Xu Hướng 2/2023 # Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê # Top 9 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Người Nhật đã định hình Trà đạo thành đạo lý của dân tộc, một nghệ thuật sống được truyền tải qua việc thưởng lãm một tách trà. Trong khi đó, Việt Nam – một cường quốc cà phê nhất nhì thế giới, có hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới, có một bề dày lịch sử văn hóa thưởng lãm cà phê hàng trăm năm, nhưng đến nay, giá trị cà phê Việt Nam vẫn thuộc phân khúc thấp, chủ yếu xuất thô và chưa được định hình đúng vị thế vốn có của ngành, của quốc gia.

Với mong muốn đưa ngành cà phê Việt Nam lên một tầm cao mới, nâng cao giá trị cà phê không chỉ là một thức uống thông thường mà còn ở tầm mức cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật, cà phê tinh thần… đến cà phê triết đạo, xứng đáng với vị thế của cường quốc cà phê của thế giới – Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã dành thời gian và tâm huyết trong nhiều năm để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân loại để cà phê trở thành “Cà Phê Triết Đạo”.

Trong suốt hành trình sáng tạo và phát triển của Trung Nguyên Legend thì tinh thần dấn thân phụng sự cộng đồng luôn là hạt nhân xuyên suốt bằng nhiều chương trình hành động để Kiến tạo khát vọng lớn, Chí hướng lớn cho quốc gia; để xây dựng vị thế mới cho ngành cà phê Việt Nam trên bản đồ cà phê thế giới và trên Hành trình này, Trung Nguyên Legend mong muốn cùng chung tay với các nhà hoạch định sách lược quốc gia để Việt Nam sớm trở thành quốc gia hùng mạnh và ảnh hưởng toàn diện thế giới!

Người Nhật đã làm được! Người Việt mình cũng làm được và làm tốt hơn!

Xã hội cà phê tại Viên đã tạo nên bầu khí quyển tuyệt vời cho triết gia Ludwig Wittgenstein khởi xuất những tư tưởng mới góp phần vào sự đa dạng hóa dòng hợp lưu tri thức của thời đại “bùng nổ văn hóa”.

Là chính thể quân chủ Áo – Hung, thật khó để định danh rõ ràng về mặt địa lý hay sắc tộc tại quốc gia đa dân tộc này. Mặc dù, tiếng Đức chiếm ưu thế và trở thành ngôn ngữ chính nhưng vẫn thể hiện sự thẩm thấu và ảnh hưởng lẫn nhau ở nơi kết giao với ngữ hệ Ấn – Âu (Slav) và Roman, dần dần tạo thành tính liên tục văn hóa – lịch sử tới mức ngôn ngữ này bao trùm cả nước Áo với hai nền cộng hòa trong suốt thế kỷ 20. Do vậy, muốn tách riêng tính độc lập, thống nhất của nước Áo không thể tìm trong các lĩnh vực dân tộc, chính trị mà cần tìm ở “lĩnh vực tinh thần” trong triết học. Xuất phát từ lập trường phê bình ngôn ngữ của Bernard Bolcano nhằm đòi hỏi tôn trọng khác biệt dân tộc khi công nhận tính tương đối của ngôn ngữ với từng dân tộc khác nhau, triết học ngôn ngữ đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những khuynh hướng đặc trưng của tư duy Áo thời kỳ này. Và người người đưa triết học ngôn ngữ đạt đến đỉnh cao chính là Ludwig Wittgenstein.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống trong ngành công nghiệp, ban đầu Ludwig Wittgenstein nghiên cứu các bộ môn kỹ thuật để chuẩn bị trở thành kỹ sư. Thế nhưng, với niềm yêu thích với toán học và logic ngày càng lớn,  Ludwig Wittgenstein quan tâm nhiều hơn tới lĩnh vực triết học. Và mối quan tâm đó chỉ thực sự trỗi dậy khi ông làm quen và trò chuyện với các nhà triết học nơi hàng quán cà phê thành Viên trong thời gian giảng dạy tại một làng nhỏ vùng Hạ Áo.

