mà nói thì sống là phải chờ đợi. Chờ đợi không bao giờ là thiệt thòi, vì cuộc đời vốn chỉ lấy đi những bước chân bước vội chứ không bắt tội những bước chân biết nhường.

Các Bạn Đang Xem Bài Viết STT Cà Phê Đắng, Câu Nói & Triết Lý Hay Về Cafe Cuộc Sống, Tình Yêu Tại Danh Mục Câu Nói Hay Về Cuộc Sống của Blog chúng tôi Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé!

Triết Lý Cuộc Đời Thông Qua Những Câu Tiếng Trung ( P1 )

1.Bạn có thể dùng tình yêu để được cả thế giới

Bạn cũng có thể dùng hận thù đánh mất cả thế giới

你可众用爱得到全世界

你也可众用恨失去全世界

nǐ kě yǐ yòng ài dé dào quán shì jiè

nǐ yě kě yǐ yòng hèn shī qù quán shì jiè

2.Thành tựu lớn nhất của đời người không phải là tiền bạc,

Mà là có người nhớ bạn là ai.

伔生最大的成就不是金钱

而是有伔记得你是谁 .

Rénshēng zuìdà de chéngjiù bùshì jīnqián

Ér shì yǒurén jìde nǐ shì shuí

4. Cô đơn không song hành cùng với bạn từ khi sinh ra,

mà là bắt đầu từ giờ phút bạn đem lòng yêu một người.

孤单不是与生俱来,

而是由你爱上一个伔的那一刻。。。开始。

Gūdān bùshì yǔ shēng jù lái,

ér shì yóu nǐ ài shàng yīgèrén dì nà yīkè… Kāishǐ.

5. 朋友由一个缘字开始 Bạn bè bắt đầu từ một chữ DUYÊNPéngyǒu yóu yīgè yuán zì

凭着一个信字延续 Dựa vào một chữ TÍN mà tiếp tụckāishǐ Píngzhe yīgè xìn zì yánxù

靠一个心字长久 Nhờ vào một chữ TÂM mà lâu dàiKào yī ge xīn zì chángjiǔ

6. Người có thể ảnh hưởng tới tâm trạng của bạn,

Thì chắc người đó thật sự rất quan trọng trong trái tim bạn 可众影响你心情的伔

在你心里可能真的很重要吧

Kěyǐ yǐngxiǎng nǐ xīnqíng de rén

zài nǐ xīnlǐ kěnéng zhēn de hěn zhòngyào ba

7. Người bạn sợ nhất không phải là người khác mà là chính bạn.

Kẻ địch lớn nhất của bạn là chính bạn ,chứ không phải là ai khác.

你最怕的伔不是别伔, 而是你自己,

你最大的敌伔是自己, 而不是别伔

Nǐ zuì pà de rén bùshì biérén, ér shì nǐ zìjǐ,

nǐ zuìdà de dírén shì zìjǐ, ér bùshì biérén.

8. Đừng tự ti, không tự cao , hãy tự tin

Vạn vật đan trong quá trình thay đổi.

别自卑,勿自高,请自信,

万物正在变化中。

Bié zìbēi, wù zì gāo, qǐng zìxìn,Wànwù zhèngzài biànhuà zhōng.

Tớ không hứa tớ sẽ làm cho câu cười… nhưng tớ có thể khóc cùng cậu

Bởi chúng ta là bạn bè mà, và tớ nguyện chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn của cậu.

Đừng cảm thấy đó là phiền phức nhé, mà đó chính là tình ban…

Rúguǒ yǒu yītiān nǐ xiǎng kū, jiù gěi wǒ dǎ diànhuà ba!

Wǒ wúfǎ xǔnuò ràng nǐ xiào, dànshì wǒ kěyǐ gēn nǐ yīqǐ kū,

yīnwèi wǒmen shì péngyǒu, suǒyǐ wǒ yuànyì fēnxiǎng nǐ de bēishāng yǔ huānxiào,

bùyào juédé zhè shì dǎrǎo, zhè shì yǒuyì!

11. Có 1 tình yêu

Suốt trọn cuộc đời

Không mong báo đáp

Đó chính là tình mẹ

Khi ta vẫn chưa sinh ra đời

Người đã luôn yêu thương , luôn bảo vệ ta

Thế gian không gì sánh được

Tình yêu của mẹ là đẹp nhất !!!

有一种爱

一生一世,都不会求回报,

那就是母亲的爱

在你还没出生时,

她就一直深爱着,保护着你 ,

世间没有能与其相比

母亲的爱最美!

Yǒu yīzhǒng ài

yīshēng yīshì, dōu bù huì qiú huíbào,

nà jiùshì mǔqīn de ài < 3!

Zài nǐ hái méi chūshēng shí,

tā jiù yīzhí shēn àizhe, bǎohùzhe nǐ,

shìjiān méiyǒu néng yǔqí xiāng bǐ

mǔqīn de ài zuìměi!

12. 幸福五大原则:Xìngfú wǔdà yuánzé:Năm nguyên tắc lớn để hạnh phúc

心中无恨;Xīnzhōng wú hèn; Trong lòng không thù hận

脑中无忧;Nǎo zhōng wú yōu; Trong đầu không ưu phiền

生活简单;Shēnghuó jiǎndān; Cuộc sống hãy đơn giản

多些伔出;Duō xiē fùchū; Bỏ ra nhiều một chút

少些期待。Shǎo xiē qídài. Mong chờ/ kỳ vọng ít một chút

13. Tất cả mọi người đều muốn được hạnh phúc.

Không muốn gánh vác những đau khổ.

Nhưng (thói đời) nếu không có chút mưa,

Thì làm sao có được cầu vồng đây ?

Suǒyǒu rénDōu xiǎngdédào xìngfúBù yuàn chéngdān tòngkǔDànshì bùxià diǎn xiǎoyǔNǎ lái de cǎihóng ne

14. Bạn gái tức giận nên dỗ dành cô ý,Bạn trai tức giận nên nhịn anh ý.Bạn gái ghen nên ôm cô ý,Bạn trai ghen nên hôn anh ý.Bạn gái khóc rồi nên trêu đùa cô ý,Bạn trai khóc nên giúp đỡ anh ý.Bạn gái mệt rồi nên cõng cô ý,Bạn trai mệt rồi nên đỡ anh ý.Bạn gái sai rồi nên tha thứ cô ý,Bạn trai sai rồi nên lượng thứ anh ý.Sinh nhật của bạn gái nên nhớ lấy,Sinh nhật của bạn trai nên hiểu nó.Trai gái từ xa lạ đến gặp nhau rồi quen biết và rồi yêu thương nhau,Chỉ có yêu và tôn trọng nhau là sẽ luôn được cùng luôn bên nhau __

女友生气要哄她,男友生气要忍伒;女友吃醋要抱她,男友吃醋要吻伒;女友哭了要逗她,男友哭了要陪伒;女友累了要背她,男友累了要扶伒;女友错了要原谅,男友错了要体谅;女友生日要记得,男友生日要懂得;男女由陌生到相逢相识相恋相爱,只因爱和尊重是相互相依相偎的嘛__

Nǚyǒu shēngqì yào hōng tā, nányǒu shēngqì yào rěn tā;Nǚyǒu chīcù yào bào tā, nányǒu chīcù yào wěn tā;Nǚyǒu kūle yào dòu tā, nányǒu kūle yào péi tā;Nǚyǒu lèile yào bèi tā, nányǒu lèile yào fú tā;Nǚyǒu cuòle yào yuánliàng, nányǒu cuòle yào tǐliàng;Nǚyǒu shēngrì yào jìde, nányǒu shēngrì yào dǒngde;Nánnǚ yóu mòshēng dào xiāngféng xiāngshí xiāng liàn xiāng’ài,Zhǐ yīn ài hé zūnzhòng shì xiānghù xiāngyī xiāng wēi de ma

15. Loài người vì kiếm tiền,họ hy sinh sức khỏe.Cũng lại vì hồi phục thân thể,họ hy sinh tiền của.Sau đó,bởi lo lắng cho tương lai,họ không có cách nào hưởng thụ hiện tại.Cứ như thế,họ không còn cách nào sống cho tiếp theo.Lúc sống,họ quên mất là cuộc đời rất ngắn.Lúc chết,họ mới nhận ra rằng họ chưa từng được sống tốt.Ông trời ơi….thật đáng tiếc thay…

伔类为了赚钱,伒牺牲健康。又为了修复身体,伒牺牲钱财。然后,因担心未来,伒无法享受现在。就这样,伒无法活在当下。活着时,伒忘了生命是短暂的。死时,伒才发现伒未曾好好地活着。天啊。。。真可惜唷。。。

Rénlèi wèile zhuànqián, tā xīshēng jiànkāng.Yòu wèile xiūfù shēntǐ, tā xīshēng qiáncái.Ránhòu, yīn dānxīn wèilái, tā wúfǎ xiǎngshòu xiànzài.Jiù zhèyàng, tā wúfǎ huó zài dāngxià.Huózhe shí, tā wàngle shēngmìng shì duǎnzàn de.Sǐ shí, tā cái fāxiàn tā wèicéng hǎohǎo de huózhe.Tiān a. . . Zhēn kěxí yō. . .

17. Nếu mình không yêu người ấy, thì cũng đừng đeo bám như sam, hãy để cho người khác có cơ hôi để yêu người ấy.Còn nếu người ấy bỏ rơi ta, thì ta cũng hãy tạo cho mình cơ hội để yêu người khác.Có những thứ mà ta rất thích nhưng hoàn toàn lại không thuộc về ta, có những thứ mà ta không muốn rời xa nhưng rồi số phận an bài lại không thuộc về ta.

如果你不爱一个伔,请放手,好让别伔有机会爱她。如果你爱的伔放弃了你,请放开自己,好让自己有机会爱别伔。有的东西你再喜欢也不会属於你的,有的东西你再留恋也注定要放弃的。

Rúguǒ nǐ bù ài yīgèrén, qǐng fàngshǒu, hǎo ràng biérén yǒu jīhuì ài tā.Rúguǒ nǐ ài de rén fàngqìle nǐ, qǐng fàng kāi zìjǐ, hǎo ràng zìjǐ yǒu jīhuì ài biérén.Yǒu de dōngxi nǐ zài xǐhuan yě bù huì shǔyú nǐ de, yǒu de dōngxi nǐ zài liúliàn yě zhùdìng yào fàngqì de.

18. Cái không thích thì chớ nên gỉa vờ,Thứ không vừa ý thì đừng có miễn cưỡng,

Cuộc sống vỗn đã không dễ dàng như thế,Hà tất phải làm khổ chính mình.

不喜欢的就不要假装不适合的就不要勉强

生活已经那么不容易了何必再辛苦自己

Bù xǐhuān de jiù bùyào jiǎzhuāngbù shìhé de jiù bùyào miǎnqiáng

shēnghuó yǐjīng nàme bù róngyìlehébì zài xīnkǔ zìjǐ

19. Nếu như bạn đủ dũng cảm để nói lời tạm biệt,thì cuộc sống sẽ tặng thưởng bạn một sự khởi đầu mới.

如果你足够勇敢说再见,生活便会奖励你一个新的开始。

Rúguǒ nǐ zúgòu yǒnggǎn shuō zàijiàn,Shēnghuó bian huì jiǎnglì nǐ yīgè xīn de kāishǐ.

20. Khoảnh khắc hạnh phúc nhất của một con người,

Chính là lúc tìm đúng được đối tượng(cần tìm),

Anh(cô) ta phục tùng thói quen của bạn,

Đồng thời yêu mọi thứ của bạn.

一个伔最幸福的时刻,

就是找对了伔,

伒(她)伔容你的习惯,

并爱着你的一切。

Ludwig Wittgenstein – Những Câu Văn Trích Tuyển

Ludwig Wittgenstein (1889–1951) theo công luận là một trong ba triết gia quan trọng nhất của thế kỉ 20 vừa qua. Hai triết gia kia là: Martin Heidegger (1889–1976) và Jacques Derrida (1930–2004). Tác phẩm của ba triết gia này rất độc đáo và có ảnh hưởng cực lớn trong mọi địa hạt cho tới nay. Wittgenstein là triết gia chuyên về luận lí toán học và triết học về ngôn ngữ. Cũng theo công luận hễ ngôn ngữ nào và quốc gia nào chưa dịch thuật và nghiên cứu về ba triết gia này thì chưa bước vào triết học đương đại cùng với cả thế giới. Đặc biệt có ba cái mốc.

Với Wittgenstein là tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus, chỉ vỏn vẹn có 75 trang, công bố đầu tiên bằng tiếng Đức năm 1918.

Tác phẩm trụ cột của Heidegger là Sein und Zeit (Hữu thể và Thời gian) (1927) bằng tiếng Đức gồm 2 phần, phần đầu đăng tải trên Chuyên san Biên niên về Triết học và nghiên cứu Hiện tượng luận do vị thầy của Heidegger là Edmund Husserl chủ biên. Phần sau cho tới khi tác giả mất không hề được xuất bản.

Derrida là một tác giả hết sức phồn thực nhưng năm xuất hiện kì diệu của ông là 1967 khi cho ra mắt cùng loạt 3 tác phẩm đầu tiên: đó là De la grammatologie (Luận về văn tự học), La Voix et le Phénomène (Tiếng nói và Hiện tượng), L’Écriture et la différence (Văn tự và dị biệt).

Tác phẩm của cả ba triết gia này đều vô cùng súc tích, độc đáo và khó khăn đối với người đọc, kể cả các triết gia, vì tính chất cách mạng, sáng tạo, giải cấu trúc và phê phán mấy thiên niên kỉ triết học của phương Tây, đặc biệt là về bản thể luận tức siêu hình học, tri thức luận, nền tảng của luận lí và triết học về ngôn ngữ.

Năm nay 2024, đúng 100 năm sau khi tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus ra đời, công chúng Việt nam đã có bản dịch đầu tiên được xuất bản của dịch giả Trần Đình Thắng do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Côngti sách Domino cùng liên kết xuất bản và phát hành.

  

Câu 1–30

“A serious and good philosophical work could be written consisting entirely of jokes.” “Một tác phẩm triết học nghiêm túc và tốt có thể được viết gồm toàn những truyện cười.”

“The limits of my language means the limits of my world.” “Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi có nghĩa là những giới hạn của thế giới của tôi.”

“I don’t know why we are here, but I’m pretty sure that it is not in order to enjoy ourselves.” “Tôi không biết tại sao chúng ta ở đây, nhưng tôi khá chắc chắn rằng nó không phải để chúng ta tự sướng.”

“Whereof one cannot speak, thereof one must be silent.” “Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.”

“Hell isn’t other people. Hell is yourself.” “Địa ngục không phải là kẻ khác. Địa ngục là tự thân bạn.” [câu này để trả lời cho câu của Jean-Paul Sartre: ‘L’Enfer, c’est les autres.’ (‘Địa ngục, đó là những kẻ khác.’)]

“The real question of life after death isn’t whether or not it exists, but even if it does what problem this really solves.” “Câu hỏi thực sự về sự sống sau cái chết không phải rằng là nó tồn tại hay không, nhưng ngay cả nếu nó quả tồn tại, điều này thực sự giải quyết vấn đề gì.”

“Nothing is so difficult as not deceiving oneself.” “Không gì khó khăn cho bằng không tự lừa gạt bản thân.”

“I am my world.” “Tôi là thế giới của tôi.”

“If people never did silly things nothing intelligent would ever get done.”“Nếu người ta chẳng bao giờ làm những điều ngu ngốc thì chẳng có gì thông minh được làm bao giờ cả.”

“Only describe, don’t explain.”“Chỉ mô tả, đừng giải thích.”

“A man will be imprisoned in a room with a door that’s unlocked and opens inwards; as long as it does not occur to him to pull rather than push.” “Một người sẽ bị nhốt trong một căn buồng với một cửa không khoá và mở vào phía trong; chừng nào kẻ đó không nảy ra ý là kéo thay vì đẩy.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“If we take eternity to mean not infinite temporal duration but timelessness, then eternal life belongs to those who live in the present.” “Nếu chúng ta coi vĩnh hằng (eternity) không có nghĩa là sự trường kì vô hạn về thời gian mà là sự vô thời (timelessness), khi ấy đời sống vĩnh hằng thuộc về những ai sống trong hiện tại.” [bản tiếng Anh Tractatus Logico-Philosophicus 6.4311 (Luận văn luận lí–triết học) 6.4311 của Pears và McGuinness (1961)]

“Death is not an event in life: we do not live to experience death. If we take eternity to mean not infinite temporal duration but timelessness, then eternal life belongs to those who live in the present. Our life has no end in the way in which our visual field has no limits.”“Cái chết không phải là một sự cố trong đời sống: chúng ta không sống để trải nghiệm cái chết. Nếu chúng ta coi vĩnh hằng (eternity) không có nghĩa là sự trường kì vô hạn về thời gian mà là sự vô thời (timelessness), khi ấy đời sống vĩnh hằng thuộc về những ai sống trong hiện tại. Sự sống của chúng ta không có kết thúc theo cung cách trong đó thị trường của chúng ta không có giới hạn.”

“I am sitting with a philosopher in the garden; he says again and again ‘I know that that’s a tree’, pointing to a tree that is near us. Someone else arrives and hears this, and I tell him: ‘This fellow isn’t insane. We are only doing philosophy.”“Tôi đang ngồi với một triết gia trong vườn; người đó nói đi nói lại ‘Tôi biết rằng kia là một cái cây’, trong lúc chỉ về một cái cây ở gần chúng tôi. Một người khác tới và nghe thấy điều này, tôi bảo người đó: ‘Bạn này không mất trí. Chúng tôi chỉ đang làm triết học.’” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

“Don’t for heaven’s sake, be afraid of talking nonsense! But you must pay attention to your nonsense.”“Chớ sợ nói điều vô nghĩa! Nhưng bạn phải chú ý đến sự vô nghĩa của bạn.”

“The problems are solved, not by giving new information, but by arranging what we have known since long.”“Những vấn đề được giải quyết, không phải bằng sự cho thông tin mới, mà bằng sự sắp xếp những gì chúng ta đã biết từ lâu.” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“Not how the world is, but that it is, is the mystery.”“Không phải rằng thế giới tồn tại ra sao, mà rằng nó tồn tại, là sự bí nhiệm.”

“Never stay up on the barren heights of cleverness, but come down into the green valleys of silliness.”“Chớ lưu lại trên những chỏm cao cằn cỗi của sự khôn khéo, nhưng hãy đi xuống vào những thung lũng xanh tươi của sự ngu ngốc.”

“Philosophy is a battle against the bewitchment of our intelligence by means of language.”“Triết học là một cuộc chiến đấu chống lại sự mê hoặc của trí khôn chúng ta bằng phương tiện ngôn ngữ.” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“We are asleep. Our Life is a dream. But we wake up sometimes, just enough to know that we are dreaming.”“Chúng ta đang ngủ. Đời sống chúng ta là một giấc mơ. Nhưng đôi khi chúng ta thức giấc, chỉ vừa đủ để biết rằng chúng ta đang mơ.”

“How small a thought it takes to fill a life.”“Một tư tưởng nhỏ bé xiết bao để làm đầy một đời sống.”

“If you and I are to live religious lives, it mustn’t be that we talk a lot about religion, but that our manner of life is different. It is my belief that only if you try to be helpful to other people will you in the end find your way to God.”“Nếu bạn và tôi sống đời đạo hạnh, chẳng cần phải là chúng ta trò chuyện nhiều về tông giáo nhưng là cách sống của chúng ta khác biệt. Niềm tin của tôi là chỉ nếu bạn gắng sức giúp ích cho những người khác, rốt ráo bạn mới tìm được đường lối của bạn tới Thượng đế.”

“We feel that even if all possible scientific questions be answered, the problems of life have still not been touched at all.”“Chúng ta cảm nhận rằng thậm chí nếu mọi câu hỏi khoa học khả dĩ đều được trả lời, những vấn đề của sự sống vẫn còn chưa hề được chạm tới.”

“To imagine a language is to imagine a form of life.”“Tưởng tượng ra một ngôn ngữ là tưởng tượng ra một hình thức của sự sống.”

“I act with complete certainty. But this certainty is my own.”“Tôi hành động với sự đoan chắc trọn vẹn. Nhưng sự đoan chắc này là của riêng tôi.” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

“If anyone is unwilling to descend into himself, because this is too painful, he will remain superficial in his writing. . . If I perform to myself, then it’s this that the style expresses. And then the style cannot be my own. If you are unwilling to know what you are, your writing is a form of deceit.”“Nếu bất cứ kẻ nào không sẵn lòng để đi xuống vào tự thân, bởi điều này quá đau đớn, kẻ đó sẽ vẫn là hời hợt trong văn viết của mình… Nếu tôi thi hành với tự thân tôi, khi ấy chính điều này văn phong biểu lộ. Và khi ấy văn phong không thể là của chính tôi. Nếu bạn không sẵn lòng biết bạn là gì, văn viết của bạn là một hình thức của sự lừa gạt.”

“When we can’t think for ourselves, we can always quote”“Khi chúng ta không thể suy nghĩ cho chính mình, chúng ta luôn luôn có thể trích dẫn.”

“What can be shown, cannot be said.” “Điều gì có thể phô bày, không thể nói lên.”

“It is a dogma of the Roman Church that the existence of God can be proved by natural reason. Now this dogma would make it impossible for me to be a Roman Catholic. If I thought of God as another being like myself, outside myself, only infinitely more powerful, then I would regard it as my duty to defy him.”“Một giáo điều của Giáo hội La mã là rằng sự tồn tại của Thượng đế có thể chứng minh bằng lí lẽ tự nhiên. Bây giờ giáo điều này khiến cho tôi không thể là một người Công giáo La mã. Nếu tôi nghĩ về Thượng đế như một hữu thể khác giống như tự thân tôi, bên ngoài tự thân tôi, chỉ vô cùng quyền lực hơn, khi ấy hẳn tôi sẽ coi bổn phận của mình là thách thức ông ta.”

 “At the core of all well-founded belief lies belief that is unfounded.”“Ở cốt lõi của mọi niềm tin có cơ sở tốt có nằm niềm tin không có cơ sở.” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

Câu 31–60

“For an answer which cannot be expressed the question too cannot be expressed. The riddle does not exist. If a question can be put at all, then it can also be answered.”“Đối với một câu trả lời không thể biểu lộ câu hỏi cho nó cũng không thể biểu lộ.

Thai đố không tồn tại.

Nếu một câu hỏi có hề được đặt ra, khi ấy nó cũng có thể được trả lời.”