Sinh hoạt trong cộng đồng trí thức gắn liền với các hàng quán cà phê tại Viên, không chỉ không gian cùng mối liên hệ với hội triết gia có ảnh hướng tới Ludwig Wittgenstein mà chính thức uống tuyệt vời này đã khai mở cảm hứng truy cầu những vấn đề triết học trong ông. Một tiên đề nổi tiếng của Ludwig Wittgenstein đã mở ra một cuộc điều tra triết học thú vị về vai trò của ngôn ngữ thông qua thưởng lãm cà phê: “Liệu bạn có thể miêu tả hương vị của cà phê?”. Xem xét nhiều trích dẫn về cà phê của vị văn hào Honozé de Balzac, ông nhận thấy mỗi trích dẫn lại đem đến những cảm nhận khác nhau: đôi khi cà phê là nguồn năng lượng thức tỉnh tâm trí, khi lại được nhắc đến như yếu tố giúp lấp đầy năng lượng, cân bằng cuộc sống, hoặc được ví như phương thức để hiểu được tâm hồn người thưởng lãm. Nhận thức rằng rất khó để nắm bắt sự đầy đủ của việc “trải nghiệm thưởng lãm cà phê”, Ludwig Wittgenstein đã đi đến tổng kết cuộc điều tra triết học thú vị của mình rằng không ngôn từ nào có thể miêu tả toàn diện, mà chỉ truyền đạt trải nghiệm của con người tại thời điểm nói. Đây trở thành một trong những tiên đề quan trọng bồi đắp nên sự hoàn chỉnh cho hệ thống tư tưởng triết học ngôn ngữ của ông và được truyền tải đầy đủ trong tác phẩm “Những tìm sâu triết học”. Tác phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc đánh dấu bước ngoặt sự phát triển của triết học Ludwig Wittgenstein giai đoạn hậu kỳ, khi ông tập trung vào việc tìm sâu các hiện tượng ngôn ngữ ở trong cách dùng sơ khai của chúng, đưa đến nhận thức rõ ràng về mục đích và chức năng của từ ngữ.

Tư tưởng này của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hàng loạt các trường phái triết học kế tiếp như chú giải học, thuyết hành vi ngôn ngữ tới chủ nghĩa hậu hiện đại và hậu thực chứng. Ludwig Wittgenstein đồng thời được công nhận là triết gia vĩ đại của thế kỷ 20 khi giải quyết những nan đề của triết học, bao gồm vấn đề xem xét lại bản chất của triết học và vấn đề ngôn ngữ như là một phương cách của con người tiếp cận thế giới và chính mình.

Trong chiều hướng đó, hàng quán cà phê tại Viên chính là nơi chốn giúp con người thấu hiểu bản chất đời sống, phát huy tính hiền giả tiềm ẩn trong mỗi người. Nơi đây đã góp phần quan trọng vào quá trình Ludwig Wittgenstein tìm ra mối liên hệ giữa thế giới (thực tại), tư tưởng và ngôn ngữ. Và hàng quán cà phê cũng trở thành một loại hình câu lạc bộ dân chủ, một tổ chức xã hội lý tưởng không thể thiếu trong giới trí thức thành Viên, tạo cơ hội cho họ gặp gỡ đàm thoại, tự do tranh luận, khơi dậy suy tưởng, hình thành nên làn sóng trào lưu tư tưởng thời đại “bùng nổ văn hóa”.

Triết Lý Cuộc Đời Thông Qua Những Câu Tiếng Trung ( P1 )

1.Bạn có thể dùng tình yêu để được cả thế giới

Bạn cũng có thể dùng hận thù đánh mất cả thế giới

你可以用爱得到全世界

你也可以用恨失去全世界

nǐ kě yǐ yòng ài dé dào quán shì jiè

nǐ yě kě yǐ yòng hèn shī qù quán shì jiè

2.Thành tựu lớn nhất của đời người không phải là tiền bạc,

Mà là có người nhớ bạn là ai.

人生最大的成就不是金钱

而是有人记得你是谁 .

Rénshēng zuìdà de chéngjiù bùshì jīnqián

Ér shì yǒurén jìde nǐ shì shuí

4. Cô đơn không song hành cùng với bạn từ khi sinh ra,

mà là bắt đầu từ giờ phút bạn đem lòng yêu một người.

孤单不是与生俱来,

而是由你爱上一个人的那一刻。。。开始。

Gūdān bùshì yǔ shēng jù lái,

ér shì yóu nǐ ài shàng yīgèrén dì nà yīkè… Kāishǐ.

5. 朋友由一个缘字开始 Bạn bè bắt đầu từ một chữ DUYÊNPéngyǒu yóu yīgè yuán zì

凭着一个信字延续 Dựa vào một chữ TÍN mà tiếp tụckāishǐ Píngzhe yīgè xìn zì yánxù

靠一个心字长久 Nhờ vào một chữ TÂM mà lâu dàiKào yī ge xīn zì chángjiǔ

6. Người có thể ảnh hưởng tới tâm trạng của bạn,

Thì chắc người đó thật sự rất quan trọng trong trái tim bạn 可以影响你心情的人

在你心里可能真的很重要吧

Kěyǐ yǐngxiǎng nǐ xīnqíng de rén

zài nǐ xīnlǐ kěnéng zhēn de hěn zhòngyào ba

7. Người bạn sợ nhất không phải là người khác mà là chính bạn.

Kẻ địch lớn nhất của bạn là chính bạn ,chứ không phải là ai khác.