“What is troubling us is the tendency to believe that the mind is like a little man within.”“Cái gây rối cho chúng ta là khuynh hướng tin rằng tâm trí giống như một con người tí hon ở bên trong.”

“Ethics and aesthetics are one.”“Đạo đức học và mĩ học là một.”

“The world of the happy is quite different from that of the unhappy.”“Thế giới của những kẻ hạnh phúc hoàn toàn khác biệt với thế giới của những kẻ không hạnh phúc.”

“Language disguises the thought; so that from the external form of the clothes one cannot infer the form of the thought they clothe, because the external form of the clothes is constructed with quite another object than to let the form of the body be recognized.”“Ngôn ngữ nguỵ trang tư tưởng; vậy nên từ hình thức bên ngoài của quần áo người ta không thể suy ra hình thức của tư tưởng mà chúng trang phục, bởi vì hình thức bên ngoài của quần áo được kiến thiết với một mục tiêu hoàn toàn khác hơn là để hình thức của thân thể được nhận biết.”

“Language disguises thought.”“Ngôn ngữ nguỵ trang tư tưởng.”

“An honest religious thinker is like a tightrope walker. He almost looks as though he were walking on nothing but air. His support is the slenderest imaginable. And yet it really is possible to walk on it.”“Một nhà tư tưởng tông giáo lương thiện giống như một người bước đi trên dây căng. Người đó hầu như thể đang bước trên không có vật gì ngoại trừ không khí. Sự chống đỡ của y là cái mảnh mai nhất có thể tưởng tượng ra được. Thế nhưng vẫn là thực sự có thể bước đi trên nó.”

“When you are philosophizing you have to descend into primeval chaos and feel at home there.”“Khi bạn đang triết lí bạn phải hạ xuống vào sự hỗn mang tối sơ và cảm thấy tự tại ở đó.”

“Don’t think, but look! (PI 66)”“Đừng nghĩ, mà hãy nhìn! (Philosophical Investigations 66 [Những điều tra triết học 66])”

“Philosophers are often like little children, who first scribble random lines on a piece of paper with their pencils, and now ask an adult ‘What is that?”“Các triết gia thường giống như những trẻ con, đầu tiên nguệch ngoạc những đường ngẫu nhiên trên một mảnh giấy bằng bút chì, và bây giờ hỏi một người lớn ‘Cái đó là gì?’.” [trích từ tác phẩm Philosophical Occasions: 1912–1951(Những dịp triết học: 1912–1951)]

“A picture held us captive. And we could not get outside it, for it lay in our language and language seemed to repeat it to us inexorably.”“Một hình ảnh kềm giữ chúng ta. Và chúng ta không thể ra ngoài nó, bởi nó nằm trong ngôn ngữ của chúng ta và ngôn ngữ dường như lặp lại nó với chúng ta một cách không thể nài nỉ.”

“You can’t think decently if you’re not willing to hurt yourself”“Bạn không thể suy nghĩ đàng hoàng nếu bạn không sẵn lòng làm đau tự thân.”

“If you tried to doubt everything you would not get as far as doubting anything. The game of doubting itself presupposes certainty.”“Nếu bạn cố nghi ngờ mọi thứ bạn sẽ không đi xa cho bằng nghi ngờ bất cứ thứ gì. Trò chơi nghi ngờ chính nó giả thiết trước sự đoan chắc.” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

“If in life we are surrounded by death, then in the health of our intellect we are surrounded by madness.”“Nếu trong cuộc sống chúng ta bị bao quanh bởi cái chết, vậy trong sự khang kiện của trí tuệ chúng ta chúng ta bị bao vây bởi sự điên.”

(không có)

“Sometimes, in doing philosophy, one just wants to utter an inarticulate sound.”“Đôi khi, trong khi làm triết học, chúng ta chỉ muốn thốt ra một âm thanh chẳng thông.”

“The mystical is not how the world is, but that it is.”“Cái huyền bí không phải là thế giới hiện hữu cách sao, mà là rằng nó hiện hữu.”

“Hegel seems to me to be always wanting to say that things which look different are really the same. Whereas my interest is in showing that things which look the same are really different. I was thinking of using as a motto for my book a quotation from King Lear: ‘I’ll teach you differences’. … ‘You’d be surprised’ wouldn’t be a bad motto either.”“Hegel đối với tôi dường như luôn luôn muốn nói rằng những sự vật xem ra khác biệt thực sự là cùng thứ. Trong khi đó mối quan tâm của tôi là phô ra rằng những sự vật xem ra cùng thứ thực sự là khác biệt. Tôi đã nghĩ đến việc dùng một tiêu ngữ cho cuốn sách của tôi là một câu trích từ vở kịch Vua Lear [của Shakespeare]: ‘Ta sẽ dạy các ngươi những sự khác biệt’. … ‘Các ngươi nên bị ngạc nhiên’ cũng không hẳn là một tiêu ngữ tồi.”

“Logic takes care of itself; all we have to do is to look and see how it does it.”“Luận lí tự quản về chính nó; tất cả những gì chúng ta phải làm là nhìn và thấy cách nó làm việc đó ra sao.”

“Wovon man nicht sprechen kann, darüber muß man schweigen.”“Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.”

“This is how philosophers should salute each other: ‘Take your time.”“Đây là cách các triết gia nên chào nhau: ‘Bạn cứ thong thả’.”

“Tell me,” Wittgenstein’s asked a friend, “why do people always say, it was natural for man to assume that the sun went round the earth rather than that the earth was rotating?” His friend replied, “Well, obviously because it just looks as though the Sun is going round the Earth.” Wittgenstein replied, “Well, what would it have looked like if it had looked as though the Earth was rotating?”“Wittgenstein hỏi một người bạn: ‘Hãy bảo cho tôi tại sao người ta luôn luôn nói, lẽ tự nhiên là con người cho rằng Mặt trời đi quanh Trái đất hơn là rằng Trái đất đang xoay?’ Người bạn trả lời, ‘À, hiển nhiên bởi vì chỉ xem ra như thể Mặt trời đang đi quanh Trái đất.’ Wittgenstein đáp, ‘A, hẳn đã xem ra thế nào nếu nó đã xem ra như thể Trái đất đang xoay?’”

“The eternal life is given to those who live in the present.”“Sự sống vĩnh hằng được ban cho những ai sống trong hiện tại.”

“That it doesn’t strike us at all when we look around us, move about in space, feel our own bodies, etc. etc., shows how natural these things are to us. We do not notice that we see space perspectivally or that our visual field is in some sense blurred towards the edges. It doesn’t strike us and never can strike us because it is the way we perceive. We never give it a thought and it’s impossible we should, since there is nothing that contrasts with the form of our chúng tôi I wanted to say is it’s strange that those who ascribe reality only to things and not to our ideas move about so unquestioningly in the world as idea and never long to escape from it.”“Rằng nó không hề đánh động chúng ta khi chúng ta nhìn quanh chúng ta, di động đây đó trong không gian, cảm nhận thân thể của chính chúng ta, vân vân, vân vân, cho thấy rằng những điều này là tự nhiên với chúng ta xiết bao. Chúng ta không lưu ý rằng chúng ta nhìn không gian theo viễn cảnh hay rằng thị trường của chúng ta trong một cảm thức nào đó bị nhoà hướng về các mép rìa. Nó không đánh động chúng ta và chẳng bao giờ có thể đánh động chúng ta bởi vì nó là cách chúng ta tri giác. Chúng ta chẳng bao giờ có một suy nghĩ nào về nó và việc chúng ta nên làm thế là bất khả, bởi vì không có điều gì tương phản với hình thức của thế giới chúng ta. Điều tôi muốn nói là thật lạ lùng rằng những kẻ chỉ gán thực tại cho các vật và không cho các ý niệm của chúng ta lại di chuyển đây đó một cách không hề thắc mắc như thế trong thế giới như ý niệm và chẳng hề mong mỏi đào thoát khỏi nó.” [trích từ tác phẩm Philosophical Remarks (Những nhận xét Triết học)]

“I give no sources, because it is indifferent to me whether what I have thought has already been thought before me by another.”“Tôi không đưa ra các nguồn tin bởi nó là dửng dưng đối với tôi rằng những gì tôi đã suy nghĩ có hay chăng đã được suy nghĩ trước tôi bởi một người khác.”

“Everything that can be thought at all can be thought clearly. Everything that can be said can be said clearly.”“Mọi thứ có thể được suy nghĩ chút nào đều có thể được suy nghĩ một cách minh bạch. Mọi thứ có thể được nói ra đều có thể được nói ra một cách minh bạch.”

“Tell them I’ve had a wonderful life.”“Bảo với họ rằng tôi đã có một cuộc sống tuyệt diệu.” [lời trăng trối của Wittgenstein]

“One often makes a remark and only later sees how true it is.”“Người ta thường làm một nhận xét và chỉ về sau mới thấy nó đúng xiết bao.”

“If there were a verb meaning “to believe falsely,” it would not have any significant first person, present indicative.”“Nếu có một động từ mang nghĩa “tin một cách sai lầm”, nó hẳn không có bất cứ tạo nghĩa nào cho ngôi thứ nhất, thời hiện tại chỉ định cách.”

“I sit astride life like a bad rider on a horse. I only owe it to the horse’s good nature that I am not thrown off at this very moment.”“Tôi ngồi cưỡi cuộc sống giống như một người cưỡi tồi trên một con ngựa. Tôi chỉ đội ơn về bản tính tốt của con ngựa rằng tôi không bị quăng vào ngay khoảnh khắc này.”

Câu 61–90

“If I have exhausted the justifications, I have reached bedrock and my spade is turned. Then I am inclined to say: ‘This is simply what I do.”“Nếu tôi đã kiệt quệ các biện minh, tôi đã tới đá nền và cái xẻng của tôi dội lại. Khi đó tôi thiên về việc nói: ‘Đây đơn giản là những gì tôi làm.’” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“My day passes between logic, whistling, going for walks, and being depressed. I wish to God that I were more intelligent and everything would finally become clear to me – or else that I needn’t live much longer.”“Ngày của tôi đi qua giữa luận lí, huýt sáo, đi bộ, và buồn bã. Tôi ao ước với Thượng đế rằng phải chi tôi thông minh hơn và mọi thứ hẳn rốt ráo trở thành minh bạch đối với tôi – bằng không tôi chẳng cần sống thêm nhiều nữa.” [trích từ Letters to Russell, Keynes, and Moore (Những bức thư gửi Russell, Keynes và Moore)]

“This sort of thing has got to be stopped. Bad philosophers are like slum landlords. It’s my job to put them out of business.”“Loại sự việc này phải chấm dứt. Các triết gia tồi giống như các chủ nhà ở khu ổ chuột. Việc của tôi là loại họ ra khỏi kinh doanh.”

“Knowledge is in the end based on acknowledgement.”“Tri thức rốt ráo đặt cơ sở trên sự tri ân.”

“The face is the soul of the body.”“Gương mặt là linh hồn của thân thể.” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“Our greatest stupidities may be very wise.”“Những sự xuẩn ngốc lớn lao nhất của chúng ta có thể rất khôn ngoan.”

“Suppose someone were to say: ‘Imagine this butterfly exactly as it is, but ugly instead of beautiful’?!”“Giả thử có ai đó nói: ‘Hãy tưởng tượng con bướm này hệt như nó là vậy, nhưng xấu xí thay vì xinh đẹp’?!” [trích từ tác phẩm Zettel, 40th Anniversary Edition  (Zettel, Kỉ niệm 40 năm xuất bản)]

“The temporal immortality of the soul of man, that is to say, its eternal survival also after death, is not only in no way guaranteed, but this assumption in the first place will not do for us what we always tried to make it do. Is a riddle solved by the fact that I survive forever? Is this eternal life not as enigmatic as our present one? The solution of the riddle of life in space and time lies outside space and time.”“Sự bất tử về thời gian của linh hồn của con người, tức là, cả sự sống sót vĩnh hằng của nó sau cái chết, không chỉ không được đảm bảo trong cách nào, mà giả thiết này trong vị trí thứ nhất không làm cho chúng ta điều mà chúng ta luôn luôn cố khiến nó làm. Một thai đố có được giải bằng sự kiện rằng tôi sống sót mãi mãi? Cuộc sống vĩnh hằng này chẳng phải cũng bí ẩn như cuộc sống hiện tại của chúng ta? Giải pháp cho thai đố của sự sống trong không gian và thời gian nằm bên ngoài không gian và thời gian.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“The philosopher is not a citizen of any community of ideas, that is what makes him a philosopher.”“Triết gia không phải là một công dân của bất cứ cộng đồng nào về các ý niệm, đó chính là điều khiến người ấy là một triết gia.” [trích từ tác phẩm Zettel]

“What do I know about God and the purpose of life? I know that this world exists. That I am placed in it like my eye in its visual field. That something about it is problematic, which we call its meaning. This meaning does not lie in it but outside of it. That life is the world. That my will penetrates the world. That my will is good or evil. Therefore that good and evil are somehow connected with the meaning of the chúng tôi meaning of life, i.e. the meaning of the world, we can call God. And connect with this the comparison of God to a father.”“Tôi biết gì về Thượng đế và mục đích của sự sống?

Tôi biết rằng thế giới này hiện hữu.

Rằng tôi được đặt trong nó giống như con mắt tôi trong thị trường của nó.

Rằng một điều gì về nó là vấn nạn, cái mà chúng ta gọi là ý nghĩa của nó.

Ý nghĩa này không nằm trong nó mà nằm ngoài nó.

Sự sống ấy là thế giới.

Rằng ý chí tôi thâm nhập thế giới.

Rằng ý chí tôi là thiện hoặc ác.

Vì vậy cái thiện và ác ấy cách nào đó được gắn kết với ý nghĩa của thế giới. Ý nghĩa của sự sống, tức là ý nghĩa của thế giới, chúng ta có thể gọi là Thượng đế.

Và gắn kết với điều này sự so sánh về Thượng đế với một người cha.” [trích từ Notebooks, 1914–1916 (Sách ghi chú, 1914–1916)]

“The world is everything that is the case.”“Thế giới là mọi thứ làm nên cơ sự.”

“Language is a part of our organism and no less complicated than it.”“Ngôn ngữ là một phần của cơ cấu chúng ta và chẳng hề kém phức hợp hơn nó.”

“The aspects of things that are most important for us are hidden because of their simplicity and familiarity. (One is unable to notice something because it is always before one’s eyes.) The real foundations of his enquiry do not strike a man at all”“Những khía cạnh của các sự vật quan trọng bậc nhất đối với chúng ta bị ẩn giấu bởi vì sự đơn giản và sự quen thuộc của chúng. (Người ta không thể lưu ý một điều gì bởi vì nó luôn luôn ở trước cặp mắt của người ta.) Những nền tảng thực sự của sự khảo sát của con người không hề đánh động một người chút nào.”

“I think I summed up my attitude to philosophy when I said: philosophy ought really to be written only as a poetic composition.”“Tôi nghĩ tôi đã tổng kết thái độ của tôi với triết học khi tôi nói: triết học thực sự phải nên được viết ra chỉ như bố cục một bài thơ.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“Belief in the causal nexus is superstition.”“Sự tin vào đầu mối về nguyên nhân là mê tín.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“It’s impossible for me to say one word about all that music has meant to me in my life. How, then, can I hope to be understood?”“Tôi không thể nói lên một lời về tất cả những gì âm nhạc đã hàm nghĩa đối với tôi trong cuộc sống của tôi. Vậy, cách nào tôi có thể hi vọng được người ta hiểu?”

“A tautology’s truth is certain, a proposition’s possible, a contradiction’s impossible.”“Sự thật của một sự trùng lặp là đoan chắc, sự thật của một mệnh đề là khả dĩ, sự thật của một mâu thuẫn là bất khả.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“6.4311 Der Tod ist kein Ereignis des Lebens. Den Tod erlebt man nicht. Wenn man unter Ewigkeit nicht unendliche Zeitdauer, sondern Unzeitlichkeit versteht, dann lebt der ewig, der in der Gegenwart lebt. Unser Leben ist ebenso endlos, wie unser Gesichtsfeld grenzenlos ist.4311 Death is not an event of life. Death is not lived through. If by eternity is understood not endless temporal duration but timelessness, then he lives eternally who lives in the present. Our life is endless in the way that our visual field is without limit.” [bản tiếng Anh Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học) của Ramsey và Ogden (1922)]“Cái chết không phải là một sự cố của cuộc sống. Cái chết không được sống trải nghiệm qua. Nếu vĩnh hằng được hiểu không phải là sự trường kì vô tận về thời gian mà là sự vô thời, vậy thì kẻ nào sống trong hiện tại là sống một cách vĩnh hằng. Sự sống của chúng ta không có kết thúc theo cung cách trong đó thị trường của chúng ta không có giới hạn” [Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học) 6.4311]

“Philosophy hasn’t made any progress? – If somebody scratches the spot where he has an itch, do we have to see some progress? Isn’t genuine scratching otherwise, or genuine itching itching? And can’t this reaction to an irritation continue in the same way for a long time before a cure for the itching is discovered?” [Culture and Value, MS 174 10r: 1950]“Triết học chưa từng làm được bất cứ sự tiến bộ nào sao? – Nếu ai đó gãi vào chỗ người đó ngứa ngáy, liệu chúng ta phải thấy chút tiến bộ nào sao? Mặt khác, sự gãi là chân chính, hay sự ngứa là chân chính? Và phản ứng này đối với sự bực bội lại không thể †a tiếp diễn †b giống như thế này trong một thời gian lâu dài, trước khi một sự chữa lành cho cái ngứa được tìm ra?” [Culture and Value (Văn hoá và giá trị), mã số MS 174 10r: 1950]

“In philosophy it is always good to put a question instead of an answer to a question. For an answer to the philosophical question may easily be unfair; disposing of it by means of another question is not.”“Trong triết học luôn luôn tốt lành là nêu một câu hỏi thay vì một trả lời cho một câu hỏi. Vì một trả lời cho câu hỏi triết học có thể dễ dàng là bất công; còn xử trí nó bằng phương tiện của một câu hỏi khác không phải là bất công.”

“You sometimes see in a wind a piece of paper blowing about anyhow. Suppose the piece of paper could make the decision: ‘Now I want to go this way.’ I say: ‘Queer, this paper always decides where it is to go, and all the time it is the wind that blows it. I know it is the wind that blows it.’ That same force which moves it also in a different way moves its decisions.”“Bạn đôi khi nhìn thấy trong một cơn gió một mảnh giấy bị thổi cách sao đâu đó. Giả thiết mảnh giấy có thể làm quyết định: ‘Bây giờ tôi muốn đi lối này.’ Tôi nói: ‘Kì quái, mảnh giấy này luôn luôn quyết định nơi nó sẽ đi tới, và toàn thời gian chính là cơn gió thổi nó. Tôi biết chính cơn gió thổi nó.’ Cùng sức mạnh ấy di động nó trong một lối khác cũng di động những quyết định của nó.”

“The human body is the best picture of the human soul.”“Thân thể của con người là bức hình tốt nhất về linh hồn của con người.”

“So in the end, when one is doing philosophy, one gets to the point where one would like just to emit an inarticulate sound.”“Vậy là rốt ráo, khi một người làm triết học, người đó tới điểm nơi người đó chỉ muốn phát ra một âm thanh chẳng thành lời.” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“If a lion could speak, we could not understand him.”“Nếu một con sư tử có thể cất tiếng nói, chúng ta ắt không hiểu được nó.”

“Just improve yourself; that is the only thing you can do to better the world.”“Chỉ cần cải thiện chính bạn; đó là điều duy nhất bạn có thể làm để cải thiện thế giới.”

“Where two principles really do meet which cannot be reconciled with one another, then each man declares the other a fool and a heretic”“Nơi hai nguyên lí thực sự quả có đụng độ mà không thể hoà giải với nhau, khi đó mỗi người tuyên bố kẻ kia là một đứa khờ và một kẻ tà đạo.” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

“We are struggling with language. We are engaged in a struggle with language.”“Chúng ta đang vật lộn với ngôn ngữ. Chúng ta dấn vào một cuộc vật lộn với ngôn ngữ.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“Uttering a word is like striking a note on the keyboard of the imagination.”“Thốt ra một lời là giống như gõ một cung bậc trên bàn phím của trí tưởng tượng.”

“Nothing is more important for teaching us to understand the concepts we have than to construct fictitious ones.”“Không gì quan trọng để dạy chúng ta thấu hiểu những quan niệm chúng ta đang có hơn là việc thiết dựng những quan niệm giả tưởng.”

“Der Zweck der Philosophie ist die logische Klärung der Gedanken. Die Philosophie ist keine Lehre, sondern eine Tätigkeit. Ein philosophisches Werk besteht wesentlich aus Erläuterungen. Das Resultat der Philosophie sind nicht »philosophische Sätze«, sondern das Klarwerden von Sätzen. Die Philosophie soll die Gedanken, die sonst, gleichsam, trübe und verschwommen sind, klar machen und scharf abgrenzen.112 The object of philosophy is the logical clarification of thoughts. Philosophy is not a theory but an activity. A philosophical work consists essentially of elucidations. The result of philosophy is not a number of “philosophical propositions”, but to make propositions clear. Philosophy should make clear and delimit sharply the thoughts which otherwise are, as it were, opaque and blurred.”“Mục tiêu của triết học là sự minh bạch hoá về luận lí của những ý tưởng. Triết học không phải là một lí thuyết mà là một hoạt động. Một công cuộc triết học thiết yếu gồm những sự làm sáng tỏ. Kết quả của triết học không phải là một số những “mệnh đề triết học”, mà là khiến những mệnh đề minh bạch. Triết học nên làm sáng tỏ và phân định một cách sắc bén những ý tưởng vốn, nếu không, vẫn là, mờ đục và bị nhoè.” [Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học) 4.112]

Câu 91–120

“It’s not how the world is, but that it is, that is cause for astonishment.”“Không phải là thế giới tồn tại ra sao, mà chính điều nó tồn tại, đó là nguyên nhân để kinh ngạc.”

“How small a thought it takes to fill a whole life.”“Chỉ cần một ý tưởng xiết bao nhỏ nhoi để làm đầy cả một cuộc sống trọn vẹn.”

“In the world everything is as it is and happens as it does happen. In it, there is no value, – and if there were, it would be of no value.”“Trong thế giới mọi thứ hiện hữu như thể nó là và xảy ra quả như nó xảy ra. Trong đó, không có giá trị nào hết, và nếu có đi nữa, nó ắt hẳn cũng chẳng có giá trị gì.”

“Always come down from the barren heights of cleverness into the green valleys of folly.”“Hãy luôn luôn đi xuống từ những chiều cao cằn cỗi của sự khôn khéo vào những thung lũng xanh tươi của sự điên rồ.”

“People nowadays think that scientists exist to instruct them, poets, musicians, etc. to give them pleasure. The idea that these have something to teach them – that does not occur to them.”“Người ta ngày nay nghĩ rằng các nhà khoa học tồn tại để dạy dỗ họ, các nhà thơ, các nhạc sĩ, vân vân, để cho họ lạc thú. Ý niệm rằng những người này có điều gì để dạy họ – việc đó không xảy ra với họ.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“Anything that can be said can be said clearly.”“Bất cứ điều gì có thể nói lên đều có thể được nói lên một cách minh bạch.”

“Music conveys to us itself!”“Âm nhạc chuyển tải cho chúng ta chính tự thân nó.”

“In art it is hard to say anything as good as saying nothing.” [Culture and Value, MS 156a 57r: ca. 1932-1934]“Trong nghệ thuật khó có thể nói bất cứ điều gì, điều ấy cũng tốt ngang bằng với: nói không có chi.” [Culture and Value (Văn hoá và giá trị), mã số MS 156a 57r: ca. 1932-1934]

“Christianity is not a doctrine, not, I mean, a theory about what has happened & will happen to the human soul, but a description of something that actually takes place in human life.” [Culture and Value, MS 118 56r c: 4.9.1937]“Kitô giáo không phải là một giáo lí, tôi muốn nói, không phải là một lí thuyết về điều gì đã xảy ra & sẽ xảy ra đối với linh hồn con người, nhưng là một sự mô tả về một điều gì thực chất diễn ra trong cuộc sống con người. Vì ‘sự nhìn nhận về tội lỗi’ là một sự xảy ra thực chất & sự tuyệt vọng cũng thế & sự cứu chuộc qua đức tin cũng thế. Những ai nói về nó (giống như Bunyan) chỉ là mô tả đơn giản điều gì đã xảy ra với họ; bất kể chú giải nào ai đó có thể muốn đặt lên nó!” [Culture and Value (Văn hoá và giá trị), mã số MS 118 56r c: 4.9.1937]

“It is not humanly possible to gather immediately from it what the logic of language is. Language disguises thought.”“Loài người không có khả năng thu thập ngay lập tức từ nó những gì là luận lí của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nguỵ trang tư tưởng.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“Man feels the urge to run up against the limits of language. Think for example of the astonishment that anything at all exists. This astonishment cannot be expressed in the form of a question, and there is also no answer whatsoever. Anything we might say is a prioribound to be nonsense. Nevertheless we do run up against the limits of language. Kierkegaard too saw that there is this running up against something, and he referred to it in a fairly similar way (as running up against paradox). This running up against the limits of language is ethics.”“Con người cảm nhận thấy sự thôi thúc để chạy ùa chống những giới hạn của ngôn ngữ. Chẳng hạn hãy thử nghĩ về sự ngạc nhiên rằng lại có hề bất cứ cái gì tồn tại. Sự ngạc nhiên này không thể biểu tỏ trong hình thức một câu hỏi, và cũng chẳng có bất cứ câu trả lời nào. Bất cứ điều gì chúng ta có thể nói được là tiên thiên đã bị trói buộc là vô nghĩa. Tuy thế chúng ta quả có chạy ùa chống lại những giới hạn của ngôn ngữ. Kierkegaard cũng nhìn thấy rằng có sự chạy ùa này chống lại một cái gì đó và ông quy chiếu về nó trong một đường lối khá tương tự (như là chạy ùa chống lại nghịch lí). Sự chạy ùa này chống lại những giới hạn của ngôn ngữ là đạo đức học.”

“The truly apocalyptic view of the world is that things do not repeat themselves. It isn’t absurd, e.g., to believe that the age of science and technology is the beginning of the end for humanity; that the idea of great progress is delusion, along with the idea that the truth will ultimately be known; that there is nothing good or desirable about scientific knowledge and that mankind, in seeking it, is falling into a trap. It is by no means obvious that this is not how things are.” [Culture and Value, MS 133 90: 7.1.1947]“Quan điểm quả thật tận thế về thế giới là rằng sự vật không lặp lại tự thân chúng. Chẳng phải là phi lí sao, thí dụ, tin rằng thời đại của khoa học và kĩ thuật học là sự khởi đầu của chung cuộc cho loài người, rằng ý niệm về sự Tiến bộ Vĩ đại là một sự choáng ngợp, cùng với ý niệm rằng chân lí sẽ được biết một cách tối hậu; rằng không có gì tốt lành hoặc đáng ham muốn về tri thức khoa học & rằng loài người, trong sự tìm kiếm nó, là đang rơi vào một bẫy sập. Không hề minh bạch rằng đây là cách thế sự vật hiện hữu.” [Culture and Value (Văn hoá và giá trị), mã số MS 133 90: 7.1.1947]

“You must always be puzzled by mental illness. The thing I would dread most, if I became mentally ill, would be your adopting a common sense attitude; that you could take it for granted that I was deluded.”“Bạn phải luôn luôn thắc mắc vì bệnh tâm thần. Điều tôi hẳn sợ hãi nhất, nếu tôi trở nên mắc bệnh tâm thần, ắt là việc bạn khoác một thái độ lương tri; rằng bạn có thể xem là đương nhiên tôi bị hoang tưởng.”

“I am not interested in constructing a building, so much as in having a perspicuous view of the foundations of possible buildings.”“Tôi không quan tâm vào sự tạo dựng một toà nhà, cho bằng việc có một cái nhìn viễn cảnh minh bạch về những nền tảng của các toà nhà khả dĩ.”

“I think one of the things you and I have to learn is that we have to live without the consolation of belonging to a Church…. Of one thing I am certain. The religion of the future will have to be extremely ascetic, and by that I don’t mean just going without food and drink.”“Tôi nghĩ một trong những điều bạn và tôi phải học là rằng chúng ta phải sống không có sự an ủi của việc thuộc về một Giáo hội… Tôi đoan chắc được về một điều. Tông giáo của tương lai sẽ phải là cực kì khổ hạnh, và bằng điều đó tôi không muốn nói rằng chỉ tiến hành không có đồ ăn và thức uống.”

“Perhaps what is inexpressible (what I find mysterious and am not able to express) is the background against which whatever I could express has its meaning.” [Culture and Value, MS 112 1: 5.10.1931]“Điều không thể biểu tỏ (những gì tôi thấy bí ẩn & không thể biểu tỏ) có lẽ cung cấp nền tảng, trên đó bất kể thứ gì tôi có thể biểu tỏ có được ý nghĩa.” [Culture and Value (Văn hoá và giá trị), mã số MS 112 1: 5.10.1931]

“Put a man in the wrong atmosphere and nothing will function as it should. He will seem unhealthy in every part. Put him back into his proper element and everything will blossom and look healthy. But if he is not in his right element, what then? Well, then he just has to make the best of appearing before the world as a cripple.”“Đặt một con người vào một bầu khí quyển sai lạc và không có gì sẽ vận hành như phải thế. Người đó sẽ dường như thấy không lành mạnh trong mọi phần. Đặt y trở lại vào yếu tố thích nghi của y và mọi sự sẽ bừng nở và xem ra lành mạnh. Nhưng nếu y không ở trong yếu tố đúng của y, khi đó thì sao? À, khi ấy y chỉ cần hết sức xuất hiện trước thế giới như thể một kẻ tàn tật.” [trích từ tác phẩm Culture and Value / Văn hoá và giá trị]

“Die Welt ist alles, was der Fall ist.”“Thế giới là mọi thứ làm nên cơ sự.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“The primary question about life after death is not whether it is a fact, but even if it is, what problems that really solves.”“Câu hỏi bậc nhất về sự sống sau cái chết chẳng phải rằng là nó có phải là một sự kiện hay chăng, nhưng dù cho nó là sự kiện, điều đó thực sự giải quyết được những vấn đề gì.”

“Concerning that which cannot be talked about, we should not say anything. ”“Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“If a blind man were to ask me “Have you got two hands?” I should not make sure by looking. If I were to have any doubt of it, then I don’t know why I should trust my eyes. For why shouldn’t I test my eyes by looking to find out whether I see my two hands? What is to be tested by what?”“Nếu một người mù có hỏi tôi “Bạn có đôi bàn tay chăng?” Tôi chẳng nên đoan chắc bằng việc nhìn. Nếu tôi có bất cứ hồ nghi nào về điều ấy, khi ấy tôi không biết tại sao tôi lại nên tin cậy cặp mắt của mình. Vì tại sao tôi lại không nên thử trắc nghiệm cặp mắt của tôi bằng việc nhìn để tìm cho ra việc tôi có nhìn thấy hai bàn tay của mình hay chăng? Có gì phải được trắc nghiệm bằng cái gì?” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

“We regard the photograph, the picture on our wall, as the object itself (the man, landscape, and so on) depicted there. This need not have been so. We could easily imagine people who did not have this relation to such pictures. Who, for example, would be repelled by photographs, because a face without color and even perhaps a face in reduced proportions struck them as inhuman.”“Chúng ta ngắm hình chụp, bức ảnh trên tường của chúng ta, như chính tự thân mục tiêu (người, cảnh, và vân vân) được miêu tả ở đó. Điều này không cần phải như vậy. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra kẻ không có mối quan hệ này với những hình ảnh như vậy. Thí dụ, những ai bị dội lại vì những ảnh chụp, bởi một gương mặt không màu, và thậm chí có lẽ một khuôn mặt bị giảm trừ về những tỉ lệ đánh động họ như là không có tính người.”

“Most of the propositions and questions to be found in philosophical works are not false but nonsensical.”“Hầu hết những mệnh đề và những câu hỏi tìm thấy trong những tác phẩm triết học không phải là giả mà là vô nghĩa.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“Our life is endless in the way that our visual field is without limit.”“Sự sống của chúng ta là vô tận trong cung cách rằng thị trường của chúng ta là không giới hạn.” [trích từ tác phẩm Tractatus Logico-Philosophicus (Luận văn luận lí–triết học)]

“If you already have a person’s love no sacrifice can be too much to give for it; but any sacrifice is too great to buy it for you.”“Nếu bạn đã có tình thương yêu của một người vậy không hi sinh nào có thể là quá nhiều để tặng cho nó; nhưng bất cứ hi sinh nào cũng là quá lớn lao để mua nó cho bạn.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“Religion is, as it were, the calm bottom of the sea at its deepest point, which remains calm however high the waves on the surface may be.”“Tông giáo là, thế đó, cái đáy tĩnh lặng của biển ở điểm sâu nhất, nó vẫn tĩnh lặng dù những đợt sóng trên bề mặt có thể cao đến đâu đi nữa.” [trích từ tác phẩm Culture and Value (Văn hoá và giá trị)]

“Language is a labyrinth of paths. You approach from one side and know your way about; you approach the same place from another side and no longer know your way about.”“Ngôn ngữ là một mê cung của các lối. Bạn tiếp cận từ một phía và biết rành lối của bạn về mê cung; bạn tiếp cận cùng nơi từ một phía khác và không còn biết rành lối của bạn về nó nữa.” [trích từ tác phẩm Philosophical Investigations (Những điều tra triết học)]

“What stands fast does so, not because it is intrinsically obvious or convincing; it is rather held fast by what lies around it.”“Điều gì đứng vững chắc làm được như thế, không phải vì một cách nội tại nó hiển nhiên hay xác tín; nó giữ được vững chắc đúng hơn do những gì nằm quanh nó.” [trích từ tác phẩm On Certainty (Về sự đoan chắc)]

121. “Telling someone something he does not understand is pointless, even if you add that he will not be able to understand it.”

“Bảo với ai đó một điều gì kẻ đó không thể thấu hiểu là không đích điểm, cho dù bạn có nói thêm rằng kẻ ấy sẽ không thể có khả năng thấu hiểu nó.” Văn hoá và Giá trị

122. “There are no subjects in the world. A subject is a limitation of the world.”

123. “Think, for example, of the words which you perhaps utter in this space of time. They are no longer part of this language. And in different surroundings the institution of money doesn’t exist either.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học “Hãy suy nghĩ, chẳng hạn về những từ mà có lẽ bạn thốt ra trong khoảng thời gian này. Chúng không còn là thành phần của ngôn ngữ này nữa. Và trong những cảnh quan khác nhau, thiết chế về tiền bạc cũng không tồn tại luôn.” [trong tiếng Anh, có một câu châm ngôn do Benjamin Franklin (1706–1790) phát biểu từ thế kỉ 18 trong tạp chí lấy tên là Almanach / Niên lịch phát hành hàng năm và rất phổ thông của ông nên câu này trở thành có giá trị như tục ngữ. Đó là câu: ‘Time is money.’ (‘Thời giờ là tiền bạc.’), chú thích của người dịch]

124. “Die Grenzen meiner Sprache bedeuten die Grenzen meiner Welt.”

“Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi có nghĩa là những giới hạn của thế giới của tôi.”

― Ludwig Wittgenstein

“Remember that we sometimes demand explanations for the sake not of their content, but of their form. Our requirement is an architectural one; the explanation a kind of sham corbel that supports nothing.”

“Hãy nhớ rằng chúng ta đôi khi đòi hỏi sự giải thích không phải vì nội dung của chúng mà vì hình thức của chúng. Sự đòi hỏi của chúng ta là một đòi hỏi về kiến trúc; sự giải thích là một đòn đỡ rởm không chống đỡ được gì cả.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“I should not like my writing to spare other people the trouble of thinking. But, if possible, to stimulate someone to thoughts of his own.”

“Tôi không ưa văn viết của tôi tránh né cho người khác sự phiền phức về suy nghĩ. Nhưng, nếu có thể được, để kích khởi một ai đó có những ý tưởng của chính mình.” ― Ludwig Wittgenstein

“There can never be surprises in logic.”

“Chẳng bao giờ có thể có những bất ngờ trong luận lí.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Man has to awaken to wonder – and so perhaps do peoples. Science is a way of sending him to sleep again.”

“Con người phải tỉnh thức để ngạc nhiên tự hỏi – và các dân tộc có lẽ cũng như thế. Khoa học là một lối để đưa con người ngủ trở lại.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Roughly speaking: objects are colourless”

“Nói một cách đại thể: các đối tượng là không màu sắc.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“If you have a room which you do not want certain people to get into, put a lock on it for which they do not have the key. But there is no point in talking to them about it, unless of course you want them to admire the room from outside! The honorable thing to do is put a lock on the door which will be noticed only by those who can open it, not by the rest.”

“Nếu bạn có một căn buồng mà bạn không muốn những người nhất định nào đó nhập vào, hãy đặt một ổ khoá lên nó mà họ không có chìa. Nhưng nói với họ về việc ấy là không thích đáng, dĩ nhiên trừ khi bạn muốn họ tán thưởng căn buồng từ bên ngoài! Điều danh dự để làm là đặt một ổ khoá lên cái cửa sẽ chỉ được lưu ý bởi những ai có thể mở nó, không phải bởi những kẻ còn lại.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Resting on your laurels is as dangerous as resting when you are walking in the snow. You doze off and die in your sleep.”

“An nghỉ trên những vòng nguyệt quế của bạn cũng nguy hiểm như an nghỉ khi bạn đang bước đi trong tuyết. Bạn chập chờn và chết trong giấc ngủ của mình.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“If, for example, you were to think more deeply about death, then it would be truly strange if, in doing so, you did not encounter new images, new linguistic fields.”

“Nếu, chẳng hạn, bạn phải nghĩ sâu sắc hơn về cái chết, vậy hẳn thật là lạ lẫm nếu, làm như vậy bạn không gặp những hình tượng mới, những trường ngôn ngữ mới.” ― Ludwig Wittgenstein

“The sole remaining task for philosophy is the analysis of language.”

“Nhiệm vụ còn lại duy nhất cho triết học là sự phân tích về ngôn ngữ.” ― Ludwig Wittgenstein

“The aspect of things that are most important to us are hidden because of their familiarity and simplicity.”

“Phương diện của các sự vật quan trọng nhất đối với chúng ta là bị che giấu bởi vì sự quen thuộc và đơn sơ của chúng.” ― Ludwig Wittgenstein

“Philosophy is not a body of doctrine but an activity.”

“Triết học không phải là một thân về chủ thuyết mà là một hoạt động.” ― Ludwig Wittgenstein

“a nothing will serve just as well as a something about which nothing could be said.”

“một cái không gì cũng sẽ phục vụ tốt ngang bằng với một cái gì đó mà không gì có thể nói được về nó.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Understand or die.”

“Thấu hiểu hay là chết đi.” ― Ludwig Wittgenstein

“All numbers in logic must be capable of justification.   Or rather it must become plain that there are no numbers in logic.   There are no pre-eminent numbers.”

“Mọi con số trong luận lí phải có khả năng biện minh được. Hoặc là đúng hơn phải trở nên bình dị rằng không có con số nào trong luận lí. Không có những con số trội bật nào.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“the meaning of a word is its use in the language.”

“ý nghĩa của một từ là việc sử dụng của nó trong ngôn ngữ.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Có hai thần vị: thế giới và cái tôi độc lập của tôi. Tôi hoặc là hạnh phúc hoặc không hạnh phúc, tất cả chỉ có thế. Có thể nói được rằng: thiện và ác không tồn tại. Một người hạnh phúc phải không có sợ hãi nào. Ngay cả giáp mặt với cái chết. Chỉ có một người sống không phải trong thời gian mà trong hiện tại mới là hạnh phúc.” ― Ludwig Wittgenstein

“Getting hold of the difficulty deep down is what is hard. Because if it is grasped near the surface it simply remains the difficulty it was. It has to be pulled out by the roots; and that involves our beginning to think about these things in a new way. The change is as decisive as, for example, that from the alchemical to the chemical way of thinking. The new way of thinking is what is so hard to establish. Once the new way of thinking has been established, the old problems vanish; indeed they become hard to recapture. For they go with our way of expressing ourselves and, if we clothe ourselves in a new form of expression, the old problems are discarded along with the old garment.”

“Nắm chắc cái khó thẳm sâu là gian nan. Bởi vì nếu nó bị nắm gần bề mặt nó đơn giản vẫn là cái khó thế thôi. Nó phải bị rút ra bằng cội rễ; và điều ấy liên can tới việc chúng ta bắt đầu suy nghĩ về những điều này trong một lối mới. Sự thay đổi này có tính cách quyết định ngang bằng với, chẳng hạn, sự thay đổi từ lối suy nghĩ về việc luyện kim đan tới lối suy nghĩ về hoá học. Lối suy nghĩ mới là điều gian nan xiết bao để thiết lập. Một khi lối suy nghĩ mới đã được thiết lập, những vấn đề cũ tiêu biến đi; thực vậy chúng trở nên gian nan để chụp bắt trở lại. Bởi chúng đi cùng với lối chúng ta biểu lộ tự thân và, nếu chúng ta trang phục tự thân trong một hình thức mới về biểu lộ, những vấn đề cũ bị quăng đi cùng với trang phục cũ.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Philosophy, as we use the word, is a fight against the fascination which forms of expression exert upon us.”

“Triết học, như chúng ta sử dụng từ này, là một cuộc chiến đấu chống lại sự mê luyến mà các hình thức biểu lộ thi triển lên chúng ta.” ― Ludwig Wittgenstein, کتاب آبی

“Roughly speaking: to say of two things that they are identical is nonsense, and to say of one thing that it is identical with itself is to say nothing.”

“Nói một cách đại cương: nói về hai vật rằng chúng đồng nhất là vô nghĩa, và nói về một vật rằng nó đồng nhất với tự thân là chẳng nói điều gì.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“What a picture represents is its sense.” (2.221) “The agreement or disagreement or its sense with reality constitutes its truth or falsity.” (2.222)

“Cái một hình ảnh tái hiện là cái nghĩa của nó.” (2.221) “Sự tương hợp hay bất tương hợp của cái nghĩa của nó với thực tại cấu thành cái thật hoặc giả / cái đúng hoặc sai của nó.” (2.222) ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“A logical picture of facts is a thought.”

“Một hình ảnh luận lí về các sự kiện là một ý tưởng.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“It is so characteristic, that just when the mechanics of reproduction are so vastly improved, there are fewer and fewer people who know how music should be played. ”

“Rất là đặc trưng, rằng chính ngay khi cơ chế của sự tái tạo được cải thiện rất mực, càng ngày càng có ít người hơn biết cách âm nhạc phải được chơi ra sao.”

― Ludwig Wittgenstein

“When I came home I expected a surprise and there was no surprise for me, so of course, I was surprised.”

“Khi tôi về nhà tôi trông chờ một sự ngạc nhiên và đã chẳng có ngạc nhiên nào cho tôi, vậy nên dĩ nhiên, tôi đã ngạc nhiên.” ― Ludwig Wittgenstein

“A confession has to be part of your new life.”

“Một sự tự bạch phải là thành phần cuộc sống mới của bạn.” ― Ludwig Wittgenstein

“I really do think with my pen, because my head often knows nothing about what my hand is writing.”

“Tôi quả thực suy nghĩ với cây bút của tôi, bởi vì đầu tôi thường khi chẳng biết chi về những gì bàn tay tôi đang viết.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“An entire mythology is stored within our language.”

“Trọn bộ một nền thần thoại được lưu trữ bên trong ngôn ngữ của chúng ta.” ― Ludwig Wittgenstein

“At the basis of the whole modern view of the world lies the illusion that the so-called laws of nature are the explanations of natural phenomena. So people stop short at natural laws as at something unassailable, as did the ancients at God and Fate. And they both are right and wrong. But the ancients were clearer, in so far as they recognized one clear conclusion, whereas in the modern system it should appear as though everything were explained.”

“Ở cơ sở của toàn bộ quan điểm hiện đại về thế giới có nằm cái ảo tưởng rằng những cái gọi là định luật của tự nhiên là những sự giải thích về các hiện tượng tự nhiên. Vậy nên người ta đứng dừng ngay ở các định luật tự nhiên như ở một cái gì không thể tấn kích được, như người xưa đứng dừng ở Thượng đế và Số mệnh. Và cả hai thứ này đều đúng và sai. Nhưng người xưa minh bạch hơn, trong chừng mực họ nhìn nhận một kết luận minh bạch, trong khi trong hệ thống hiện đại phải nên như thể mọi thứ đều được giải thích.” ― Ludwig Wittgenstein

“The mechanism which we don’t understand is not anything in our soul, but rather that of the life of this expression.”