你最怕的人不是别人, 而是你自己,

你最大的敌人是自己, 而不是别人

Nǐ zuì pà de rén bùshì biérén, ér shì nǐ zìjǐ,

nǐ zuìdà de dírén shì zìjǐ, ér bùshì biérén.

8. Đừng tự ti, không tự cao , hãy tự tin

Vạn vật đan trong quá trình thay đổi.

别自卑,勿自高,请自信,

万物正在变化中。

Bié zìbēi, wù zì gāo, qǐng zìxìn,Wànwù zhèngzài biànhuà zhōng.

Tớ không hứa tớ sẽ làm cho câu cười… nhưng tớ có thể khóc cùng cậu

Bởi chúng ta là bạn bè mà, và tớ nguyện chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn của cậu.

Đừng cảm thấy đó là phiền phức nhé, mà đó chính là tình ban…

Rúguǒ yǒu yītiān nǐ xiǎng kū, jiù gěi wǒ dǎ diànhuà ba!

Wǒ wúfǎ xǔnuò ràng nǐ xiào, dànshì wǒ kěyǐ gēn nǐ yīqǐ kū,

yīnwèi wǒmen shì péngyǒu, suǒyǐ wǒ yuànyì fēnxiǎng nǐ de bēishāng yǔ huānxiào,

bùyào juédé zhè shì dǎrǎo, zhè shì yǒuyì!

11. Có 1 tình yêu

Suốt trọn cuộc đời

Không mong báo đáp

Đó chính là tình mẹ

Khi ta vẫn chưa sinh ra đời

Người đã luôn yêu thương , luôn bảo vệ ta

Thế gian không gì sánh được

Tình yêu của mẹ là đẹp nhất !!!

有一种爱

一生一世,都不会求回报,

那就是母亲的爱

在你还没出生时,

她就一直深爱着,保护着你 ,

世间没有能与其相比

母亲的爱最美!

Yǒu yīzhǒng ài

yīshēng yīshì, dōu bù huì qiú huíbào,

nà jiùshì mǔqīn de ài < 3!

Zài nǐ hái méi chūshēng shí,

tā jiù yīzhí shēn àizhe, bǎohùzhe nǐ,

shìjiān méiyǒu néng yǔqí xiāng bǐ

mǔqīn de ài zuìměi!

12. 幸福五大原则:Xìngfú wǔdà yuánzé:Năm nguyên tắc lớn để hạnh phúc

心中无恨;Xīnzhōng wú hèn; Trong lòng không thù hận

脑中无忧;Nǎo zhōng wú yōu; Trong đầu không ưu phiền

生活简单;Shēnghuó jiǎndān; Cuộc sống hãy đơn giản

多些付出;Duō xiē fùchū; Bỏ ra nhiều một chút

少些期待。Shǎo xiē qídài. Mong chờ/ kỳ vọng ít một chút

13. Tất cả mọi người đều muốn được hạnh phúc.

Không muốn gánh vác những đau khổ.

Nhưng (thói đời) nếu không có chút mưa,

Thì làm sao có được cầu vồng đây ?

Suǒyǒu rénDōu xiǎngdédào xìngfúBù yuàn chéngdān tòngkǔDànshì bùxià diǎn xiǎoyǔNǎ lái de cǎihóng ne

14. Bạn gái tức giận nên dỗ dành cô ý,Bạn trai tức giận nên nhịn anh ý.Bạn gái ghen nên ôm cô ý,Bạn trai ghen nên hôn anh ý.Bạn gái khóc rồi nên trêu đùa cô ý,Bạn trai khóc nên giúp đỡ anh ý.Bạn gái mệt rồi nên cõng cô ý,Bạn trai mệt rồi nên đỡ anh ý.Bạn gái sai rồi nên tha thứ cô ý,Bạn trai sai rồi nên lượng thứ anh ý.Sinh nhật của bạn gái nên nhớ lấy,Sinh nhật của bạn trai nên hiểu nó.Trai gái từ xa lạ đến gặp nhau rồi quen biết và rồi yêu thương nhau,Chỉ có yêu và tôn trọng nhau là sẽ luôn được cùng luôn bên nhau __

女友生气要哄她,男友生气要忍他;女友吃醋要抱她,男友吃醋要吻他;女友哭了要逗她,男友哭了要陪他;女友累了要背她,男友累了要扶他;女友错了要原谅,男友错了要体谅;女友生日要记得,男友生日要懂得;男女由陌生到相逢相识相恋相爱,只因爱和尊重是相互相依相偎的嘛__

Nǚyǒu shēngqì yào hōng tā, nányǒu shēngqì yào rěn tā;Nǚyǒu chīcù yào bào tā, nányǒu chīcù yào wěn tā;Nǚyǒu kūle yào dòu tā, nányǒu kūle yào péi tā;Nǚyǒu lèile yào bèi tā, nányǒu lèile yào fú tā;Nǚyǒu cuòle yào yuánliàng, nányǒu cuòle yào tǐliàng;Nǚyǒu shēngrì yào jìde, nányǒu shēngrì yào dǒngde;Nánnǚ yóu mòshēng dào xiāngféng xiāngshí xiāng liàn xiāng’ài,Zhǐ yīn ài hé zūnzhòng shì xiānghù xiāngyī xiāng wēi de ma

15. Loài người vì kiếm tiền,họ hy sinh sức khỏe.Cũng lại vì hồi phục thân thể,họ hy sinh tiền của.Sau đó,bởi lo lắng cho tương lai,họ không có cách nào hưởng thụ hiện tại.Cứ như thế,họ không còn cách nào sống cho tiếp theo.Lúc sống,họ quên mất là cuộc đời rất ngắn.Lúc chết,họ mới nhận ra rằng họ chưa từng được sống tốt.Ông trời ơi….thật đáng tiếc thay…

人类为了赚钱,他牺牲健康。又为了修复身体,他牺牲钱财。然后,因担心未来,他无法享受现在。就这样,他无法活在当下。活着时,他忘了生命是短暂的。死时,他才发现他未曾好好地活着。天啊。。。真可惜唷。。。

Rénlèi wèile zhuànqián, tā xīshēng jiànkāng.Yòu wèile xiūfù shēntǐ, tā xīshēng qiáncái.Ránhòu, yīn dānxīn wèilái, tā wúfǎ xiǎngshòu xiànzài.Jiù zhèyàng, tā wúfǎ huó zài dāngxià.Huózhe shí, tā wàngle shēngmìng shì duǎnzàn de.Sǐ shí, tā cái fāxiàn tā wèicéng hǎohǎo de huózhe.Tiān a. . . Zhēn kěxí yō. . .

17. Nếu mình không yêu người ấy, thì cũng đừng đeo bám như sam, hãy để cho người khác có cơ hôi để yêu người ấy.Còn nếu người ấy bỏ rơi ta, thì ta cũng hãy tạo cho mình cơ hội để yêu người khác.Có những thứ mà ta rất thích nhưng hoàn toàn lại không thuộc về ta, có những thứ mà ta không muốn rời xa nhưng rồi số phận an bài lại không thuộc về ta.

如果你不爱一个人,请放手,好让别人有机会爱她。如果你爱的人放弃了你,请放开自己,好让自己有机会爱别人。有的东西你再喜欢也不会属於你的,有的东西你再留恋也注定要放弃的。

Rúguǒ nǐ bù ài yīgèrén, qǐng fàngshǒu, hǎo ràng biérén yǒu jīhuì ài tā.Rúguǒ nǐ ài de rén fàngqìle nǐ, qǐng fàng kāi zìjǐ, hǎo ràng zìjǐ yǒu jīhuì ài biérén.Yǒu de dōngxi nǐ zài xǐhuan yě bù huì shǔyú nǐ de, yǒu de dōngxi nǐ zài liúliàn yě zhùdìng yào fàngqì de.

18. Cái không thích thì chớ nên gỉa vờ,Thứ không vừa ý thì đừng có miễn cưỡng,

Cuộc sống vỗn đã không dễ dàng như thế,Hà tất phải làm khổ chính mình.

不喜欢的就不要假装不适合的就不要勉强

生活已经那么不容易了何必再辛苦自己

Bù xǐhuān de jiù bùyào jiǎzhuāngbù shìhé de jiù bùyào miǎnqiáng

shēnghuó yǐjīng nàme bù róngyìlehébì zài xīnkǔ zìjǐ

19. Nếu như bạn đủ dũng cảm để nói lời tạm biệt,thì cuộc sống sẽ tặng thưởng bạn một sự khởi đầu mới.

如果你足够勇敢说再见,生活便会奖励你一个新的开始。

Rúguǒ nǐ zúgòu yǒnggǎn shuō zàijiàn,Shēnghuó bian huì jiǎnglì nǐ yīgè xīn de kāishǐ.

20. Khoảnh khắc hạnh phúc nhất của một con người,

Chính là lúc tìm đúng được đối tượng(cần tìm),

Anh(cô) ta phục tùng thói quen của bạn,

Đồng thời yêu mọi thứ của bạn.