“Cái cơ chế mà chúng ta không hiểu thấu không phải là bất cứ điều gì trong linh hồn chúng ta, mà đúng hơn đó là cơ chế của sự sống của biểu hiện này.” ― Ludwig Wittgenstein

“Bad philosophers are like slum landlords. It’s my job to put them out of business.”

“Các triết gia tồi giống như các chủ nhà ở khu ổ chuột. Việc của tôi là loại họ ra khỏi kinh doanh.” ― Ludwig Wittgenstein, Lectures on the Foundations of Mathematics, Cambridge 1939 [trích từ Những bài giảng về Nền tảng của Toán học, tại Đại học Cambridge 1939]

“The great delusion of modernity, is that the laws of nature explain the universe for us. The laws of nature describe the universe, they describe the regularities. But they explain nothing.

[Es ist die große Täuschung der Moderne, dass die Naturgesetze uns die Welt erklären. Die Naturgesetze beschreiben die Welt, sie beschreiben die Gesetzmäßigkeiten. Aber sie erklären uns nichts.]”

“Cái hoang tưởng lớn của tính hiện đại là rằng các định luật về tự nhiên giải thích vũ trụ cho chúng ta. Những định luật về tự nhiên mô tả vũ trụ, chúng mô tả những sự đều đặn. Nhưng chúng không giải thích gì hết.” ― Ludwig Wittgenstein

“If I wanted to eat an apple, and someone punched me in the stomach, taking away my appetite, then it was this punch that I originally wanted”

“Nếu tôi muốn ăn một trái táo, và nếu ai thoi vào dạ dày tôi, lấy đi hứng ăn của tôi, khi ấy chính cú thoi này là cái tôi muốn một cách nguyên thuỷ.” ― Ludwig Wittgenstein

“If we spoke a different language, we would perceive a somewhat different world.”

“Nếu chúng ta nói một ngôn ngữ khác, chúng ta ắt tri giác một thế giới sao đó khác biệt.” ― Ludwig Wittgenstein

“The work of art is the object seen sub specie aeternitatis; and the good life is the world seen sub specie aeternitatis. This is the connection between art and ethics.

The usual way of looking at things sees objects as it were from the midst of them, the view sub specie aeternitatis from outside.

In such a way that they have the whole world as background.”

“Tác phẩm nghệ thuật là đối tượng được nhìn dưới chủng loại vĩnh hằng; và cuộc sống tốt lành là thế giới được nhìn dưới chủng loại vĩnh hằng. Đây là sự kết nối giữa nghệ thuật và đạo đức học.

Lối nhìn thông thường về sự vật nhìn các đối tượng như thể từ giữa chúng, lối nhìn dưới chủng loại vĩnh hằng từ bên ngoài.

Trong một lối sao cho chúng có cả thế giới như là nền.” ― Ludwig Wittgenstein

“I want to say: We use judgements as principles of judegement.”

“Tôi muốn nói: Chúng ta sử dụng những phán đoán như là những nguyên lí về sự phán đoán.” ― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc

“Philosophy ought really to be written only as a form of poetry.”

“Triết học phải nên thực sự chỉ được viết ra như một hình thức của thi ca.” ― Ludwig Wittgenstein

“It is not how things are in the world that is mystical, but that it exists”

“Không phải là cách thế sự vật hiện hữu trong thế giới là huyền bí, mà rằng thế giới hiện hữu.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Superstition is the belief in the causal nexus.”

“Mê tín là sự tin vào đầu mối về nguyên nhân.” ― Ludwig Wittgenstein

“The philosophical I is not the man, not the human body or the human soul of which psychology treats, but the metaphysical subject, the limit – not a part of the world.”

“Cái tôi triết học không phải là con người, không phải là thân thể con người hay linh hồn con người mà khoa tâm lí học xử lí, mà là chủ thể siêu hình học, giới hạn – không phải một phần của thế giới.” ― Ludwig Wittgenstein

“Indeed how might it be if things revealed their colors only when (in our terms) no light fell on them – if, for example, the sky were black? Could we not then say, only by black light do they appear to us in their full colors?”

“Thực vậy sự thể có thể ra sao nếu các sự vật phơi bày những màu sắc của chúng chỉ khi (trong những hạn từ của chúng ta) không có ánh sáng nào rơi lên chúng – chẳng hạn, nếu bầu trời là màu đen? Khi ấy, lẽ nào chúng ta không thể nói rằng chỉ bằng ánh sáng đen chúng mới xuất hiện với chúng ta trong trọn vẹn những màu sắc của chúng?” ― Ludwig Wittgenstein

“5.6 The limits of my language mean the limits of my world. 61 Logic fills the world: the limits of the world are also its limits. We cannot therefore say in logic: This and this there is in the world, that there is not. For that would apparently presuppose that we exclude certain possibilities, and this cannot be the case since otherwise logic must get outside the limits of the world : that is, if it could consider these limits from the other side also. What we cannot think, that we cannot think: we cannot therefore say what we cannot think.”

“5.6 Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi có nghĩa là những giới hạn của thế giới của tôi. 5.61 Luận lí đầy ắp thế giới: những giới hạn của thế giới cũng là những giới hạn của luận lí. Vì vậy chúng ta không thể nói trong luận lí: Cái này và cái này có trong thế giới, cái kia không có. Bởi vì điều đó ắt dường như giả thiết trước rằng chúng ta loại trừ những khả tính nhất định, và điều này không thể là cơ sự bởi vì cách khác luận lí phải ra ngoài các giới hạn của thế giới: tức là, nếu nó cũng có thể cứu xét những giới hạn này từ phía bên kia nữa. Điều gì chúng ta không thể suy nghĩ, điều đó chúng ta không thể suy nghĩ: vì vậy chúng ta không thể nói điều gì chúng ta không thể suy nghĩ.”

― Ludwig Wittgenstein, Tractatus Logico Philosophicus

“Philosophers often behave like little children who scribble some marks on a piece of paper at random and then ask the grown-up “What’s that?” – It happened like this: the grown-up had drawn pictures for the child several times and said: this is a man, this is a house, etc. And then the child makes some marks too and asks: what’s this then?”

“Các triết gia thường cư xử giống như trẻ nhỏ nguệch ngoạc một số dấu trên một mẩu giấy ngẫu nhiên và rồi hỏi người lớn “Cái đó là gì?” – Đã xảy ra giống như thế này: người lớn vẽ những hình ảnh cho đứa trẻ vài lần và nói: đây là một con người, đây là một cái nhà, vân vân. Và khi ấy đứa trẻ cũng tạo một số dấu và hỏi: vậy cái này là gì?”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“This book will perhaps only be understood by those who have themselves already thought the thoughts which are expressed in it-or similar thoughts. It is therefore not a text-book. Its object would be attained if it afforded pleasure to one who read it with understanding.”

“Cuốn sách này có lẽ sẽ chỉ được thấu hiểu bởi những ai tự thân đã từng suy nghĩ những ý tưởng được biểu hiện trong đó – hay những ý tưởng tương tự. Vì vậy nó không phải là một sách giáo khoa. Mục tiêu của nó ắt là đạt được nếu nó cung ứng lạc thú cho một ai đọc nó với sự thấu hiểu.” ― Ludwig Wittgenstein, Tractatus Logico Philosophicus

“A picture held us captive. And we could not get outside it, for it lay in our language and language seemed to repeat it to us inexorably.”

“Một hình ảnh cầm giữ chúng ta. Và chúng ta không thể ra ngoài nó, vì nó nằm trong ngôn ngữ của chúng ta và ngôn ngữ dường như tự lặp lại với chúng ta một cách khăng khăng.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Es ist ein seltsamer Zufall, dass alle die Menschen, deren Schädel man geöffnet hat, ein Gehirn hatten.”

“Một sự trùng hợp bất thường là rằng mọi người đã từng được mở hộp sọ não đã chứng tỏ có một bộ óc.” ― Ludwig Wittgenstein

“A philosopher who is not taking part in discussions is like a boxer who never goes into the ring.” ― Ludwig Wittgenstein

“[Philosophy] must set limits to what can be thought; and, in doing so, to what cannot be thought. It must set limits to what cannot be thought by working outwards through what can be thought.”

“[Triết học] phải đặt những giới hạn cho những gì có thể suy nghĩ; và, khi làm như thế, cho những gì không thể suy nghĩ. Nó phải đặt những giới hạn cho những gì không thể suy nghĩ bằng cách làm việc hướng ngoại qua những gì có thể suy nghĩ.” ― Ludwig Wittgenstein

“Only let’s cut out the transcendental twaddle when the whole thing is as plain as a sock on the jaw.”

“Chỉ là chúng ta hãy chặt đứt sự tào lao về siêu việt khi toàn bộ điều này rành rành như một cái vớ ở hàm.” ― Ludwig Wittgenstein

“Logic is not a theory but a reflexion of the world.”

“Luận lí không phải là một lí thuyết mà là một sự phản tỉnh về thế giới.” ― Ludwig Wittgenstein

“Hell isn’t other people. Hell is yourself.” ― Ludwig Wittgenstein

“But some of the greatest achievements in philosophy could only be compared with taking up some books which seemed to belong together, and putting them on different shelves; nothing more being final about their positions than that they no longer lie side by side. The onlooker who doesn’t know the difficulty of the task might well think in such a case that nothing at all had been achieved.”

“Nhưng một số thành đạt vĩ đại nhất trong triết học có thể chỉ so sánh được với việc cầm lên một số cuốn sách dường như tuỳ thuộc với nhau, và đặt chúng trên những cái giá khác nhau; chẳng có gì là chung cuộc hơn về vị trí của chúng hơn là rằng chúng không còn cạnh bên nhau. Người khách xem không biết cái khó của công việc này rất có thể nghĩ trong một cơ sự như thế rằng không hề có gì đã được đạt thành.” ― Ludwig Wittgenstein

“Everything ritualistic must be strictly avoided, because it immediately turns rotten. Of course a kiss is a ritual too and it isn’t rotten, but ritual is permissible only to the extent that it is as genuine as a kiss.”

“Mọi điều thuộc về nghi thức phải được tránh ra một cách nghiêm nhặt, bởi vì nó lập tức hoá ra thối rữa. Dĩ nhiên một cái hôn cũng là một nghi thức nữa và nó không bị thối rữa, nhưng nghi thức chỉ được cho phép với chừng mực rằng nó chân thực như một cái hôn.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Most propositions and questions, that have been written about philosophical matters, are not false, but senseless. … (They are of the same kind as the question whether the Good is more or less identical than the Beautiful.)”

“Hầu hết những mệnh đề và những câu hỏi đã được viết về những vấn đề triết học không phải là sai, nhưng là vô nghĩa. Vì vậy chúng ta không thể trả lời những câu hỏi thuộc loại này chút nào mà chỉ phát biểu sự vô nghĩa của chúng. (Chúng thuộc cùng loại như những câu hỏi mà cái Thiện có ít nhiều đồng nhất hơn là cái Mĩ.) Vậy nên không có gì đáng ngạc nhiên rằng những vấn đề sâu xa nhất thật sự không phải là vấn đề.” (bản dịch 1, 4.003) ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Ideas too sometimes fall from the tree before they are ripe.”

“Những ý niệm đôi khi từ trên cây rớt xuống trước khi chúng chín muồi.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“No one can think a thought for me in the way that no one can don my hat for me.”

“Không một ai có thể suy nghĩ một ý tưởng cho tôi trong cái lối rằng không một ai có thể đội cái mũ của tôi cho tôi.” ― Ludwig Wittgenstein

“Religion as madness is a madness springing from irreligiousness.”

“Religious madness is madness springing from irreligiousness. MS 153b 29r: 1931”

“Sự điên rồ về tông giáo là một sự điên rồ xuất phát từ tính vô đạo. MS 153b 29r: 1931” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“It seems to me that, in every culture, I come across a chapter headed ‘Wisdom.’ And then I know exactly what is going to follow: ‘Vanity of vanities, all is vanity.”

“Dường như đối với tôi rằng, trong mọi nền văn hoá, tôi đều tới ngang một chương có tựa đề là ‘Minh triết.’ Và khi ấy tôi biết một cách chính xác điều gì sắp đi theo: ‘Hư vinh của các hư vinh, tất cả là hư vinh.’” ― Ludwig Wittgenstein

“Well, God has arrived. I met him on the 5.15 train ~ Keynes”

“Phải, Thượng đế đã tới. Tôi đã gặp ngài trên chuyến xe lửa 5 giờ 15 phút – Keynes.”

Trích từ Những thư gửi Letters to Russell, Keynes and Moore ― Ludwig Wittgenstein, Letters to Russell, Keynes and Moore

“For remember that in general we don’t use language according to strict rules– it hasn’t been taught to us by means of strict rules, either. We, in our discussions on the other hand, constantly compare language with a calculus preceding to exact rules.”

[Trích từ tác phẩm The Blue and Brown Books Những cuốn sổ màu xanh dương và màu nâu] ― Ludwig Wittgenstein, The Blue and Brown Books

“Just be indipendent of the external world, so you don’t have to fear for what’s in it.”

“Hãy chỉ cần độc lập với thế giới bên ngoài, vậy là bạn không phải sợ về những gì ở trong đó.” ― Ludwig Wittgenstein

“More wisdom is contained in the best crime fiction than in philosophy.”

“Có nhiều minh triết được chứa trong tiểu thuyết giả tưởng về hình sự hay nhất hơn là trong triết học.” ― Ludwig Wittgenstein

“Science and industry, and their progress, might turn out to be the most enduring thing in the modern world. Perhaps any speculation about a coming collapse of science and industry is, for the present and for a long time to come, nothing but a dream; perhaps science and industry, having caused infinite misery in the process, will unite the world – I mean condense it into a single unit, though one in which peace is the last thing that will find a home.”

“Khoa học và công nghệ, trong sự tiến bộ của chúng, có thể hoá ra là thứ bền vững nhất trong thế giới hiện đại. Có lẽ bất cứ trầm tư nào về một sự sụp đổ đang tới của khoa học và công nghệ, cho hiện tại và cho một thời gian tương lai lâu dài, chẳng là gì ngoài một giấc mơ; có lẽ khoa học và công nghệ, đã gây ra sự cùng khốn vô biên trong tiến trình, sẽ hợp nhất thế giới – tôi muốn nói cô đúc nó thành một đơn vị riêng lẻ, mặc dù là một đơn vị trong đó hoà bình là điều cuối cùng sẽ tìm được một mái nhà.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“The riddle does not exist. If a question can be put at all, then it can also be answered.”

“Thai đố không tồn tại. Nếu một câu hỏi có hề được đặt ra, khi ấy nó cũng có thể được trả lời.”

― Ludwig Wittgenstein

“If someone does not believe in fairies, he does not need to teach his children ‘There are no fairies’; he can omit to teach them the word ‘fairy’.”

“Nếu một ai đó không tin vào các truyện thần tiên, người đó không cần dạy con cái rằng ‘Chẳng có thần tiên nào hết’; người đó chỉ cần loại ra việc dạy chúng cái từ ngữ ‘thần tiên’.” ― Ludwig Wittgenstein, Zettel

“One age misunderstands another; and a petty age misunderstands all the others in its own nasty way.”

“Một thời đại hiểu sai một thời đại khác; và một thời đại ti tiện hiểu sai tất cả các thời đại khác trong cái lối hèn mạt của chính nó.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“As there is only a logical necessity, so there is only a logical ”

“Vì chỉ có một tính thiết yếu về luận lí, vậy nên cũng chỉ có một tính bất khả về luận lí.” ― Ludwig Wittgenstein

“Commenting on his “Tractatus”…It consists of two parts: the one written here plus all that I have not written. And it is precisely the 2nd part that is the important one.”

“Bàn về cuốn “Tractatus” của ông… Ludwig Wittgenstein nói: ‘… Nó gồm có hai phần: phần được viết ở đây cộng thêm với tất cả những gì tôi chưa viết ra. Và chính xác phần thứ nhì mới là phần quan trọng.” ― Ludwig Wittgenstein

“The fact that we cannot write down all the digits of pi is not a human shortcoming, as mathematicians sometimes think.”

“Sự kiện rằng chúng ta không thể viết xuống tất cả những con số của pi không phải là một sự khiếm khuyết của con người, như các nhà toán học đôi khi nghĩ thế.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“The silent adjustments to understand colloquial language are enormously complicated.”

“Những điều chỉnh thầm lặng để hiểu thấu ngôn ngữ nói chuyện là hết sức phức tạp.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“The solution of logical problems must be neat for they set the standard of neatness.”

“Giải pháp cho những vấn đề luận lí phải gọn vì chúng đặt tiêu chuẩn cho tính gọn.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“The right method of philosophy would be this. To say nothing except what can be said, i.e. the propositions of natural science, i.e. something that has nothing to do with philosophy: and then always, when someone else wished to say something metaphysical, to demonstrate to him that he had given no meaning to certain signs in his propositions. This method would be unsatisfying to the other – he would not have the feeling that we were teaching him philosophy – but it would be the only strictly correct method. My propositions are elucidatory in this way: he who understands me finally recognizes them as senseless, when he has climbed out through them, on them, over them. (He must so to speak throw away the ladder, after he has climbed up on it.) He must surmount these propositions; then he sees the world rightly. Whereof one cannot speak, thereof one must be silent.”

“Phương pháp đúng của triết học hẳn là thế này. Không nói gì cả ngoài những thứ có thể được nói, tức là những mệnh đề của khoa học tự nhiên, tức là một cái gì chẳng liên can gì tới triết học; và rồi luôn luôn, khi một ai đó khác muốn nói một điều gì thuộc siêu hình học, hãy chứng minh cho y thấy rằng y chưa đưa ra được ý nghĩa nào cho những kí hiệu nhất định trong những mệnh đề của y. Phương pháp này ắt là không làm thoả mãn cho kẻ kia – y sẽ không có cảm nhận rằng chúng ta đang dạy triết học cho y – nhưng nó ắt là phương pháp duy nhất chính xác một cách nghiêm nhặt. Những mệnh đề của tôi mang tính giải minh trong lối này: người nào thấu hiểu tôi rốt ráo sẽ nhìn nhận chúng như là vô nghĩa, khi y đã leo ra qua chúng, trên chúng, bên trên chúng. (Có thể nói rằng y phải quăng cái thang đi sau khi y đã leo lên nó.) Y phải vượt trên những mệnh đề này; khi ấy y nhìn thế giới một cách chính đáng.

Về những gì người ta không thể nói lên, người ta phải im lặng về nó.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học (6.53, 6.54)

“A right-hand glove could be put on the left hand if it could be turned round in four-dimensional space.”

“Một cái bao của bàn tay phải có thể mang lên bàn tay trái nếu nó có thể lộn vòng trong không gian bốn chiều kích.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“The I, the I is what is deeplt mysterious.”

“Cái tôi, cái tôi là cái bí ẩn sâu xa.” ― Ludwig Wittgenstein

“476. Children do not learn that books exist, that armchairs exist, etc.,etc. – they learn to fetch books, sit in armchairs, etc.,etc. Later, questions about the existence of things do of course arise, “Is there such a thing as a unicorn?” and so on. But such a question is possible only because as a rule no corresponding question presents itself. For how does one know how to set about satisfying oneself of the existence of unicorns? How did one learn the method for determining whether something exists or not? “So one must know that the objects whose names one teaches a child by an ostensive definition exist.” – Why must one know they do? Isn’t it enough that experience doesn’t later show the opposite? For why should the language-game rest on some kind of knowledge? 478. Does a child believe that milk exists? Or does it know that milk exists? Does a cat know that a mouse exists? 479. Are we to say that the knowledge that there are physical objects comes very early or very late?”

“476. Trẻ em không học được rằng những cuốn sách tồn tại, rằng những chiếc ghế bành tồn tại, vân vân, vân vân. – chúng học cách kiếm tìm những cuốn sách, ngồi trong những ghế bành, vân vân, vân vân. Về sau, những câu hỏi về sự tồn tại của các vật dĩ nhiên không khởi lên, “Có vật nào như con một sừng không?” vân vân. Nhưng một câu hỏi như thế chỉ khả dĩ bởi như một quy luật không câu hỏi tương ứng nào tự trình ra. Vì làm sao một người biết cách khởi sự để tự thoả mãn về sự tồn tại của những con một sừng? Làm sao một người học được phương pháp về sự xác định liệu một vật nào đó có tồn tại hay không? 477. “Vậy người ta phải biết rằng những đối tượng mà tên của chúng người ta dạy cho một trẻ em bằng một định nghĩa như thật có là tồn tại.” – Tại sao người ta phải biết rằng chúng tồn tại? Chẳng phải là đủ sao rằng trải nghiệm về sau không phô ra điều tương phản? Bởi tại sao trò chơi ngôn ngữ lại nên dựa trên một loại tri thức nào đó? 478. Một trẻ em có tin rằng sữa tồn tại hay không? Hay nó biết rằng sữa tồn tại? Một con mèo có biết rằng một con chuột nhắt tồn tại hay không? 479. Chúng ta phải nói rằng tri thức rằng có những đối tượng vật thể tới rất sớm hay là rất trễ?” ― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc

198. “When we think about the future of the world, we mean the goal that will come if we continue to walk in the direction we are now in. It does not occur to us that its path is not an extended line; it is a curve that constantly changes its direction.”

“Nếu chúng ta nghĩ về tương lai của thế giới, chúng ta luôn luôn hiểu nghĩa rằng đó là nơi nó sẽ tới, nếu nó giữ cách tiến hành như chúng ta thấy nó đang tiến hành bây giờ và không xảy ra cho chúng ta rằng nó không đang tiến hành trong một đường thẳng mà là trong một đường cong & rằng định hướng của nó hằng biến đổi. [trích từ tác phẩm Văn hoá và Giá trị, mã số MS107176 thời gian khoảng: 24.10.1929]

― Ludwig Wittgenstein

“We cannot therefore say in logic: This and this there is in the world, that there is not.

For that would apparently presuppose that we exclude certain possibilities, and this cannot be the case since otherwise logic must get outside the limits of the world: that is, if it could consider these limits from the other side also.”

“Vì vậy chúng ta không thể nói trong luận lí: Cái này và cái này có trong thế giới, cái kia không có.

Bởi điều đó ắt dường như giả định trước rằng chúng ta loại trừ những khả tính nhất định, và điều này không thể là cơ sự bởi vì cách khác luận lí phải đi ra ngoài những giới hạn của thế giới: tức là, nếu nó có thể cứu xét những giới hạn này cũng từ phía bên kia nữa.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“What a curious attitude scientists have: “We still don’t know that; but it is knowable and it is only a matter of time before we get to know it!”’ As if that went without saying.”