一个人最幸福的时刻,

就是找对了人,

他(她)从容你的习惯,

并爱着你的一切。

Cà Phê Và Những Câu Danh Ngôn Về Cà Phê Hay Nhất

Những câu danh ngôn về cà phê hay nhất

1, Cà phê tốt cho tài năng, nhưng thiên tài cần lời cầu nguyện. – Coffee is good for talent, but genius wants prayer.Ralph Waldo Emerson

2, Một ly cà phê ngon là phải vừa ngọt vừa đắng. Một tình yêu lý tưởng là một tình yêu vừa ngọt ngào, vừa đắng cay.Khuyết danh

3, Cà phê không chỉ là một loại đồ uống; nó là thứ gì đó đang xảy ra. Không phải mốt thời thượng, mà giống như một sự kiện, một nơi để đến, nhưng không giống như một địa điểm, mà giống như nơi nào đó bên trong bản thân. Nó cho bạn thời gian, nhưng không phải thực sự là giờ và phút, mà một cơ hội để làm chính mình, và uống cốc thứ hai. – Coffee is a lot more than just a drink; it’s something happening. Not as in hip, but like an event, a place to be, but not like a location, but like somewhere within yourself. It gives you time, but not actual hours or minutes, but a chance to be, like be yourself, and have a second cup.Gertrude Stein

4, Mỗi giọt cà phê rơi, thời gian như ngừng hẳn lại.Khuyết danh

5, Đàn ông rất giống cà phê, bởi nếu là loại ngon sẽ làm bạn mất ngủ.Khuyết danh

6, Tôi nên tự sát, hay nên uống một cốc cà phê? – Should I kill myself, or have a cup of coffee?Albert Camus

7, Nhiều người, không chịu được vị đắng của cà phê nên thường bỏ đường hoặc sữa cho bớt đắng. Tôi không cho đường hay sữa vào cà phê bởi tôi biết: phải nếm trải qua cay đắng mới cảm nhận được ngọt ngào đến lịm người. Cho dù vẫn tiếp tục phải uống cà phê đắng nhưng tôi vẫn không nản lòng vì dư vị ngọt ngào của nó.Bunny

8, Trong màu đen của cà phê tinh ý sẽ thấy được nét sóng sánh của màu nâu đỏ, sau vị đắng ngắm lòng là dư vị ngòn ngọt lạ kì của vị hương. Nhìn đời qua lăng kính phân kì sẽ thấy ngỡ ngàng sự hòa quyện của một tập hợp bao nhiêu là màu sắc, thoang thoảng trong kí ức bao trùm cả không gian những mùi vị của yêu thương.Khuyết danh

9, Cà phê thì phải đen như địa ngục, đắng như tử thần và ngọt ngào tựa tình yêu…Khuyết danh

10, Đen tối như ác quỷ, nóng bỏng như địa ngục, trong lành như thiên thần, ngọt ngào như tình yêu. – Black as the devil, hot as hell, pure as an angel, sweet as love.Charles Maurice de Talleyrand

Tổng Hợp: Internet

Triết Lý Dân Tộc Việt Nam Qua Tục Ngữ

Triết lý dân tộc Việt Nam qua tục ngữ

Võ Thu-Tịnh  

Về ý nghĩa của tục ngữ, trong Việt-Nam văn-học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã nhận xét: “Các câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời… “. (1) Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã ghi: “Tục ngữ là kho tàng kinh nghệm và hiểu biết của người xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh…. Có thể nói đó là một quyển sách khôn mở ngỏ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa đến nay.” (2) Tóm lại, theo các nhà biên khảo nầy thì các câu tục ngữ là một “quyển sách khôn, một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh” giúp cho dân gian ta “có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời”. Trong các tục ngữ của chúng tôi đã sưu tập, ngoài những câu nói về “mưu sinh” và “tâm lý người đời” ra (như canh nông, thời tiết, nghề nghiệp, phong tục, luân lý, lý sự đương nhiên…, mà ở văn chương truyền khẩu nước nào cũng có), thì phần nhiều là những câu về “cái biết”, về “cái khôn” của người đời, rồi đến những câu về “vũ trụ” (như đạo Trời, vận mệnh con người, Phật, tu hành, phúc đức…), về “nhân sinh” (như trung với vua, quan lại tham nhũng, các kinh nghiệm ứng xử khôn ngoan giữa xã hội với nhau). Chúng tôi nghĩ rằng đây là cẩm nang, là bản chúc thư của tiền nhân, truyền lại cho con cháu cả một “triết lý dân tộc” xây dựng trên cái “biết” và cái “khôn”, để cư xử cho đúng “đạo làm người”, theo “Lẽ Trời và Tình người”. Tuy tiền nhân không nói rõ ra, nhưng con cháu chúng ta phải hiểu rằng dụng ý của các Ngài không ngoài mục đích tối thượng là chỉ đường cho chúng ta “tranh đấu bảo tồn nòi giống, đất nước, chống xâm lăng cho khỏi bị đồng hóa, diệt chủng”. Các nhà Nho, các thành phần sang giàu, các thị dân có những sách vở của Nho giáo để căn cứ vào đấy mà ứng xử với nhau. Còn dân gian nông thôn không có chữ, nên trong sự giao thiệp, ứng xử thường ngày, chỉ căn cứ vào các câu tục ngữ, là kho tàng hiểu biết, khôn ngoan, kinh nghiệm mà tiền nhân đã truyền miệng lại cho chúng ta. Tục ngữ nước ta rất nhiều, không có một trường hợp nào mà dân gian không có thể dùng một vài câu tục ngữ để minh chứng cho thái độ, hành vi của mình. Ở bài Parémiologie viêtnamienne et comparée (“Tục-ngữ- học Việt Nam và đối chiếu”), học giả Thái Văn Kiểm có kể lại câu chuyện về công dụng của tục ngữ trong một việc tranh chấp giữa dân gian với nhau, tóm lược như sau:

“Trước đây có một lái buôn bán cho người Việt Thượng một cái áo bằng vải bông giá 50 đồng, trả được 30, còn thiếu 20 đồng, thì người Thượng bỏ lên núi không thấy quay lại thanh toán. Sau một thời gian khá lâu, người lái buôn gặp lại người Thượng xuống đi chợ, liền túm lấy dẫn đến viên cai trị người Pháp để kiện. Người Thượng nói áo mua, vải không tốt, không xứng 50 đồng, nay y chịu trả thêm 10 đồng nữa mà thôi. Còn người lái buôn nhất định đòi cho được 20. Viên cai trị Pháp xét việc cũng không có gì rắc rối, mà y lại nói tiếng Việt và tiếng Thượng thông thạo, thấy không cần gọi viên chức Việt đến giúp. Không ngờ suốt cả buổi mai y giải thích luật lệ, khuyên dụ đủ mọi cách, mà cả hai bên nguyên bị vẫn không ai chịu nghe theo. Cùng lắm, y cho gọi viên chức Việt đến. Viên chức Việt chỉ nói qua nói lại có mấy phút mà người lái buôn bằng lòng nhận 10 đồng. Viên cai trị Pháp lấy làm lạ, hỏi, thì viên chức Việt kể lại là đã dùng các câu thành ngữ, tục ngữ để nói với người lái buôn rằng: “Anh cho người Thượng mắc chịu như vậy cũng như “thả trâu vô rú”, nay được người Thượng bằng lòng trả thêm 10 đồng, là như “của đổ mà hốt” lại thôi. Xưa nay anh có thấy ai hốt của rơi lại cho đủ không? Ông bà ta thường nói: “gạo đổ lượm chẳng đầy thúng”. Bây giờ họ bằng lòng trả 10 đồng là được rồi, chớ bày chuyện kiện cáo vì tục ngữ ta có câu: “Ðược kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chẳn”. Khôn dại, hơn thiệt thế nào, là một thương gia, anh hẳn thấy rõ.” Người lái buôn cho là phải, nên nghe theo.” (3)  

1. Khôn dại trong thi ca

Vấn đề “khôn dại” rất quan trọng trong việc xử thế, cho nên trong văn thơ của các bậc thức giả xưa nay, vẫn thường thấy được nói đến. Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi, trong Quốc-âm thi tập, đã nêu lên vấn đề “khôn dại” nầy:

“Chẳng khôn chẳng dại, chỉ ương ương, “Chẳng dại người hòa (tất cả) lại chẳng thưong.”

Ðại ý nói rằng nếu ta chẳng chịu nhận là dại thì tất cả mọi người chẳng ai thương mình… Ðến thế kỉ thứ XVI, trong Bạch-Vân am quốc ngữ thi tập, Trạng Trình cũng phân biệt hai chữ “khôn dại” như sau:

“Khôn thì người dái (sợ, nể), dại thì thương, “Nhắn bảo bao nhiêu người ở thế, “Chẳng khôn đành dở, chớ ương ương.”

Nghĩa là: Khôn thì thật khôn cho người ta sợ, dại thì rõ ràng dại đi cho người ta thương, nếu không khôn được thì đành chịu dại, chớ không nên ương ngạnh. Vào cuối thế kỉ thứ XIX, khi người Pháp bắt đầu đặt quyền thống trị ở nước ta, Nguyễn Khuyến cáo bệnh từ quan, làm ra vẻ ngây ngô để khỏi bị ép ra làm việc lại. Ở Nam Ðịnh thời bấy giờ, có một người đàn bà tên là Mẹ Mốc, chồng đi mất tích (có thuyết cho là theo kháng chiến), bà giả điên giả cuồng và hủy hoại nhan sắc để khỏi bị chọc ghẹo. Nguyễn Khuyến thấy tâm sự của bà giống với tâm sự của mình, nên cảm tác ra một bài hát nói, có câu kết như sau:

“Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ, “Ðắp tai, ngảnh mặt làm ngơ, “Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây. “Khôn kia dễ bán dại nầy…” (4)