“Các nhà khoa học có một thái độ rất lạ lẫm: ‘Chúng ta vẫn chưa biết điều đó; nhưng nếu nó có thể biết được và chỉ là một vấn đề thời gian trước khi chúng ta biết được nó!’ Như thể điều ấy đương nhiên không cần nói.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“A picture of a complete apple tree, however accurate, is in a certain sense much less like the tree itself than is a little daisy.”

“Một hình ảnh của một cây táo trọn vẹn, dù cho có chuẩn xác tới đâu đi nữa, trong một nghĩa nhất định vẫn phải nhiều phần không giống như tự thân cái cây kia cho bằng một bông cúc bé nhỏ.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Nothing in the visual field allows you to infer that it is seen by an eye.”

“Không gì trong thị trường cho phép bạn suy diễn rằng nó được nhìn bởi một con mắt.” ― Ludwig Wittgenstein

“It is not how things are in the world that is mystical, but that it (the world) exists at all…..”

“Không phải cách sự vật hiện hữu trong thế giới là huyền bí, mà là rằng nó (thế giới) có hề tồn tại…” ― Ludwig Wittgenstein

“deep inside me there’s a perpetual seething, like the bottom of a geyser, and I keep hoping that things will come to an eruption once and for all, so that I can turn into a different person.”

“sâu thẳm bên trong tôi có một điều gì triền miên sôi sục khôn nguôi, giống như đáy của một suối nước nóng, và tôi vẫn hoài hi vọng rằng sự vật sẽ đi tới một sự phun trào một lần và cho mãi mãi, để tôi có thể hoá thành một con người khác.” ― Ludwig Wittgenstein, Những thư gửi Russell, Keynes và Moore

“What is your aim in Philosophy?” “To show the fly the way out of the fly-bottle.”

“Mục tiêu của bạn trong Triết học là gì?” “Phô ra cho con ruồi lối ra khỏi cái chai bẫy ruồi.” ― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“There is no such thing as an isolated proposition. For what I call a “proposition” is a position in the game of language.”

“Không có một điều gì như là một mệnh đề cô lập. Bởi cái tôi gọi là một “mệnh đề” là một vị thế trong trò chơi về ngôn ngữ.” ― Ludwig Wittgenstein, Philosophical Grammar

“The atmosphere surrounding this problem is terrible. Dense clouds of language lie about the crucial point. It is almost impossible to get through to it.”

“Bầu khí quyển bao quanh vấn đề này là khủng khiếp. Những đám mây dầy đặc của ngôn ngữ nằm quanh điểm then chốt. Hầu như không thể đi qua để tới nó.” ― Ludwig Wittgenstein

“Wovon man nicht sprechen kann, darüber muss man schweigen”

“Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.”

― Ludwig Wittgenstein

“What I called jottings would not be a rendering of the text, not so to speak a translation with another symbolism. The text would not be stored up in the jottings. And why should it be stored up in our nervous system?”

“Những cái tôi gọi là những ghi mau ắt không phải là một thể hiện của văn bản, chẳng thể nói là một sự chuyển dịch bằng một lối biểu tượng khác. Văn bản ắt không nhằm được lưu trữ trong những ghi mau. Và cớ sao nó lại phải được lưu trữ trong hệ thần kinh của chúng ta?” ― Ludwig Wittgenstein, Zettel

“The philosophical I is not the man, not the human body or the human soul of which psychology treats, but the metaphysical subject, the limit -not a part of the world. […] If by eternity is understood not endless temporal duration but timelessness, then he lives eternally who lives in the present.”

“Cái tôi triết học không phải là con người, không phải là thân thể con người hay linh hồn con người mà khoa tâm lí học xử lí, mà là chủ thể thuộc siêu hình học, giới hạn – chứ không phải một phần của thế giới. […]

― Ludwig Wittgenstein

“To believe in God is to see that life has meaning”

“Tin vào Thượng đế là để nhìn thấy rằng đời sống có ý nghĩa.” ― Ludwig Wittgenstein

“It is difficult to describe paths of thought where there are already many paths laid down, and not fall into one of the grooves”

“Khó mô tả những lối đi của tư tưởng ở nơi đã có nhiều lối đi đã được đặt xuống, mà không rơi vào một trong những khe rãnh.” ― Ludwig Wittgenstein

“Here it can be seen that solipsism, when its implications are followed out strictly, coincides with pure realism.” “Ở đây có thể nhìn thấy rằng thuyết duy ngã (solipsism), khi những hàm nghĩa của nó được noi theo cho suốt một cách nghiêm nhặt, trùng hợp với thuyết hiện thực thuần tuý.” ― Ludwig Wittgenstein

“The book deals with the problems of philosophy and shows, as I believe, that the method of formulating these problems rests on the misunderstanding of the logic of our language.”

“Sách này xử lí những vấn đề của triết học và phô ra, như tôi tin tưởng, rằng phương pháp của sự lập công thức cho những vấn đề này dựa trên sự hiểu sai về luận lí của ngôn ngữ của chúng ta.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“5.641 […] Das philosophische Ich ist nicht der Mensch, nicht der menschliche Körper, oder die menschliche Seele, von der die Psychologie handelt, sondern das metaphysische Subjekt, die Grenze – nicht ein Teil – der Welt.”

“Vậy là thực sự có một nghĩa trong đó triết học có thể nói về tự thân trong một lối phi-tâm lí học. Cái đưa tự thân vào triết học là sự kiện rằng ‘Thế giới là thế giới của tôi’. Cái tôi triết học không phải là con người, không phải là thân thể con người hay linh hồn con người mà khoa tâm lí học xử lí, mà là chủ thể thuộc siêu hình học, giới hạn – chứ không phải một phần của thế giới.

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“I realize then that the disappearance of a culture does not signify the disappearance of human value, but simply of certain means of expressing this value, yet the fact remains that I have no sympathy for the current European civilization and do not understand its goals, if it has any. So I am really writing for friends who are scattered throughout the corners of the globe.”

“Khi ấy tôi nhận thức rằng sự biến mất của một nền văn hoá không tạo nghĩa sự biến mất của giá trị con người, mà chỉ là sự biến mất của phương tiện nhất định nào đó về cách biểu lộ giá trị này, thế nhưng sự kiện vẫn còn lại là tôi không có thiện cảm nào với nền văn minh châu Âu hiện hành và không thấu hiểu những mục đích của nó, nếu nó có hề bất cứ mục đích nào. Vậy nên tôi đang thực sự viết cho những người bạn rải rác suốt khắp các góc của trái đất.” ― Ludwig Wittgenstein

“Self-evidence, of which Russell has said so much, can only be discarded in logic by language itself preventing every logical mistake. That logic is a priori consists in the fact that we cannot think illogically.”

“Minh chứng tự thân, về nó Russell đã nói quá nhiều, chỉ có thể loại ra trong luận lí bằng chính tự thân ngôn ngữ ngăn ngừa mọi sai lầm luận lí. Luận lí đó tiên thiên gồm trong sự kiện rằng chúng ta không thể suy nghĩ một cách phi luận lí được.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“The gramophone record, the musical thought, the score, the waves of sound, all stand to one another in that pictorial internal relation, which holds between language and the world. To all of them the logical structure is common. (Like the two youths, their two horses and their lilies in the story. They are all in a certain sense one.)”

“Đĩa ghi âm, ý tưởng âm nhạc, nhạc phổ, những sóng của âm thanh, tất cả đứng với nhau trong mối tương quan bên trong về hình ảnh, nắm giữ giữa ngôn ngữ và thế giới. Đối với tất cả chúng, cấu trúc luận lí là chung. (Giống như hai thanh niên, hai con ngựa của họ và những bông huệ của họ trong câu truyện. Tất cả chúng trong một nghĩa nhất định là một.)” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Philosophy should make clear and delimit sharply the thoughts which otherwise are, as it were, opaque and blurred.”

“Triết học nên làm sáng tỏ và phân định một cách sắc bén những ý tưởng vốn, nếu không, vẫn là, mờ đục và bị nhoè.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Talent is a spring from which fresh water is constantly flowing. But this spring loses its value if it is not used in the right way.”

“Tài năng là một ngọn suối từ đó nước mát hằng tuôn chảy. Nhưng ngọn suối này mất giá trị của nó nếu nó không được sử dụng trong đường lối đúng.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Reading the Socratic dialogues one has the feeling: what a frightful waste of time! What’s the point of these arguments that prove nothing and clarify nothing?”

“Đọc những đối thoại của Socrates người ta có cảm giác: thật là một sự phí phạm thời gian kinh khiếp xiết bao! Những lập luận này không chứng minh gì hết và không làm sáng tỏ gì hết có đích điểm gì?” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“I have extremely little courage myself, much less than you; but I have found that whenever, after a long struggle, I have screwed my courage up to do something I always felt much freer & happy after it.”

“Tự thân tôi có can đảm cực nhỏ, ít hơn bạn nhiều; nhưng tôi đã thấy rằng hễ khi nào, sau một sự phấn đấu lâu dài, tôi đã dồn can đảm của mình để làm một cái gì đó, tôi luôn luôn cảm thấy tự do và sung sướng hơn nhiều sau đó.” ― Ludwig Wittgenstein

“But all propositions of logic say the same thing. That is, nothing.”

“Nhưng mọi mệnh đề của luận lí nói cùng thứ. Đó là, chẳng có gì.” ― Ludwig Wittgenstein

“Philosophical problems can be compared to locks on safes, which can be opened by dialing a certain word or number, so that no force can open the door until just this word has been hit upon, and once it is hit upon any child can open it.”

“Những vấn đề triết học có thể được so sánh với những ổ khoá trên những tủ an toàn, chúng có thể được mở ra bằng cách xoay một từ ngữ hay một con số nhất định, sao cho không sức mạnh nào có thể mở được cái cửa đó cho tới khi chính từ ngữ này được đánh trúng, và một khi nó được đánh trúng rồi bất cứ đứa trẻ con nào cũng có thể mở nó.” ― Ludwig Wittgenstein

“The essential business of language is to assert or deny facts. Given.”

“Công việc thiết yếu của ngôn ngữ là xác định hoặc phủ nhận các sự kiện. Các sự kiện được cho (Các dữ kiện).” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Die Welt des Glücklichen ist eine andere als die des Unglücklichen.”

“The world of the happy is quite different from that of the unhappy.”

“Thế giới của những kẻ hạnh phúc hoàn toàn khác biệt với thế giới của những kẻ không hạnh phúc.”

― Ludwig Wittgenstein

“It used to be said that God could create anything except what would be contrary to the laws of logic. The truth is that we could not say what an “illogical” world would look like.”

“Người ta thường nói rằng Thượng đế có thể sáng tạo bất cứ thứ gì ngoại trừ cái gì trái với những luật của luận lí. Sự thật là rằng chúng ta không thể nói được một thế giới “phi luận lí” sẽ giống như thế nào.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Los límites de mi lenguaje son los límites de mi mente. Sólo conozco aquello para lo que tengo palabras.”

“Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi là những giới hạn của thế giới của tôi. Tôi chỉ biết những gì tôi có từ ngữ cho.” ― Ludwig Wittgenstein

“11. I am inclined to say: I ‘point’ in different sensesto this body, to its shape, to its colour, etc.–What does that mean? What does it mean to say I ‘hear’ in a different sensethe piano, its sound, the piece, the player, his fluency? I ‘marry’, in one sense a woman, in another her money.”

“11. Tôi có chiều hướng nói: Tôi ‘chỉ ra’ trong những ý hướng khác nhau về cái thân thể này, về hình dáng của nó, về màu sắc của nó, vân vân. – Điều đó có nghĩa gì? Có nghĩa gì để nói tôi ‘nghe’ trong một ý hướng khác biệt dương cầm, âm thanh của nó, khúc nhạc, người chơi, sự thành thạo của y? Tôi ‘cưới’, trong một ý hướng một người đàn bà, trong một ý hướng khác tiền của cô ta.” ― Ludwig Wittgenstein, Zettel

“The limits of my language mean the limits of my world.”

“Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi là những giới hạn của thế giới của tôi.” ― Ludwig Wittgenstein

“Der Satz der Mathematik drückt keinen Gedanken aus.”

“Những mệnh đề toán học không biểu thị ý tưởng nào hết.” ― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học21

“Die Welt ist alles, was der Fall ist. Die Welt ist die Gesamtheit der Tatsachen, nicht der Dinge…”

“The world is everything that is the case. The world is the totality of facts, not of things.”

“Thế giới là mọi thứ làm nên cơ sự. Thế giới là toản thể các sự kiện, không phải các sự vật.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học 1 & 1.1

“Most propositions and questions, that have been written about philosophical matters, are not false, but senseless. We cannot, therefore, answer questions of this kind at all, but only state their senselessness. Most questions and propositions of the philosophers result from the fact that we do not understand the logic of our language.”

“Hầu hết những mệnh đề và những câu hỏi đã được viết về những vấn đề triết học không phải là sai, nhưng là vô nghĩa. Vì vậy chúng ta không thể trả lời những câu hỏi thuộc loại này chút nào mà chỉ phát biểu sự vô nghĩa của chúng. Hầu hết những câu hỏi và những mệnh đề của các triết gia hậu quả từ sự kiện rằng chúng ta không thấu hiểu luận lí về ngôn ngữ của chúng ta.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Our investigation is a grammatical one. Such an investigation sheds light on our problem by clearing misunderstandings away. Misunderstandings concerning the use of words, caused, among other things, by certain analogies between the forms of expression in different regions of language.”

“Sự điều tra của chúng ta là một điều tra mang tính ngữ pháp. Một điều tra như thế rải ánh sáng lên vấn đề của chúng ta bằng việc thanh toán những hiểu lầm.

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Philosophy limits the disputable sphere of natural science.”

“Triết học giới hạn khối cầu tranh cãi của khoa học tự nhiên.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Waltzing is not the same thing as dancing, since the rhumba is also a dance but it is not a waltz. It therefore follows that one can waltz without dancing the waltz.”

“Luân vũ (điệu waltz/valse) không phải cùng thứ với khiêu vũ, bởi rhumba cũng là một điệu vũ nhưng nó không phải một điệu luân vũ. Bởi vậy đi theo rằng người ta có thể luân vũ mà không khiêu vũ điệu luân vũ.”

― Ludwig Wittgenstein

“Some people’s taste is to an educated taste as is the visual impression received by a purblind eye to that of a normal eye. Where a normal eye will see something clearly articulated, a weak eye will see a blurred patch of colour.”

“Thị hiếu của một số người là một thị hiếu được dạy dỗ cũng như ấn tượng thị giác được tiếp nhận bởi một con mắt loà so với cái của một con mắt bình thường. Nơi mà con mắt bình thường sẽ nhìn thấy điều gì đó được phát biểu minh bạch, một con mắt yếu sẽ nhìn thấy một mảng nhoà về màu sắc.”

― Ludwig Wittgenstein, trích từ Văn hoá và Giá trị / Văn hoá và Giá trị

“I have always thought that Darwin was wrong: his theory doesn’t account for all this variety of species. It hasn’t the necessary multiplicity. Nowadays some people are fond of saying that at last evolution has produced a species that is able to understand the whole process which gave it birth. Now that you can’t say. [Drury, Conversation with Wittgenstein, p174]”

“Tôi vốn luôn nghĩ rằng Darwin sai lầm: lí thuyết của ông không kết toán cho tất cả sự đa dạng này về chủng loại. Nó không có sự đa phức thiết yếu. Ngày nay một số người ưa nói rằng cuối cùng sự tiến hoá đã sản sinh một chủng loại có thể thấu hiểu toàn bộ tiến trình đã sinh ra nó. Nay điều đó bạn không thể nói được.

[trích từ Drudy, Nói chuyện với Wittgenstein, trang 174]” ― Ludwig Wittgenstein

“This is connected with the conception of naming as a process that is, so to speak, occult. Naming seems to be a _strange_ connection of a word with an object. — And such a strange connection really obtains, particularly when a philosopher tries to fathom _the_ relation between name and what is named by staring at an object in front of him and repeating a name, or even the word “this”, innumerable time. For philosophical problems arise when language goes on holiday. And _then_ we may indeed imagine naming to be some remarkable mental act, as it were the baptism of an object. And we can also say the word “this” _to_ the object, as it were _address_ the object as “this” — a strange use of this word, which perhaps occurs only when philosophizing.”

“Điều này gắn kết với quan niệm về gọi tên như một tiến trình vốn là, có thể nói, bí hiểm. Đặt tên dường như là một gắn kết_lạ lẫm_của một từ với một đối tượng. – Và một sự gắn kết lạ lẫm như thế thực sự có được, đặc thù khi một nhà triết học cố thăm dò _cái_tương quan giữa cái tên và cái được gọi tên bằng việc đăm đăm nhìn một đối tượng đằng trước y và lặp lại một cái tên, hoặc thậm chí từ “cái này”, vô số lần. Bởi những vấn đề triết học nảy sinh khi ngôn ngữ nghỉ lễ. Và rồi chúng ta có thể đúng vậy tưởng tượng rằng việc đặt tên là một hành vi tâm trí đáng kể nào đó, bởi nó là lễ tẩy rửa cho một đối tượng, và chúng ta cũng có thể nói từ “cái này” với đối tượng, như nó là vậy – đối đãi – đối tượng như là “cái này” – một sự lạ lẫm của từ này, điều có lẽ chỉ xảy ra khi làm triết học.”

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Humor is not a mood but a way of looking at the world. It is correct to say that humor was stamped out in Nazi Germany, but that does not mean that people were not in good spirits, or anything of that sort, but something much deeper and more important.”

“Hài hước không phải là một tâm thái mà là một cách nhìn vào thế giới. Chính xác để nói rằng hài hước bị vùi dập ở nước Đức Quốc xã; nhưng điều đó không có nghĩa rằng người ta không có tinh thần cao hứng, hoặc bất cứ điều gì đại loại như thế, nhưng là một điều gì đó thâm sâu hơn và quan trọng hơn.” ― Ludwig Wittgenstein

“To convince someone of the truth, it is not enough to state it, but rather one must find the path from error to truth.”

“Làm một ai đó xác tín về sự thật, phát biểu nó là không đủ, mà đúng ra người ta phải tìm ra con đường từ sai lầm tới sự thật.”

― Ludwig Wittgenstein, Những dịp Triết học: 1912-1951

“The work of art is the object seen sub specie aeternitatis [i.e., under the aspect of eternity]; and the good life is the world seen sub specie aeternitatis. This is the connection between art and ethics.”

“Tác phẩm nghệ thuật là đối tượng được nhìn dưới khía cạnh vĩnh hằng (sub specie aeternitatis) [tức là, dưới khía cạnh của vĩnh hằng]; và đời sống tốt lành là thế giới nhìn dưới khía cạnh vĩnh hằng (sub specie aeternitatis). Đây là sự gắn kết giữa nghệ thuật và đạo đức học.”

― Ludwig Wittgenstein

“Don’t get involved in partial problems, but always take flight to where there is a free view over the whole single great problem, even if this view is still not a clear one”

“Đừng để bị can dự vào những vấn đề từng phần, mà luôn luôn cất cánh tới nơi có cái nhìn tự do trên trọn vẹn vấn đề lớn đơn độc, dù cho cái nhìn này vẫn chưa phải là một cái nhìn minh bạch.”

― Ludwig Wittgenstein

“…the tendency of all men who ever tried to write or talk Ethics or Religion was to run against the boundaries of language. This running against the walls of our cage is perfectly, absolutely hopeless.”

“… khuynh hướng của mọi người từng bao giờ cố viết hay nói về Đạo đức hoặc Tông giáo là chạy đâm sầm vào những đường biên của ngôn ngữ. Việc chạy đâm vào những bức tường của cái lồng của chúng ta là hoàn toàn, tuyệt đối vô hi vọng.”

― Ludwig Wittgenstein, Diễn từ về Đạo đức học

“We feel that even if all possible scientific questions be answered, the problems of life have still not been touched at all. Of course there is then no question left, and just this is the answer.”

“Chúng ta cảm thấy rằng dù cho tất cả những câu hỏi khoa học khả dĩ đều được trả lời, những vấn đề của đời sống vẫn còn chưa hề được chạm tới chút nào. Dĩ nhiên khi ấy không có câu hỏi nào còn lại, và chính cái này là câu trả lời.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Me siento inclinado a decir que la expresión lingüística correcta del milagro de la existencia del mundo -a pesar de no ser una proposición enel lenguaje- es la existencia del lenguaje mismo”

“Now I am tempted to say that the right expression in language for the miracle of the existence of the world, though it is not any proposition in language, is the existence of language itself.”

“Nay tôi bị cám dỗ để nói rằng biểu hiện đúng trong ngôn ngữ về phép lạ của sự tồn tại của thế giới, mặc dù nó không phải là bất cứ mệnh đề nào trong ngôn ngữ, chính là sự tồn tại tự thân của ngôn ngữ.”

― Ludwig Wittgenstein, Hội thảo về Đạo đức học / Conferencia sobre ética

“Our civilization is characterized by the word progress. Progress is its form rather than making progress being one of its features. Typically it constructs. It is occupied with building an ever more complicated structure. And even clarity is sought only as a means to this end, not as an end in itself. For me on the contrary clarity, perspicuity are valuable in themselves.”

“Văn minh của chúng ta đặc trưng bởi từ tiến bộ. Tiến bộ là hình thức của nó hơn việc tạo tiến bộ là một trong những sự nổi trội của nó. Tiêu biểu nó xây dựng. Nó miệt mài với việc xây dựng một cấu trúc ngày càng phức tạp hơn. Và thậm chí sự minh bạch cũng chỉ được tìm kiếm như một phương tiện cho cứu cánh này, chứ không phải như một cứu cánh tự thân. Đối với tôi trái lại, sự minh bạch, sự thông suốt là có giá trị trong tự thân chúng.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“სამყაროს საზრისი მის გარეთ უნდა იყოს. სამყაროში ყველაფერი ისეა, როგორც არის და ისე ხდება, როგორც ხდება. მასში (სამყაროში) ღირებულება არაფერია და რომ ყოფილიყო, მას ღირებულება არ ექნებოდა […]როგორც სიკვდილის დროს, სამყარო კი არ იცვლება, არამედ წყვეტს არსებობას. სიკვდილი არ არის სიცოცხლის მოვლენა, სიკვდილს არ განვიცდით […] ღმერთი არ ცხადდება სამყაროში.”