Rồi đến đầu thế kỉ thứ XX, Trần Thế Xương cũng than lên:

“Thiên hạ đua nhau nói dại khôn, “Biết ai là dại, biết ai khôn? “Khôn nghề cờ bạc là khôn dại, “Dại chốn văn chương, ấy dại khôn…”

Vấn đề “khôn, dại” nầy, từ thời xa xưa, ở Trung Hoa, Khổng Tử (551- 479 t.T.L.) cũng đã nêu ra để giảng dạy cho các môn đệ, rằng: “Ninh Võ Tử, khi trong nước có đạo lý thì ông ta tỏ ra có tài trí (để ra làm việc), nhưng gặp khi chính quyền vô đạo, thì ông làm như ngu dại (để khỏi bị ép ra cọng tác, tiếp tay với quân cường bạo sát hại nhân dân). Cái khôn của ông nhiều người làm được, đến như cái ngu của ông thì không mấy ai bì kịp.” (5)  

2. Khôn dại trong tục ngữ

Trong các câu tục ngữ của ta, dân gian đã nói nhiều về “khôn” dại”, và đặc biệt, cũng có một câu giống như các câu thơ của Nguyễn

“Khôn cho người dái (nể, sợ), dại cho người thương “Dở dở ương ương, tổ cho người ta ghét.”

Nhưng vì sao dân ta cho rằng cần phải phân biệt dứt khoát “khôn”, “dại” như thể Nguyên là trải qua bao thế kỉ, dân tộc Việt thường xuyên phải chọn lựa giữa hai con đường: Ðầu hàng, cọng tác với địch, hay kháng chiến chống lại với ngoại xâm và bạo quyền độc tài tàn ác. Con đường nào là khôn? Con đường nào là dại? Nhưng khôn hay dại, thường bị các thành kiến chủ quan thiên lệch của người đời chi phối. Lắm khi, điều mà ta cho là khôn, thì người khác lại cho là dại, hay ngược lại, như trong cổ tích “Trâu rừng với trâu nhà”: “Trâu rừng chê trâu nhà là dại, vì để cho chủ bắt làm việc cực nhọc, rồi cuối cùng cũng bị chủ làm thịt, và cho mình là khôn vì đã chọn cuộc sống tự do, không bị cưỡng bách lao lực. Còn trâu nhà thì chê lại trâu rừng là dại, vì ở rừng bị đói khát, nhất định có ngày sẽ bị beo cọp ăn thịt, và cho mình là khôn vì thường ngày có cỏ để ăn, có nhà để ở, khỏi bị dãi dầu mưa nắng, khỏi bị thú dữ sát hại. Bên nào cũng tự cho mình là khôn hơn bên kia, và cảnh cáo lẫn nhau: “Khôn thì sống, mống (dại) thì chết”. (Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, tập 2, tóm lược truyện số 28). Trong suốt bao nhiêu thế kỉ bị ngoại thuộc hay hay bị kềm hãm dưới các chế độ bạo ngược, cái “khôn thật”, “khôn giả”, và cái “dại thật”, “dại giả” thường bị lẫn lộn với nhau. Tuy vậy, dân gian không phải là không phân biệt được, song không dám nói rõ ra, mà trái lại, thường còn làm như dại khờ không biết đến. Cũng như Nguyễn Khuyến, dân gian đã có câu kín đáo tự hào rằng:

“Rù đầu, giả dại, làm ngây, “Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn !”

Văn-minh Việt-Nam, để giải thích thêm về vấn đề nầy:

“Làm thế nào khác hơn được? khi một dân tộc bị sống trong hoàn cảnh đe dọa diệt tộc thường xuyên, bởi một kẻ mạnh gấp trăm ngàn lần mình, ở ngay bên nách mình, nếu chẳng nghĩ tha thiết đến sự sống còn, đến con cái nối nghiệp, thì chỉ sơ sẩy để đầu óc viễn vông một chút thôi, cũng đủ mất tích vào trong bản đồ của địch thụ Cho nên Trạng Trình, một vị hiền triết được dân chúng kính trọng là có tài tiên tri, đã chỉ dạy có một điều rất gọn:

“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”.

Biết tương quan lực lượng giữa mình và người, biết tâm lý khát vọng giữa mình và người, biết dằn lòng chờ cơ hội thuận tiện để thực hiện ý định, biết giả dối để che đậy bí mật hành động cho khỏi hại, biết cương quyết tiến lui, biết cứng mềm tùy lúc, biết thích ứng hoàn cảnh để sống còn, biết lẩn tránh mũi dùi của địch… toàn là những cái biết rất thực tế, có thể kiểm điểm lại qua mọi sự kiện lịch sử, và có thể thấy rất rõ ràng là chính nhờ cái biết ấy mà nước Việt Nam chúng ta còn được tới ngày nay”. (6) “Khôn cũng chết ” như Trạng Trình nói, đó là cái “khôn giả”; và “dại cũng chết ” như Trạng Trình nói, đó là cái “dại thật”. Chỉ ai biết phân biệt được “khôn thật” với “khôn giả”, “dại thật” với “dại giả”, thì mới có thể sống được mà thôi. Cũng như Trạng Trình, tục ngữ đã kết thúc rằng:

“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống.”