“Ý hướng của thế giới phải nằm bên ngoài thế giới. Trong thế giới mọi thứ là như nó là và xảy ra như nó quả xảy ra. Trong nó, không có giá trị gì – và nếu có, ắt cũng là vô giá trị. Nếu có một giá trị có giá trị, nó phải nằm bên ngoài mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy. Bởi mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy là tình cờ. Nó phải nằm bên ngoài thế giới. Cũng do đó, không thể có những mệnh đề đạo đức nào. Những mệnh đề không thể biểu hiện bất cứ thứ gì cao cấp hơn. Minh bạch rằng đạo đức không thể được biểu hiện. Đạo đức là siêu việt. (Đạo đức học và mĩ học là một.)”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 6.41

“2.223 In order to discover whether the picture is true or false we must compare it with reality. 2.224 It cannot be discovered from the picture alone whether it is true or false. 2.225 There is no picture which is a priori true.”

“2.223 Để khám phá ra hình ảnh là đúng thực hoặc sai trái chúng ta phải so sánh nó với thực tại. 224 Không thể khám phá được riêng từ hình ảnh rằng nó đúng thực hoặc sai trái. 2.225 Không có hình ảnh nào là đúng thực tiên thiên.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“We have got onto slippery ice where there is no friction and so in a certain sense the conditions are ideal, but also, just because of that, we are unable to walk. We want to walk so we need friction. Back to the rough ground!”

“Chúng ta đã mắc vào băng trơn trượt nơi không có ma sát và vậy nên trong một ý hướng nhất định các điều kiện là lí tưởng, nhưng cũng thế, ngay bởi điều đó, chúng ta không cất bước được. Chúng ta muốn cất bước vậy nên chúng ta cần ma sát. Quay về với mặt nền thô nhám!”

― Ludwig Wittgenstein

“The same operation which makes “q” from “p”, makes “r” from “q”, and so on. This can only be expressed by the fact that “p”, “q”, “r”, etc., are variables which give general expression to certain formal relations.”

“Cùng thao tác tạo “q” từ “p”, tạo “r” từ “q”, và vân vân. Điều này chỉ có thể biểu hiện bằng sự kiện rằng “p”, “q”, “r”, vân vân, là những biến thiên cho biểu hiện tổng quát về những tương quan hình thức nhất định.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Man has to awaken to wonder — and so perhaps do peoples. Science is a way of sending him off to sleep again.”

“Con người phải tỉnh thức để ngạc nhiên – và có lẽ các dân tộc cũng vậy. Khoa học là một lối đưa đẩy con người lại ngủ.”

― Ludwig Wittgenstein

“6.4 All propositions are of equal value. 6.41 The sense of the world must lie outside the world. In the world everything is as it is and happens as it does happen. In it there is no value—and if there were, it would be of no value.   If there is a value which is of value, it must lie outside all happening and being-so. For all happening and being-so is accidental.   What makes it non-accidental cannot lie in the world, for otherwise this would again be accidental.   It must lie outside the world.”

“6.4 Mọi mệnh đề đều có giá trị như nhau. 41 Ý hướng của thế giới phải nằm bên ngoài thế giới. Trong thế giới mọi thứ là như nó là và xảy ra như nó quả xảy ra. Trong nó, không có giá trị gì – và nếu có, ắt cũng là vô giá trị. Nếu có một giá trị có giá trị, nó phải nằm bên ngoài mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy. Bởi mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy là tình cờ. Nó phải nằm bên ngoài thế giới.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“It is obvious that an imagined world, however different it may be from the real one, must have something – a form – in common with it.”

“Hiển nhiên rằng một thế giới được tưởng tượng ra, dù cho nó có khác biệt đến đâu so với cái thế giới có thực, phải có một điều gì – một hình thức – chung với nó.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“6.41 Der Sinn der Welt muss ausserhalb ihrer liegen.” “6.41 Ý hướng của thế giới phải nằm bên ngoài thế giới.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“A particular method of symbolizing may be unimportant, but it is always important that this is a possible method of symbolizing. And this happens as a rule in philosophy: The single thing proves over and over again to be unimportant, but the possibility of every single thing reveals something about the nature of the world.”

“Một phương pháp đặc thù về biểu tượng hoá có thể là quan trọng, nhưng luôn luôn quan trọng rằng đây là một phương pháp khả dĩ về biểu tượng hoá. Và điều này xảy ra như một quy luật trong triết học: Điều đơn nhất chứng tỏ lặp đi và lặp lại là không quan trọng, nhưng khả tính của mọi vật đơn nhất bộc lộ một điều gì về bản tính của thế giới.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“One interesting thing is the idea that people have of a kind of science of Aesthetics. I would almost like to talk of what could be meant by Aesthetics. You might think Aesthetics is a science telling us what’s beautiful – almost too ridiculous for words. I suppose it ought to include also what sort of coffee tastes well. I see roughly this – there is a realm of utterance of delight, when you taste pleasant food or smell a pleasant smell, etc., then there is a realm of Art which is quite different, though often you may make the same face when you hear a piece of music as when you taste good food. (Though you may cry at something you like very much.) Supposing you meet someone in the street and he tells you he has lost his greatest friend, in a voice extremely expressive of his emotion. You might say: ‘It was extraordinarily beautiful, the way he expressed himself.’ Supposing you then asked: ‘What similarity has my admiring this person with my eating vanilla ice and like it?’ To compare them seems almost disgusting. (But you can connect them by intermediate cases.) Suppose someone says ‘But this is a quite different kind of delight.’ But did you learn two meanings of ‘delight’? You use the same word on both occasions. There is some connection between these delights. Although in the first case the emotion of delight would in our judgement hardly count.”

“Một điều lí thú là ý niệm mà người ta có về một loại khoa học về Mĩ học. Tôi hầu như ưa nói về những gì có thể có nghĩa do Mĩ học. Bạn không chừng nghĩ Mĩ học là một khoa học bảo cho chúng ta cái gì là đẹp – hầu như quá lố bịch về từ ngữ. Tôi giả thiết nó ắt là cũng nên bao gồm luôn thứ cà phê nào nếm ngon. Tôi thấy đại khái thế này – có một địa hạt của thốt ra về khoái lạc, khi bạn nếm đồ ăn thích thú hay ngửi một mùi thích thú, vân vân, rồi có một cõi của Nghệ thuật hoàn toàn khác biệt, mặc dù thường khi bạn có cùng gương mặt khi bạn nghe một khúc nhạc như khi bạn nếm thức ăn ngon. (Tuy bạn có thể khóc với một điều gì bạn rất thích.) Giả thử bạn gặp ai đó trong đường phố và y bảo bạn y đã mất người bạn lớn nhất, trong một giọng cực độ biểu cảm về xúc động của y. Bạn có thể nói: ‘Thật đẹp khác thường cách y biểu hiện tự thân.” Giả thử khi đó bạn hỏi: ‘Việc tôi thán phục con người này có sự tương tự gì với việc tôi ăn kem vani và thích nó?’ So sánh chúng hầu như gây phản cảm. (Nhưng bạn có thể gắn kết chúng bằng những sự vụ trung gian.)’ Giả thử ai đó nói ‘Nhưng đây là một loại khoái lạc hoàn toàn khác biệt.’ Nhưng bạn có đã học được hai ý nghĩa của ‘khoái lạc’ hay không? Bạn sử dụng cùng từ ngữ trong cả hai trường hợp. Có một sự gắn kết nào đó giữa những khoái lạc này. Mặc dù trong trường hợp thứ nhất xúc động về khoái lạc trong phán đoán của chúng ta ắt chẳng đáng kể.”

― Ludwig Wittgenstein, Diễn từ và Đàm thoại về Mĩ học, Tâm lí, và Niềm tin Tông giáo / Lectures and Conversations on Aesthetics, Psychology and Religious Belief

“The best for me, perhaps, would be if I could lie down one evening and not wake up again.”

“Điều tốt nhất đối với tôi, có lẽ, ắt là nếu tôi có thể nằm xuống một buổi tối và không tỉnh dậy nữa.”

― Ludwig Wittgenstein, Những thư gửi Russell, Keynes và Moore

“El disco gramofónico, el pensamiento musical, la notación musical, las ondas sonoras, están todos entre sí en esa relación interna figurativa que se da entre lenguaje y mundo.”

“Philosophy should make clear and delimit sharply the thoughts which otherwise are, as it were, opaque and blurred.”

“Triết học nên làm sáng tỏ và phân định một cách sắc bén những ý tưởng vốn, nếu không, vẫn là, mờ đục và bị nhoè.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 4.014

“Tutto ciò che si può dire lo si può dire chiaramente. Su ciò di cui non si può parlare si deve tacere.”

“Everything that can be thought at all can be thought clearly. Everything that can be said can be said clearly.”

“Mọi thứ có thể được suy nghĩ chút nào đều có thể được suy nghĩ một cách minh bạch. Mọi thứ có thể được nói ra đều có thể được nói ra một cách minh bạch.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 4.116

“That of which we cannot speak, we must pass over in silence”

“Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“I am now in another hole, though I have to say, it is no better than the old one. Living with human beings is hard!”

“Tôi bây giờ đang ở trong một cái hố khác, mặc dù tôi phải nói, nó chẳng khá hơn cái hố cũ. Sống với con người thật khó!”

― Ludwig Wittgenstein, Những thư gửi Russell, Keynes và Moore

“When philosophers use a word—’knowledge,’ ‘being,’ ‘object,’ ‘I,’ ‘proposition,’ ‘name,’ and try to grasp the essence of the thing, one must always ask oneself; is the word ever actually used in this way in the language-game which is its original home?…What we do is to bring words back from their metaphysical to their everyday use.”

“Khi các triết gia sử dụng một từ ngữ – ‘tri thức’, ‘hữu thể’, ‘đối tượng’, ‘tôi’, ‘mệnh đề’, ‘cái tên’, và cố gắng nắm bắt yếu tính của sự vật, người ta phải luôn luôn tự hỏi; từ ngữ đó có bao giờ thực sự được sử dụng trong lối này trong cái trò chơi ngôn ngữ vốn là mái nhà nguyên thuỷ của nó chăng… Những gì chúng ta làm là đưa những từ ngữ từ cách sử dụng siêu hình học về lại với cách sử dụng hàng ngày của chúng.”

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“303. “I can only believe that someone else is in pain, but I know it if I am.”—Yes: one can make the decision to say “I believe he is in pain” instead of “He is in pain”. But that is all.——What looks like an explanation here, or like a statement about a mental process, is in truth an exchange of one expression for another which, while we are doing philosophy, seems the more appropriate one. Just try—in a real case—to doubt someone else’s fear or pain.”

“303. Tôi chỉ có thể tin rằng một ai đó khác đang đau đớn, nhưng tôi biết điều đó nếu tôi đau đớn.” – đúng vậy: người ta có thể làm quyết định để nói “Tôi tin y đang đau đớn” thay vì “Y đang đau đớn”. Nhưng đó là tất cả – – Cái xem giống như một sự giải thích ở đây, hoặc giống như một phát biểu về một tiến trình tâm trí, thực sự là một sự hoán đổi của một biểu hiện cho một biểu hiện khác nó vốn, trong khi chúng ta đang làm triết học, dường như là cái thích hợp hơn. Hãy thử – trong một sự vụ có thực – nghi ngờ sự sợ hay sự đau đớn của một ai đó khác.”

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“Los limites de mi lenguaje son los limites de mi mundo”

“Những giới hạn của ngôn ngữ của tôi là những giới hạn của thế giới của tôi.” ― Ludwig Wittgenstein

“O čem není možno mluvit, o tom se musí mlčet.”

“Cái gì người ta không thể nói về, cái đó người ta phải im lặng về nó.”

― Ludwig Wittgenstein

“an inner process stands in need of outward criteria”

“một tiến trình bên trong cần những tiêu chuẩn hướng ngoại”

― Ludwig Wittgenstein

“The object of philosophy is the logical clarification of thoughts.   Philosophy is not a theory but an activity.   A philosophical work consists essentially of elucidations.   The result of philosophy is not a number of “philosophical propositions”, but to make propositions clear.   Philosophy should make clear and delimit sharply the thoughts which otherwise are, as it were, opaque and blurred.”

“Mục tiêu của triết học là sự minh bạch hoá về luận lí của những ý tưởng. Triết học không phải là một lí thuyết mà là một hoạt động. Một công cuộc triết học thiết yếu gồm những sự làm sáng tỏ. Kết quả của triết học không phải là một số những “mệnh đề triết học”, mà là khiến những mệnh đề minh bạch. Triết học nên làm sáng tỏ và phân định một cách sắc bén những ý tưởng vốn, nếu không, vẫn là, mờ đục và bị nhoè.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“In the middle of a conversation, someone says to me out of the blue: “I wish you luck.” I am astonished; but later I realize that these words connect up with his thoughts about me. And now they do not strike me as meaningless any more.” Và bây giờ chúng không còn đánh động tôi như là vô nghĩa nữa.”

― Ludwig Wittgenstein

“The world is my world: this is shown by the fact that the limits of language stand for the limits of my world…I am my world.”

“Thế giới là thế giới của tôi: điều này được phô ra bằng sự kiện rằng những giới hạn của ngôn ngữ thay chỗ cho những giới hạn của thế giới của tôi… Tôi là thế giới của tôi.”

― Ludwig Wittgenstein

“La soluzione del problema che tu vedi nella vita è un modo di vivere che fa scomparire ciò che rappresenta un problema. Se la vita è problematica è segno che la tua vita non si adatta alla forma della vita. Devi quindi cambiare la tua vita; quando si adatterà alla forma, allora scomparirà ciò che è problematico.”

“The solution to the problem that you see in life is a way of life that makes disappear what is a problem. If life is problematic it is a sign that your life does not adapt to the form of life. You must therefore change your life; when it adapts to the form, then what is problematic will disappear.”

“Giải pháp cho vấn đề mà bạn thấy trong đời sống là một lối sống khiến cái là một vấn đề biến mất. Nếu đời sống là vấn nạn nó là một dấu hiệu rằng đời sống của bạn không thích ứng với hình thức của đời sống. Vì vậy bạn phải thay đổi đời sống của bạn; khi nó thích ứng với hình thức, khi ấy cái là vấn nạn sẽ biến mất.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị – 31

“Christianity is not a doctrine, not, I mean, a theory about what has happened and will happen to the human soul, but a description of something that actually takes place in human life. For ‘consciousness of sin’ is a real event and so are despair and salvation through faith. Those who speak of such things (Bunyan, for instance) are simply describing what has happened to them, whatever gloss anyone may want to put on it.”

“Kitô giáo không phải là một chủ thuyết, không phải, tôi muốn nói, một lí thuyết về những gì đã xảy ra và sẽ xảy ra với linh hồn con người, mà là một sự mô tả về một điều gì thực sự diễn ra trong đời sống con người. Bởi ‘ý thức về tội lỗi’ là một sự cố có thực cũng như sự tuyệt vọng và sự cứu chuộc qua đức tin. Những ai nói về những điều như thế (chẳng hạn như Bunyan) chỉ là đơn giản miêu tả những gì đã xảy ra với họ, bất kể lớp hào nhoáng nào bất cứ ai có thể đặt trên đó.”

― Ludwig Wittgenstein

“6.4311 Der Tod ist kein Ereignis des Lebens. Den Tod erlebt man nicht. Wenn man unter Ewigkeit nicht unendliche Zeitdauer, sondern Unzeitlichkeit versteht, dann lebt der ewig, der in der Gegenwart lebt.”

“6.4311 Cái chết không phải là một sự cố của sự sống. Cái chết không được sống qua. Nếu vĩnh hằng được hiểu là

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“If a lion could talk, we could not understand him.”

“Nếu một con sư tử có thể cất tiếng nói, chúng ta ắt không hiểu được nó.”

― Ludwig Wittgenstein

“O fato de uma proposição poder revelar-se falsa depende, em última instância, daquilo que eu considerar como predominantes dessa proposição.”

“Một mệnh đề sau cùng có thể hoá ra sai hay không tuỳ thuộc vào những gì tôi kết toán như là những quyết định cho mệnh đề đó.”

― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc, 5

“Christianity is not a doctrine, I mean, a theory about what has happened and will happen to the human soul, but a description of something that actually takes place in human life. For ‘consciousness of sin’ is a real event an so are despair and salvation through faith. Those who speak of such things (Bunyan for instance) are simply describing what has happened to them, whatever gloss anyone may want to put on it.”

“Kitô giáo không phải là một chủ thuyết, không phải, tôi muốn nói, một lí thuyết về những gì đã xảy ra và sẽ xảy ra với linh hồn con người, mà là một sự mô tả về một điều gì thực sự diễn ra trong đời sống con người. Bởi ‘ý thức về tội lỗi’ là một sự cố có thực cũng như sự tuyệt vọng và sự cứu chuộc qua đức tin. Những ai nói về những điều như thế (chẳng hạn như Bunyan) chỉ là đơn giản miêu tả những gì đã xảy ra với họ, bất kể lớp hào nhoáng nào bất cứ ai có thể đặt trên đó.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Tem de admitir-se que é verdade que saber qualquer coisa não implica pensar nisso – mas alguém que saiba de alguma coisa não tem de ser capaz de duvidar dela? E duvidar significa pensar.”

“Thừa nhận đúng rằng ‘nghi ngờ một điều gì’ không liên can suy nghĩ về nó – nhưng chẳng phải là bất cứ ai biết một điều gì cũng có khả năng về nghi ngờ? Và sự nghi ngờ có nghĩa là sự suy nghĩ.”

― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc, 480

“The “experience” which we need to understand logic is not that such and such is the case, but that something is; but that is no experience.   Logic precedes every experience—that something is so.   It is before the How, not before the What.”

“ “Trải nghiệm” mà chúng ta cần để thấu hiểu luận lí không phải rằng một điều này hay điều khác là sự vụ, mà rằng điều gì là; tuy nhiên điều đó không phải là trải nghiệm. Luận lí là trước mọi trải nghiệm – rằng điều gì là như thế. Nó là trước câu hỏi ‘Như thế nào?’, không phải trước câu hỏi ‘Cái gì?’.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 5.552

“No pain can be greater than the pain of one person. […] In other words, no suffering can be greater than that of one human being. […} The whole planet cannot suffer more than a lone soul.”

“Không đau đớn nào có thể lớn hơn đau đớn của một con người. […] Nói cách khác, không đau khổ nào có thể lớn hơn đau khổ của một hữu thể con người. […] Toàn hành tinh không thể đau khổ hơn một linh hồn đơn độc.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị, 45-46

“It is clear that ethics cannot be expressed. Ethics are transcendental. (Ethics and æsthetics are one.)”

“Minh bạch rằng đạo đức học không thể được biểu hiện. Đạo đức học là siêu việt. (Đạo đức học và mĩ học là một.)”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“Our civilization is characterised by the word ‘progress’. Progress is its form rather than making progress one of its features. Typically it constructs. It is occupied with building an ever more complicated structure. And even clarity is sought only as a means to this end, not as an end in itself. For me on the contrary, clarity, perspicuity are valuable in themselves.

I am not interested in constructing a building, so much as in having a perspicuous view of the foundations of possible buildings.”

“Văn minh của chúng ta đặc trưng bởi từ tiến bộ. Tiến bộ là hình thức của nó hơn việc tạo tiến bộ là một trong những sự nổi trội của nó. Tiêu biểu nó xây dựng. Nó miệt mài với việc xây dựng một cấu trúc ngày càng phức tạp hơn. Và thậm chí sự minh bạch cũng chỉ được tìm kiếm như một phương tiện cho cứu cánh này, chứ không phải như một cứu cánh tự thân. Đối với tôi trái lại, sự minh bạch, sự thông suốt là có giá trị trong tự thân chúng.

Tôi không quan tâm vào việc xây dựng một toà nhà, cho bằng việc có một cái nhìn thông suốt về những nền tảng của các toà nhà khả dĩ.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“Tautology and contradiction are, however, not senseless; they are part of the symbolism, in the same way that “0” is part of the symbolism of Arithmetic.”

“Những sự nói trùng và những mâu thuẫn, tuy nhiên, không phải là vô nghĩa, chúng là thành phần của sự biểu tượng, như thể ‘0’ là thành phần của sự biểu tượng của Số học.

Những sự nói trùng và những mâu thuẫn không phải là những hình ảnh của thực tại. Chúng không tái hiện bất cứ tình huống khả dĩ nào. Bởi những sự nói trùng tiếp nhận tất cả mọi tình huống khả dĩ, còn những mâu thuẫn không tiếp nhận tình huống nào cả.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 4.4611

“What is good is also divine. Queer as it sounds, that sums up my ethics. Only something supernatural can express the Supernatural.”

“Cái gì tốt lành cũng là linh thánh. Nghe ra như lạ lẫm, điều đó tổng kết đạo đức học của tôi. Chỉ cái gì mang tính siêu nhiên mới có thể biểu hiện Cái siêu nhiên.”

― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị, ?

“The sense of the world must lie outside the world. In the world everything is as it is, and everything happens as it does happen: in it no value exists—and if it did exist, it would have no value. If there is any value that does have value, it must lie outside the whole sphere of what happens and is the case. For all that happens and is the case is accidental. What makes it non-accidental cannot lie within the world, since if it did it would itself be accidental. It must lie outside the world.”

“6.41 Ý hướng của thế giới phải nằm bên ngoài thế giới. Trong thế giới mọi thứ là như nó là và xảy ra như nó quả xảy ra. Trong nó, không có giá trị gì – và nếu có, ắt cũng là vô giá trị. Nếu có một giá trị có giá trị, nó phải nằm bên ngoài mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy. Bởi mọi xảy ra và hiện hữu-như vậy là tình cờ. Nó phải nằm bên ngoài thế giới.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 6.41

“For the essence of the symbol cannot be altered without altering its sense.”

“Yếu tính của biểu tượng không thể bị biến cải mà không làm biến cải cảm thức về nó.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, ?

“A certeza é por assim dizer um tom de voz em que alguém declara como são as coisas, mas não se infere desse tom que tem razão.”

“Khi ai đó đã đoan chắc về điều gì, y nói: “phải, tính toán là đúng”, nhưng y không quy chiếu điều đó từ những điều kiện của y về sự đoan chắc. Người ta không quy chiếu sự vật ra sao từ sự đoan chắc của chính tự thân. Sự đoan chắc vốn là một thanh sắc của giọng nói trong đó một người tuyên bố sự vật ra sao, nhưng người ta không quy chiếu từ thanh sắc của giọng nói rằng người ta được biện minh.”

― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc, 30

“De filosoof behandelt een vraag zoals men dat met een ziekte doet.”

“Triết gia xử lí một vấn đề như một căn bệnh.”

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học, 255

“The sole remaining task for philosophy is the analysis of language.”

“Nhiệm vụ đơn độc còn lại cho triết học là sự phân tích về ngôn ngữ.”

― Ludwig Wittgenstein

“2.22 What a picture represents it represents independently of its truth or falsity, by means of its pictorial form.”

“2.22 Cái gì một hình ảnh tái hiện nó tái hiện một cách độc lập với sự chân thực hay sai trái của cái kia, bằng phương tiện của hình thức tranh ảnh của nó.”

― Ludwig Wittgenstein, Tractatus

“I know that human beings on the average are not worth much anywhere, but here they are much more good-for-nothing and irresponsible than elsewhere.”

“Tôi biết rằng con người trung bình là chẳng có giá trị bao nhiêu bất cứ nơi đâu, nhưng ở đây họ còn vô tích sự hơn nhiều và vô trách nhiệm hơn ở nơi khác.”

― Ludwig Wittgenstein

“Certainty is as it were a tone of voice in which one declares how things are, but one does not infer from the tone of voice that one is justified.”

“Sự đoan chắc vốn là một thanh sắc của giọng nói trong đó một người tuyên bố sự vật ra sao, nhưng người ta không quy chiếu từ thanh sắc của giọng nói rằng người ta được biện minh.”

― Ludwig Wittgenstein, Về sự đoan chắc, 30

292. “Unsere Zivilisation ist durch das Wort Fortschritt charakterisiert. Der Fortschritt ist ihre Form nicht eine ihrer Eigenschaften daß sie fortschrietet. Sie ist typisch aufbauend. Ihre Tätigkeit ist es ein immer komplizierteres Gebilde zu konstruieren. Und auch die Klarheit dient doch nur wieder diesem Zweck und ist nicht Selbstzweck. Mir dagegen ist die Klarheit, die Durchsichtigkeit, Selbstzweck.”

“Our civilization is characterized by the word progress. Progress is its form rather than making progress being one of its features. Typically it constructs. It is occupied with building an ever more complicated structure. And even clarity is sought only as a means to this end, not as an end in itself. For me on the contrary clarity, perspicuity are valuable in themselves.”

“Văn minh của chúng ta đặc trưng bởi từ tiến bộ. Tiến bộ là hình thức của nó hơn việc tạo tiến bộ là một trong những sự nổi trội của nó. Tiêu biểu nó xây dựng. Nó miệt mài với việc xây dựng một cấu trúc ngày càng phức tạp hơn. Và thậm chí sự minh bạch cũng chỉ được tìm kiếm như một phương tiện cho cứu cánh này, chứ không phải như một cứu cánh tự thân. Đối với tôi trái lại, sự minh bạch, sự thông suốt là có giá trị trong tự thân chúng.” ― Ludwig Wittgenstein, Văn hoá và Giá trị

“The sense of a truth-function of p is a function of the sense of p.   Denial, logical addition, logical multiplication, etc. etc., are operations.   (Denial reverses the sense of a proposition.)”

“Nghĩa của một chức năng-sự thật của mệnh đề p là một hàm của nghĩa của p. Phủ định, phép cộng luận lí, phép nhân luận lí, vân vân, vân vân, là những thao tác. (Sự phủ định đảo ngược ý hướng của một mệnh đề.)”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 5.2341

“2.022 Es ist offenbar, dass auch eine von der wirklichen noch so verschieden gedachte Welt Etwas — eine Form — mit der wirklichen gemein haben muss.”

“Hiển nhiên rằng một thế giới được tưởng tượng ra, cho dù có khác biệt đến đâu với thế giới thực, vẫn phải có một điều gì – một hình thức – chung với nó.

2.023 ”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học, 2.022

“Il senso della vita, cioè il senso del mondo, possiamo chiamarlo Dio. Pregare è pensare al senso della vita.”

“The meaning of life, i.e. the meaning of the world, we can call chúng tôi pray is to think about the meaning of life.”

“Ý nghĩa của sự sống, tức là ý nghĩa của thế giới, chúng ta có thể gọi là Thượng đế. Cầu nguyện là suy nghĩ về ý nghĩa của sự sống.”

― Ludwig Wittgenstein [Trích Nhật kí Nhập liệu, 11 tháng 6 năm 1916, trang 72e và 73e]

“Imagine a person whose memory could not retain what the word ‘pain’ meant—so that he constantly called different things by that name—but nevertheless used the word in a way fitting in with the usual symptoms and presuppositions of ‘pain’—in short he uses it as we all do. Here I should like to say: a wheel that can be turned though nothing else moves with it, is not part of the mechanism”

“Hãy tưởng tượng ra một người mà kí ức của người đó không thể giữ lại hàm nghĩa của từ ‘đau đớn’ – khiến cho y luôn luôn gọi nhiều điều khác nhau bằng cái tên ấy – tuy nhiên vẫn sử dụng từ này trong một đường lối phù hợp với những triệu chứng và

những giả thiết thông thường của ‘đau đớn’ – vắn tắt y sử dụng nó như tất cả chúng ta cùng làm. Ở đây tôi muốn nói: một bánh xe có thể được quay mặc dù không có gì khác di động cùng nó, thì không phải là thành phần của cơ chế.”

― Ludwig Wittgenstein, Những điều tra Triết học

“That ∨, ⊃, etc., are not relations in the sense of right and left, etc., is obvious.”

“Rằng ∨, ⊃, vân vân, không phải là những tương quan trong ý hướng của bên phải và bên trái, vân vân, là hiển nhiên.”

― Ludwig Wittgenstein, Luận văn Luận lí-Triết học

“If we hear a Chinese we tend to take his speech for inarticulate gurgling. Someone who understands Chinese will recognize languagein what he hears. Similarly I often cannot recognize the human beingin someone etc.”

“Nếu chúng ta nghe một người Trung quốc chúng ta có chiều hướng xem tiếng nói của y là khào khào không thông suốt. Ai đó thấu hiểu tiếng Trung quốc sẽ nhận biết ngôn ngữ trong những gì y nghe thấy. Một cách tương tự, tôi thường không thể nhận ra hữu thể con người trong một ai đó vân vân.”

― Ludwig Wittgenstein, Notebooks 1914-1916 [Sổ ghi chú, 1914-1916]

Nguyễn Tiến Văn dịch

Rate this:

Share this:

Share

Facebook

Twitter

Print

Like this:

Like

Loading…

Related

Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học

Ca dao, tục ngữ Việt Nam là thể loại văn học được nhiều người ưa thích.Có thể nói, đó những thể loại được yêu thích nhất của văn học dân gian. Ca dao,tục ngữ là sản phẩm kết tinh trí tuệ Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, cốt cách ViệtNam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.Ca dao, tục ngữ Việt Nam đượm màu sắc dân gian, thể hiện tâm tư, tìnhcảm của đông đảo quần chúng nhân dân lao động Việt Nam. Nó là sự đúc kếtkinh nghiệm từ thực tiễn lao động sản xuất của cha ông ta, là tài sản vô cùng quýgiá của dân tộc ta.Trong quá trình tìm hiểu, ta thấy những triết lý dân gian trong ca dao, tụcngữ có nhiều điểm tương đồng với triết học. Triết lý và triết học đều cùng phảnánh thế giới quan và nhân sinh quan chỉ có điều cấp độ phản ánh của chúng làkhác nhau. Triết lý phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan ở cấp độ kinhnghiệm, còn triết học phản ánh ở cấp độ lí luận.Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc như: triết lýduy vật, triết lý về lẽ sống, về cách đối nhân xử thế, triết lý về mối quan hệ giữacon người với con người, giữa cá nhân và xã hội mà đặc biệt phải kể đến là triếtlý biện chứng. Triết lý biện chứng như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự đúckết kinh nghiệm của cha ông ta về tự nhiên, xã hội và con người.Do đó, việc tìm hiểu những triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ, thấyđược sự tương đồng và khác biệt giữa ca dao, tục ngữ và triết học, từ đó vậndụng linh hoạt vào việc dạy và học triết học sẽ mở ra một hướng đi tích cực.

Đề tài bước đầu tìm hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ ViệtNam và việc vận dụng vào dạy – học Triết học”.

1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG1.1. Ca dao, tục ngữ là gì?Hiện nay chưa có một khái niệm nào chính xác về ca dao, tục ngữ bởithực tế nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp trong việc phân biệt ca dao với dânca, tục ngữ với thành ngữ. Sự lúng túng trong vấn đề này xảy ra ở hầu hết mọingười, kể cả những người trong giới nghiên cứu về ngôn ngữ học. Do vậy, ởđây, chúng ta sẽ chỉ có thể trình bày những nét cơ bản nhất về ca dao, tục ngữtrong sự phân biệt nó với dân ca, thành ngữ thông qua quan điểm của các nhànghiên cứu.1.1.1. Ca daoĐịnh nghĩa về ca dao được Dương Quảng Hàm đề cập trong “Việt Namvăn học sử yếu” với ý: “ca” – ca hát; “dao” – bài hát không có chương khúc.“Ca dao là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình,phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong:phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc banđầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy màtruyền tụng mãi đến bây giờ.” [5, tr9-10]Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, năm2003, Nxb Văn học, tác giả khi phân biệt ca dao và dân ca đã cho rằng: Đứng vềmặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đã tước bỏ những tiếng đệm, nhữngtiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca đó chẳngkhác gì một bài ca dao. Do đó người ta có thể nói: giữa ca dao và dân ca ranhgiới không rõ ràng. Ca dao có những câu bốn năm chữ, sáu tám hay hai bẩy sáutám, đều có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâmthơ vậy. Còn dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao đó sẽ biến thành bàidân ca, vì hát yêu cầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm.Một bài ca dao để đọc không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao;còn một bài ca dao được dùng để hát, có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì nósẽ thành dân ca. Đơn giản như hát trống quân cũng phải có thêm tiếng đệmmới hát lên được:2

“Một đàn cò trắng (thời) bay tung

Bên nam (thời) bên nữ ta cũng hát lên!”Vậy ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khácvà có thể xây dựng được các làn điệu ca dao. Còn dân ca là những câu hát đã thànhkhúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ởmặt hình thức, nên ca hát người ta cũng gọi là thanh nhạc. Nếu xét về nguồn gốcphát sinh thì ca dao khác với dân ca là được hát lên trong những hoàn cảnh nhấtđịnh, trong những nghề nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,không như ca dao là những bài ít có tính địa phương nhất, dù nội dung ca dao cónói về địa phương nào thì cũng được phổ biến rộng rãi, chẳng hạn:“Đồng Đăng có phố Kỳ LừaCó nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”Hay bài ca dao“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.Còn dân ca, như hát đò đưa, hát giã gạo, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hátxoan Phú Thọ, hát quan họ Bắc Ninh, hát bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi,hò Bình Trị Thiên, ca lý Nam Bộ… thì chỉ nhân dân ở từng địa phương mới cađược. Tuy vậy, dù ở thể loại nào cũng có những trường hợp đặc biệt: hát ru em,hát giao duyên, hát trống quân đều là dân ca, nhưng cũng được phổ biến rộng rãikhông khác gì ca dao.Về nghệ thuật được sử dụng trong ca dao phải kể đến trước tiên đó lànghệ thuật vận dụng ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ trong ca dao là thứ ngôn ngữnghệ thuật giản dị đẹp đẽ, trong sáng, chính xác vì đã được gọt dũa, trau chuốt,chắt lọc qua hàng bao thế hệ. Do vậy, những câu ca dao đến được với chúng tangày nay đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, giúp cho việc biểu lộ thế giới tâmhồn đa dạng, phong phú và sâu thẳm của con người.Nội dung của ca dao đã được Vũ Ngọc Phan đề cập trong “Tục ngữ cadao dân ca Việt Nam”, 2003, đó là: “Về nội dung của ca dao thì ngoài sự biểu3

hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ýthức lao động sản xuất của nhân dân Việt Nam và tình hình xã hội thời xưa vềcác mặt kinh tế và chính trị. Bởi thế, người ta mới nói: nội dung của ca dao chủyếu là trữ tình”[19, tr46].Như vậy ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, đượclưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác. Do vậy, những câu ca dao đến được với chúng tangày nay đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, giúp cho việc biểu lộ thế giới tâmhồn đa dạng, phong phú và sâu thẳm của con người.1.1.2. Tục ngữTrong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian” (2008) của tác giả Phạm ThuYến (chủ biên) có định nghĩa về tục ngữ như sau: “Tục ngữ là một thể loại vănhọc dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh dễ nhớ, dễtruyền, có chức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiênnhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội” [26, tr141]. Có thể nói rằng,nếu so sánh với các thể loại văn học dân gian khác thì tục ngữ có nội dung phảnánh rộng lớn nhất, bao quát cả về tự nhiên, xã hội và con người.Tục ngữ có quan hệ với hầu hết các thể loại văn học dân gian khác nhaunhưng giữa tục ngữ và thành ngữ có mối quan hệ mật thiết và dễ lẫn lộn hơn cả,vì thế đã có rất nhiều ý kiến đưa ra để phân biệt tục ngữ và thành ngữ:Việc phân biệt tục ngữ với thành ngữ được Dương Quảng Hàm lần đầutiên đặt ra qua “Việt Nam văn học sử yếu” (1943), với ý: “Một câu tục ngữ tự nóphải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thànhngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả mộttrạng thái gì cho có màu mè” [5, tr9].Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), không tán thành với ýkiến của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa như vậy khôngđược rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tụcngữ. Theo ông, tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinhnghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là sự phê phán. Còn thành ngữ là một4

phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng,nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, mỗithành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dùngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.Bài viết “Về ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” của tác giả NguyễnVăn Mệnh trong Tạp chí ngôn ngữ (số 3,1972) đã đưa ra ý kiến giải thích sựkhác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ trên cả hai mặt nội dung và hình thức.Theo ông, xét về nội dung, thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiệntượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ. Còn tục ngữ thì khác hẳn, nókhông dừng lại ở mức độ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng… như thànhngữ, mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệmsâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức… Có thể nói nộidung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nóichung là mang tính quy luật.Cũng theo ông, về mặt hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉlà một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tụcngữ tối thiểu là một câu.Tác giả Cù Đình Tú trong bài viết “Góp ý kiến vê phân biệt giữathành ngữ và tục ngữ” trên Tạp chí ngôn ngữ (số 1, 1973), đã chỉ ra nhữngdẫn chứng cụ thể chứng tỏ cách phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa vào mặtnội dung và hình thức của tác giả Nguyễn Văn Mệnh là chưa thỏa đáng. Dựatrên thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại, ông đã chỉ ra sự khác nhau giữathành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng. Ông viết: “Thành ngữ làđơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sựvật, tính chất, hành động. Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vịtương đương như từ” [25, tr40], còn “Tục ngữ, đứng về mặt ngôn ngữ họccó chức năng khác hẳn so với thành ngữ. Tục ngữ cũng như các sáng tạokhác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo. Nó thôngbáo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới

5

khách quan. Do vậy, mỗi câu tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễnđạt trọn vẹn một ý tưởng” [25, tr41].Trong “Tục ngữ Việt Nam” (1975) các tác giả Chu Xuân Diên, LươngVăn Đang, Phương Tri cũng đưa ra tiêu chí mới để phân biệt: “Cần phải xétthành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng ngôn ngữ khác nhau,mà chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội.Cho nên, tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệtgiữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí nhận thức luận. Với tiêu chí đó, chúng tôixem xét tục ngữ chủ yếu như một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ chủyếu như một hiện tượng ngôn ngữ. Cùng với tiêu chí đó, sự khác nhau cơ bản vềnội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là sự khác nhau về nộidung của hai hình thức tư duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán” [4, tr27,28]. “Nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm. Còn nội dungcủa tục ngữ là nội dung của những phán đoán; quan hệ giữa thành ngữ và tụcngữ là quan hệ giữa hình thức khái niệm và phán đoán” [ 4, tr70].Có thể thấy rằng, cho đến nay, có bốn quan niệm đã được đưa ra trongviệc phân định tục ngữ và thành ngữ. Đó là: quan niệm dựa trên nội dung, quanniệm dựa trên chức năng, quan niệm dựa trên hình thức ngữ pháp, và quan niệmdựa trên tiêu chí nhận thức luận. Căn cứ vào những điểm khác nhau cơ bản giữathành ngữ và tục ngữ, các nhà nghiên cứu đã phân chia một khối lượng lớnnhững câu là tục ngữ hay thành ngữ một cách chắc chắn. Tuy nhiên, ngoàinhững ngữ liệu chắc chắn là thành ngữ hoặc tục ngữ thì vẫn còn những ngữ liệukhông biết xếp vào loại nào cho thỏa đáng, bởi vì nếu xét về mặt này thì nó làthành ngữ nhưng nếu xét về mặt khác thì nó lại được xem là tục ngữ. Do vậy, cảbốn cách phân chia nêu trên chỉ mang tính chất tương đối. Khoa học biện chứngđã chứng minh, mọi sự vật, hiện tượng vận động và tồn tại trong thế giới hiệnthực khách quan có mối quan hệ biện chứng với nhau, và không có đường ranhgiới tuyệt đối giữa sự vật này với sự vật khác.Tiến sĩ Viện ngôn ngữ học, Nguyễn Thị Trung Thành trong bài viết “Cáikhó trong việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ” in trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời6

sống (số 9, 2009) đã khẳng định: “Thành ngữ và tục ngữ có mối quan hệ gần gũivới nhau, có sự chuyển hóa trong quá trình sử dụng, có sự biến đổi cùng với sựphát triển của xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu thành ngữ, các nhà ngôn ngữ họckhông thể không đề cập đến tục ngữ, và ngược lại… Đôi khi, để tránh phải đụngchạm đến khái niệm, trước khi phát ngôn một đơn vị có sẵn mà không biết là tụcngữ hay thành ngữ, người sử dụng thường nói một cách chung chung rằng: “dângian có câu”, “người xưa từng nói”, “ông cha ta có câu”… Điều này một lần nữakhẳng định: việc xếp loại một bộ phận các đơn vị có sẵn – bộ phận nằm ở vị trítrung gian giữa thành ngữ và tục ngữ – là một công việc khó khăn”[22, tr11].Vì những lí do trên, để đảm bảo tính chính xác, khoa học, tất cả nhữngcâu tục ngữ được chọn trích dẫn trong đề tài đều nằm ngoài phạm vi đang cònnhiều tranh cãi.Tục ngữ là pho kinh nghiệm vô cùng quý giá, là “bộ bách khoa toàn thư”mà nhân dân lao động đã sáng tạo, lưu truyền, gìn giữ trong suốt tiến trình lịchsử mấy ngàn năm lâu dài của dân tộc, là những sự nhận định sau kinh nghiệmcủa con người ta về lao động, về sản xuất, về cuộc sống gia đình và xã hội. Nộidung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ.

Về sự khác nhau giữa ca dao với tục ngữ thì: “Sự khác nhau giữatục ngữ là ca dao nhìn chung dễ phân biệt hơn. Tục ngữ có chức năng đúc kết,truyền bá kinh nghiệm, nhằm nêu lên những nhận xét khách quan. Còn cadao là thể loại có bản chất trữ tình, thiên về bộc lộ tình cảm, phô diễn thếgiới tâm hồn con người.”[26, tr146]Tục ngữ và ca dao khác nhau ở chỗ tục ngữ thiên về lí trí (nội dung triếtlí dân gian), ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian). Nhưng giữahai thể loại đó không phải là không có những trường hợp có thể xâm nhập vàonhau. Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc, có thêm những tiếng đệmtrở thành khúc điệu thì tục ngữ đã tiếp cận với ca dao.Chẳng hạn: câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”Chuyển thành câu ca dao:“Ai ơi đừng chóng chớ chầy,7

Có công mài sắt có ngày nên kim”Trong kho tàng văn học Việt Nam, tục ngữ, ca dao là những viên ngọcquý nhất. Nó quý ở chỗ trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưađến nay, nó luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triểntiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những nhậnxét, những ý nghĩ của nhân dân trong công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranhxã hội, xây dựng đất nước. Trong quá trình phát triển của xã hội, ca dao, tục ngữsẽ tiếp tục bộc lộ những giá trị của mình, ngày càng thâm nhập một cách sâurộng vào đời sống xã hội, tô thắm cuộc sống của con người.1.2. Triết lý biện chứngTư tưởng biện chứng có từ rất sớm, hòa cùng sự phát triển của nền vănhóa loài người ở cả phương Đông và phương Tây, và được biểu hiện với nhiềuhình thức phong phú. Đó là sự nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong trạng tháivận động và phát triển; trong mối liên hệ, sự tác động với các sự vật, hiện tượngkhác; trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa những mặt đối lập cùng tồn tại trongsự vật, hiện tượng; ở sự thừa nhận một chỉnh thể trong lúc nó vừa là nó lại vừakhông phải là nó…Ngay từ khoảng thế kỉ VI – V trCN, Hêraclit – nhà triết học nổi tiếng củaHy Lạp cổ đại đã thể hiện tư tưởng biện chứng của mình:Thứ nhất: Tư tưởng về sự vận động, biến đổi của thế giớiTheo ông, mọi sự vật, hiện tượng luôn nằm trong xu hướng chung là sựvận động, phát triển; không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, bất biến cả.“Tất cả mọi cái đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định”[23, tr103].“Trong cùng một thời điểm, sự vật vừa là nó vừa là cái khác” [23, tr103].“Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [23, tr104].

Thứ hai: Tư tưởng về mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng

8

“Cùng một cái trong chúng ta: cái sống và cái chết, thức và ngủ, trẻ vàgià. Vì rằng cái này biến đổi mà là cái kia, và ngược lại, cái kia biến đổi là cáinày” [23, tr104].“Cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi” [23, tr104].“Mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi thú vị hơn” [23, tr104].“Sống là chết, chết là sống, chúng sống là nhờ cái kia chết, chúng chết làcho cái kia sống”[23, tr104]Ở phương Đông, cũng trong khoảng thời gian đó, Lão Tử – nhà triết họcnổi tiếng của Trung Quốc cũng thể hiện tư tưởng biện chứng của mình:Thứ nhất: Quan điểm về luật quân bình và quan điểm về luật phản phụcLuật quân bình giữ cho sự vận hành của vạn vật được cân bằng, khôngthái quá, cũng không bất cập:“Cái gì khuyết ắt tròn đầy, cái gì cong ắt thẳng, cái gì cũ sẽ lại mới”[23, tr48].“Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung chăng? Dây cung ở caoquá thì nó lại hạ xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên, dài quá thì bỏ bớt đi, ngắnquá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ thừa, bù chỗ thiếu” [23, tr48].Luật phản phục nói lên tính tuần hoàn, tính chu kì trong quá trình biếndịch của vạn vật:“Trù vật vân vân, các phục quy kì căn” (vạn vật phồn thịnh đều trở về cáigốc của nó) [23, tr49].Thứ hai: Tư tưởng về sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập“Có và không sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làmrõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” [23, tr49].“Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà sinh ra quan niềm về cái xấu, aicũng cho điều thiện là thiện mà sinh ra quan niệm về cái ác” [23, tr49].Ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng thể hiện rất rõ tư tưởng biện chứng.Chỉ có điều tư tưởng biện chứng không được thể hiện thành một hệ thốngvới những nguyên lý, những quy luật mà là sự khái quát ngẫu nhiên, bề

9

ngoài thông qua sự đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lao động, sảnxuấ t. Và ta gọ i đó là nhữ ng triế t lý biệ n chứ ng.Chẳng hạn thể hiện sự vận động, biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng,có câu:“Tre già, măng mọc”“Người có lúc vinh, lúc nhụcNước có lúc đục, lúc trong”Thể hiện sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặt đối lập cùng tồn tại trongsự vật, hiện tượng:“Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn”“Đượ c mù a mua, thua mù a bá n”Có thể nói, sự phát triển của tư duy nhân loại hoàn toàn không phụthuộc vào vị trí địa lí. Cùng thể hiện một tư tưởng, cách biểu đạt ở nơi nàyhoặc nơi khác có thể khác nhau nhưng giữa chúng lại có những điểm tươngđồng. Chính điều này đã tạo nên sự gặp gỡ về tư tưởng giữa các quốc gia,các dân tộc ở những vùng miền khác nhau trên thế giới. Đó chính là biểuhiện của tính thống nhất trong tính đa dạng của sự phát triển tư duy nhânloại, nền văn hóa loài người.Khi nói Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng triết lý biện chứng thì“triết lý biện chứng” được hiểu là gì?Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa học – Xã hội – Nhân văn – ViệnNgôn ngữ (Nxb Từ điển Bách Khoa, 2007), triết lý được hiểu theo hai nghĩa:Khi “triết lý” là một danh từ thì nó được hiểu là: Ý niệm của nhânloại đã tự ý thức được đời sống ấy lên một chỗ thích hợp nhất. Triết lý cũngnhư bao nhiêu giá trị khác, phải biến đổi theo hoàn cảnh xã hội, theophương tiện sinh hoạt của con người.Khi “triết lý” là một động từ thì được hiểu là: tỏ ý niệm riêng củamình về việc gì đó. VD: Thôi đừng triết lý nữa.

10

Theo Từ điển Triết học (Nxb Tiến bộ Matxcơva) thì “biện chứng”được hiểu là: khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tựnhiên, xã hội và tư duy.Như vậy có thể hiểu “Triết lý biện chứng” là một danh từ dùng đểchỉ: ý niệm của nhân loại ý thức được quy luật phát triển của tự nhiên, xãhội và tư duy. Và triết lý biện chứng cũng được thay đổi cùng với sự thayđổi của hoàn cảnh xã hội, phương tiện sinh hoạt của con người.Từ đó chúng ta hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ ViệtNam” là ý niệm của cha ông ta về những quy luật phát triển của tự nhiên,xã hội và tư duy, được rút ra thông qua thực tiễn quá trình lao động sảnxuất. Ý niệm đó được thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội,phương tiện sinh hoạt của con người.

11

CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ BIỆN CHỨNG TRONG CA DAO, TỤC NGƯVIỆT NAMTriết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ không phải là sự khái quát thànhnhững nguyên lí, những quy luật, những phạm trù mà nó là những kết luận riênglẻ, là sự đúc kết kinh nghiệm, là sự khái quát ngẫu nhiên, bề ngoài về sự vậnđộng, biến đổi của tự nhiên, xã hội và con người.Mặc dù những tri thức trong ca dao, tục ngữ là những tri thức kinh nghiệmnhưng nó đã thể hiện triết lý biện chứng một cách hết sức giản dị mà sâu sắc: Luônđặt sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển, trong mối quan hệ với các sựvật, hiện tượng khác; xem xét sự vật trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặtđối lập. Ngoài ra, triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự nhìn nhận sự vật, hiện tượngluôn trong một chỉnh thể, có nguyên nhân xuất hiện, có nội dung, hình thức, có bảnchất, hiện tượng trong mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, chịu sự chi phốibởi cái ngẫu nhiên và tất nhiên…Cụ thể, triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam thể hiện ở mộtsố nội dung cơ bản đó là:2.1. Triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong xu hướng vận động,biến đổi và phát triển.– “Tre già măng mọc”– “Sông có khúc, người có lúc”– “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”– “Hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai”– “Người có lúc vinh lúc nhục,Nước có lúc đục lúc trong”– “Cuộc đời như cảnh phù du,Sớm còn tối mất, công phu nhọc nhằn”Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định sự phát triển của mọi sựvật, hiện tượng mang tính khách quan, tính kế thừa và tính đa dạng phong phú.12

Sự phát triển mang tính khách quan.Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật, domâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Đó là quá trình liên tục giải quyết nhữngmâu thuẫn trong bản thân sự vật. Sự phát triển như vậy không phụ thuộc vào ýmuốn, nguyện vọng của con người. Dù con người có muốn hay không thì sự vậtvẫn vận động, phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất.– “Trăng đến rằm thì trăng tròn,Sao đến tối thì sao mọc”– “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”– “Ngày đi, trúc chửa mọc măngNgày về, trúc đã cao bằng ngọn treNgày đi, lúa chửa chia vè,Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồngNgày đi, em chửa có chồngNgày về, em đã con bồng, con mang”Sự phát triển mang tính kế thừa.Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng của cái cũ, là sự phát triển tiếp tụccủa cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời của cái cũ và chọn lọcgiữ lại những mặt thích hợp với hiện thực.“Tre già măng mọc”Sự vật mới ra đời, dần thay thế cho sự vật cũ: “tre già” thì “măng mọc”.Tuy nhiên sự vật mới ra đời không phải trên mảnh đất trống không mà phải trêncơ sở kết thừa nền tảng, yếu tố tích cực của sự vật cũ. “Măng” ra đời trên nềntảng, gốc rễ của khóm tre già có từ trước nó. Nó không thể đứng độc lập mộtmình mà chỉ có thể phát triển trong sự bao bọc, chở che của khóm tre già.Sự phát triển mang tính đa dạng phong phú.Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của sự vật, hiện tượngsong ở mỗi hoàn cảnh cụ thể các sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triểnkhác nhau.– “Người đời khác nữa là hoa,Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn”13

– “Trời còn có khi nắng khi mưa,Ngày còn khi sớm khi trưa nữa người”Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định mọi sự vật, hiện tượngvận động, biến đổi, phát triển đều bằng phương thức nhất định.Phương thức của sự phát triển là sự tích lũy, biến đổi về lượng dẫn đếnsự thay đổi về chất.– “Tích tiểu thành đại”– “Góp gió thành bão”– “Năng nhặt chặt bị”Mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng cũng được thể hiện một cách hếtsức phong phú, sinh động, mang tính đặc thù. Tuy không trực tiếp nói đến kháiniệm “chất”, “lượng” nhưng ca dao, tục ngữ đã phần nào thể hiện mối quan hệgiữa số lượng và chất lượng trên tinh thần biện chứng.Trước hết, khi phân biệt chất khác nhau được tạo nên từ những thuộc tínhkhác nhau có câu:– “Chẳng chua cũng thể là chanh,Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”– “Chẳng thanh cũng thể hoa lài,Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”– “Chẳng vui cũng thể hội Thầy,Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài”Chất khác nhau tạo ra các giá trị khác nhau:– “Trăng mờ còn tỏ hơn sao,Dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi”– “Tối trăng còn hơn sáng sao,Phơn phớt lòng đào hơn thắm màu vang”Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng:– “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”– “Văn hay chẳng lọ dài dòng”– “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”14

Và không thể lấy lượng thay chất được dù rằng lượng gấp bao nhiêu lần:“Trăm đom đóm không bằng bó đuốc,Trăm hòm chì chẳng đúc nên chuông”Khi sự vật tích lũy đủ về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy đểtạo ra sự thay đổi về chất, chất mới ra đời.– “Quá mù sang mưa “– “Tốt quá hóa lốp”– “Mèo già hóa cáo”– “Góp gió thành bão, góp cây nên rừng”– “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”– “Rượu lạt uống lắm cũng sayNgười khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm”– “Năng mưa thì giếng năng đầyAnh năng đi lại, mẹ thầy năng thương”Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng, chất mới ra đời sẽtác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô,trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật.– “Cái khó bó cái khôn”– “Phú quý sinh lễ nghĩa”Khi con người ta trở từ nghèo khổ trở nên giàu có thì sẽ dẫn đến sự thay đổitrong cách nghĩ, cách làm, cách đối xử với mọi người: “phú quý” sinh “lễ nghĩa”.Với những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị, ca dao, tục ngữ đã thể hiệntư tưởng biện chứng về sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng.Phát triển là xu hướng tất yếu khách quan, thông qua sự tích lũy dần về lượng sẽdẫn đến sự thay đổi về chất và khi đó sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn đề cao vai trò của thực tiễn trong việc xemxét sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng:– “Thức khuya mới biết đêm dài,Sống lâu mới biết lòng người có nhân”– “Lên non mới biết non cao,Lội sông mới biết lạch nào cạn sâu”15

– “Cởi ra mới biết béo gầy,Đến khi cả gió, biết cây cứng mềm”– “Gừng già, gừng rụng, gừng cay,Anh hùng càng cực, càng dày nghĩa nhân”– “Có gió rung, mới biết tùng bách cứngCó ngọn lửa hừng, mới rõ thức vàng cao”Từ việc thấu hiểu triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng,thông qua ca dao, tục ngữ, cha ông ta còn đúc rút được kinh nghiệm trong cuộcsống. Đó là sự khẳng định vai trò to lớn của lao động đối với cuộc sống con người.– “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”– “Muốn no thì phải chăm làm,Một hột thóc vàng, chín hột mồ hôi”– “Khen nết hay làm ai khen nết hay ăn”– “Có vất vả mới thanh nhàn,Không dưng ai dễ cầm tàn che cho”– “Số giàu đưa đến dửng dưngLọ là con mắt tráo trưng mới giàu”Ngoài ra, nói đến lao động thì không thể không nói đến công cụ lao động,yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất. Ca dao, tục ngữ đề cao vai trò củacông cụ lao động. Thông qua quá trình lao động sản xuất mà con người đã đúcrút được những kinh nghiệm để chế tạo những công cụ lao động phù hợp vớitừng công việc sản xuất:“Gỗ kền anh để đóng cày,Gỗ lim, gỗ sến, anh nay đóng bừa…”Lao động của con người là lao động có mục đích, có ý nghĩa nên loài ngườiđã chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho mục đích của mình. Conngười còn biết sáng chế công cụ, cải tạo kĩ thuật canh tác như:“Răng bừa tám cái còn thưa,16

Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to.Muốn cho lúa nảy bông to,Cày sâu, bừa kĩ, phân tro cho nhiều…”Trong lao động, thông qua giao tiếp, con người đã tạo nên các mối quanhệ xã hội:– “Lời chào cao hơn mâm cỗ”– “Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”Như vậy, vận động là tất yếu, khách quan đối với mọi sự vật, hiện tượngtrong đó có con người. Nguồn gốc của sự vận động nằm ngay trong bản thân sựvật. Thông qua sự tích lũy dần về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy đểtạo ra sự thay đổi về chất đã dẫn đến chất mới ra đời thay thế cho chất cũ. Đó chínhlà phương thức của sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng.2.2. Triết lý về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong mối quan hệ với cácsự vật, hiện tượng khác.Ca dao, tục ngữ đã nói lên mối quan hệ mang tính tất yếu khách quangiữa mọi sự vật, hiện tượng. Mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại và phát triểntrong mối quan hệ tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau.“Nguồn đục dòng cũng đục”Vì “nguồn” và “dòng” có mối quan hệ mật thiết với nhau cho nên khi“nguồn đục” thì “dòng cũng đục”. Và hiện tượng này mang tính khách quan,không phụ thuộc vào ý muốn của con người.“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”Câu tục ngữ trên nói lên mối liên hệ, sự tác động mang tính tất yếu củayếu tố môi trường đối với sự phát triển nhân cách con người.“Gần lửa rát mặt”“Nhiệt” là đặc tính khách quan của lửa cho nên “gần lửa” thì “rát mặt” làkết quả của đặc tính khách quan và nó không phụ thuộc vào ý muốn của con người.Bất kì một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kì thời gian và không gian nàocũng có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự17

18

khác. Và sự tác động, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng luôn mang tínhkhách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.Ca dao, tục ngữ còn đề cập tới mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên:“Khi vui non nước cũng vuiKhi buồn, sáo thổi kèn đôi cũng buồn”Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn thể hiện một cách sinh động tư tưởng “thiênnhân tương ứng” – trời có gì thì con người có cái ấy. Vì thế cho nên mới cónhững cách ví von đậm tính triết học:“Cổ tay em trắng như ngà,Con mắt em liếc như là dao cau.Miệng cười như thể hoa ngâu,Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”Khi phản ánh những vấn đề về con người và xã hội, ca dao, tục ngữ đã thểhiện rất rõ tư tưởng nhân đạo trên lập trường duy vật. Trong ca dao, tục ngữ,con người vừa là một thực thể sinh học vừa là một thực thể xã hội.Là một thực thể sinh học, con người cũng có những nhu cầu tối thiểu như:ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, ăn là nhu cầu hàng đầu:-“Mẻ không ăn cũng chết”– “Có thực mới vực được đạo”Sau ăn là mặc: “Bụng được no còn lo ấm cật”Ăn no, mặc ấm là nhu cầu thiết yếu, hàng đầu của con người. Tuy nhiên,không chỉ là một thực thể sinh học mà con người còn là một thực thể xã hội. Dođó mà:– “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”– “Uống nước nhớ nguồn,Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”Không chỉ dừng lại ở đó, con người còn ý thức được rằng:– “Có làm thì mới có ănKhông dưng ai dễ đem phần đến cho”– “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”Về cái mặc, lúc này mặc không chỉ là nhu cầu “che thân” cho “ấm cật”mà nó trở thành nhu cầu thẩm mỹ, làm tôn thêm vẻ đẹp cho con người:19

“Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”Cái ăn, cái mặc đối với con người cũng phải có điều độ:“Cơm ba bát, áo ba manh,Đói không xanh, rét không chết”Và cho dù có nghèo đói thì con người vẫn giữ cái nét đẹp văn hoá cho mình:“Đói cho sạch, rách cho thơm”Bởi vì người ta ý thức được rằng:“Hơn nhau manh áo tấm quầnCởi ra ai cũng mình trần như ai”Đề cao giá trị con người, tục ngữ có câu: “Người ta là hoa đất” thể hiệnsâu sắc, tinh tế quan niệm về cả vũ trụ và nhân sinh với một tư tưởng nhân văncao đẹp. Câu tục ngữ trên đã khẳng định: con người là một bộ phận của giới tựnhiên, có quan hệ mật thiết với giới tự nhiên, là sản phẩm kết tinh những gì tốtđẹp nhất, tinh tuý nhất của giới tự nhiên.Khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất cho xãhội, ca dao, tục ngữ thường so sánh con người với của cải, và bao giờ cũng đặtcon người lên trên hết:– “Người làm ra của, của không làm ra người”– “Một mặt người bằng mười mặt của”– “Người sống hơn đống vàng”Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt coi trọng giá trị tốt đẹp của con người:– “Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,Người khôn ai nói nặng lời làm chi”– “Kim vàng ai nỡ uốn câu,Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”– “Người khôn không nỡ roi đòn,Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

20

Ca dao, tục ngữ phần nào cũng khẳng định cuộc sống con người có rấtnhiều khó khăn, muốn làm con người cho ra con người cũng không phải dễ dànggì. Con người muốn sống thì phải lao động, phải lo toan mọi bề, phải đấu tranhvới chính bản thân mình để vươn lên trong cuộc sống, phải điều tiết mọi mốiquan hệ, để có thể sống được:– “Làm người suy chín, xét xa,Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”– “Làm người phải đắn phải đo,Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu”– “Làm người ăn tối lo mai,Việc mình hồ dễ để ai đo lường”

– “Năm canh thì ngủ lấy ba,Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”– “Người ta hữu tử hữu sanh,Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm”Ca dao, tục ngữ đã thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa cá nhân với xã hội, và phần nào cũng khẳng định trong tính hiệnthực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên,đó không phải là các mối quan hệ kinh tế, chính trị… mà trong ca dao, tục ngữđó là mối quan hệ của con người với gia đình, anh em, bạn bè… Chính nhữngmối quan hệ này đã tạo nên bản chất xã hội của con ngườiTrong quan hệ với cha mẹ, đó là tình thương yêu, sự kính trọng, biết ơncông lao sinh thành, dưỡng dục của người con đối với cha mẹ mình:– “Cây khô chưa dễ mọc chồiBác mẹ chưa dễ ở đời với taNon xanh bao tuổi mà giàBởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu”21

– “Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con”– “Lên non mới biết non caoNuôi con mới biết công lao mẫu từ”– “Đói lòng ăn quả chà làDành cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”– “Tu đâu cho bằng tu nhàThờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”– “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trờiCầu cho cha mẹ sống đời với con”Trong quan hệ vợ chồng, đó là tình yêu thương son sắt, thủy chung, cùngnhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc sống.– “Rủ nhau lên núi đốt thanChồng mang đòn gánh, vợ mang quanh gànhCủi than nhem nhuốc với tìnhGhi lời vàng đá xin đừng quên nhau”– “Râu tôm nấu với ruột bầuChồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”– “Chồng em áo rách em thươngChồng người áo gấm sông hương mặc người”– “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”Trong quan hệ bạn bè, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau– “Giàu vì bạn sang vì vợ”– “Bạn bè là nghĩa tương tri,Sao cho sau trước một bề mới nên”22

Trong tình bạn cũng có sự chọn lựa:– “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”– “Bạn vàng lại gặp bạn vàngLong, lân, quy, phượng một đoàn tứ linh”Sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quan hệ bạn bè còn thể hiện sự thiđua nhau trong học tập, không ngừng phấn đấu để phát triển– “Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly”– “Học thầy không tầy học bạn”Trong quan hệ thầy trò, đó là sự kính trọng và biết ơn công lao củangười thầy:– “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”– “Không thầy đố mày làm nên”– “Mấy ai là kẻ không thầy,Thế gian thường nói đố mày làm nên”– “Dốt kia thì phải cậy thầy,Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên”Đặc biệt trong ca dao, tục ngữ còn thể hiện mối quan hệ giữa gia đình vànhà trường trong việc phối hợp giáo dục con trẻ:“Muốn sang thì bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”Câu ca dao đã phần nào khẳng định quá trình giáo dục không chỉ đơnthuần là quá trình diễn ra ở nhà trường với sự tác động giữa thầy và trò mà quátrình giáo dục trong nhà trường có quan hệ mật thiết với các quá trình giáo dụcgia đình và giáo dục xã hội. Qua đó thể hiện một cách gián tiếp tư tưởng biệnchứng của quá trình giáo dục. Ở đây “yêu lấy thầy” có nghĩa là sự quan tâm,kính trọng, biết ơn công lao của người thầy, cùng phối kết hợp với thầy trongviệc giáo dục con trẻ.23

Trong quan hệ với anh em, đó là là sự yêu thương, đùm bọc, nhường nhịnlẫn nhau:– “Chị ngã em nâng”– “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”– “Anh em như thể tay chânRách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”– “Khôn ngoan đá đáp người ngoàiGà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”Trong quan hệ với láng giềng, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau:“Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”Hàng xóm sống thân tình, gắn bó với nhau như anh em họ hàng. Đôi khianh em họ hàng vì hoàn cảnh xa cách nên không thường xuyên quan tâm, giúpđỡ được nhau thì hàng xóm, láng giềng chính là nơi ta có thể cậy nhờ, giúp tavượt qua không ít khó khăn trong cuộc sống. Cho nên mới có câu:“Bán anh em xa mua láng giềng gần”Trong quan hệ với người khác:– “Thương người như thể thương thânLá lành đùm lá rách”– “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,Người trong một nước phải thương nhau cùng”– “Bầu ơi thương lấy bí cùng,Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”– “Thương người, người lại thương ta,Ghét người, người lại hóa ra ghét mình”Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt nhấn mạnh tình yêu đối với trẻ nhỏ và tínhcảm kính trọng đối với những người có tuổi:“Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà;Kính già, già để tuổi cho”24

Trong quan hệ tình yêu nam nữ:– “Em ơi! chua ngọt đã từng,Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau!”– “Em về, anh mượn khăn tay,Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên”– “Cây đa rụng lá đầy đình,Bao nhiêu lá rụng ta thương mình bấy nhiêu”– “Yêu nhau chẳng quản đường xaĐá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”– “Yêu nhau vạn sự chẳng nề,Một trăm gỗ lệch cũng kê cho bằng”– “Yêu nhau, ruột héo xương mònYêu nhau đến thác vẫn còn yêu nhau”Câu ca dao thể hiện sự cùng nhau chịu đựng gian khổ của những ngườilao động “tạc nghĩa đá vàng”, làm cho họ quyết một lòng chung thủy, cùngnhau gắn bó keo sơn vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Trên cơ sở tình yêu thắmthiết của đôi trai gái họ đã xây dựng lên những gia đình hạnh phúc.Qua những câu ca dao, tục ngữ trên ta thấy chính những mối quan hệ đadạng giữa con người với con người trong cuộc sống đã làm nên bản chất tốt đẹpcủa con người Việt Nam: thủy chung, son sắt, ân tình, nghĩa tình thống nhấttrong mọi mối quan hệ, tạo nên bản chất xã hội trong mỗi con người.Như vậy, sự vật, hiện tượng, kể cả con người luôn tồn tại và phát triểntrong sự tác động, trong mối liên hệ với các sự vật khác, với cá nhân khác và vớixã hội. Không có sự vật, hiện tượng nào phát triển mà tồn tại biệt lập, tách rờivới thế giới xung quanh, với môi trường xã hội.2.3. Triết lý về mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong sự thống nhất mâu thuẫngiữa các mặt đối lập.25

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!