Xem như thế, “biết” là điều kiện chính yếu để biện biệt cái “khôn” với cái “dại”, giúp cho chúng ta có thể thực hiện được “đạo làm người”, giúp cho dân và nước Việt Nam chúng ta khỏi bị diệt vong.

Cho nên tưởng trước hết, chúng ta nên tìm hiểu qua các câu tục ngữ: “Biết là thế nào?” và “Khôn là thế nào?”  

A) “Biết ” là thế nào ?

1 – Biết là suy xét cho đúng phép: suy chín, xét xa, biết rõ gốc ngọn, vắn dài, đắn đo nặng nhẹ, nông sâu:

“Làm người suy chín, xét xa, “Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”

…”Làm người phải đắn, phải đo, “Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu.”

Biết suy nghĩ rất quan trọng, cho nên dân gian thường nhắc đi nhắc lại cho chúng ta ghi nhớ rằng:

“Làm người mà chẳng biết suy, “Ðến khi nghĩ lại, còn gì là thân.”  

2 – Biết còn là suy đoán phân biệt để nhận diện đúng sự vật. Suy đoán là sở trường của những câu đố.  Câu đố – Câu đố có hình thức một câu gọn ngắn có vần hay không có vần, có bản văn nhất định, nhưng câu đố cũng có hình thức một chuyện kể ngắn, không có lời văn nhất định. Tuy vậy vì nội dung hoàn toàn thuộc về trí tuệ, suy luận, nên chúng tôi vẫn xem câu đố như là một loại tục ngữ: Câu đố thường dùng để mua vui, giải trí sau những giờ làm việc mệt nhọc, nhưng câu đố cũng góp phần không nhỏ với tục ngữ để luyện tập, một cách linh động, tinh thần và lề lối suy đoán, biện biệt cho dân gian. Ở đây chúng tôi không thể đi sâu vào việc nghiên cứu toàn thể các câu đố, mà chỉ dẫn ra một số câu đố liên hệ hơn cả với cách suy đoán biện biệt, bổ túc thêm về cái “biết” trong các câu tục ngữ mà thôi. Chúng tôi chú trọng nhiều đến các câu đố gọi là đố mẹo, nghĩa là dùng những cách kín đáo, khéo léo để “gài bẩy”, làm cho người đâu mà suy đoán giải đáp. a) Về loại câu đố mẹo nầy, trước hết, có những câu đố “vừa dố vừa giảng” rất dung dị, song người nghe qua tưởng lầm là vấn đề khó khăn, rắc rối, nên suy nghĩ xa xôi, đi tìm lời giải ở ngoài lời đố, không ngờ lời giảng lại nằm sờ sờ trong câu đố rồi:

“Con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt, rõ ràng con cua”

“Tổ kiến, kiển tố, vừa đố vừa giảng” Ðố: Là những con gì, vật gì ? Giải: Là con cua và tổ kiến (có ghi rõ trong các lời đố).

Người Pháp cũng có một câu đố mẹo như thế: “Quelle est la couleur du cheval blanc d’Henri IV?” (Màu lông con ngựa trắng của Henri IV là màu gi?). Giải: Màu trắng (có ghi rõ trong lời đố). b) Có các câu đố mẹo khác, trong lời đố cố tình làm lẫn lộn các ý niệm “đồng thời” với “lần lượt”, “trọng lượng” với “khối lượng” khiến cho người nghe nào sơ ý, hấp tấp sẽ giải đáp sai:

“Luộc 1 cái trứng 4 phút là chín, vậy muốn luộc chín 8 cái trứng phải tốn bao nhiêu phút?” “Một tạ sắt với một tạ gòn, tạ nào nặng hơn tạ nào?” Giải: Luộc chín 8 quả trứng cũng 4 phút thôi (bỏ 8 trứng chung vào một nồi mà luộc đồng thời với nhau). Một tạ sắt và một tạ gòn, không tạ nào nặng hơn tạ nào. (Vì tạ là 100 cân, thì tạ sắt cũng nặng 100 cân, tạ gòn cũng nặng 100 cân như nhau).

c) Có câu đố mẹo cố tình làm cho lẫn lộn các ý nghĩa (đồng âm dị nghĩa) để đánh lạc hướng người nghe:

“Trục trục như con chó thui, “Chín mắt, chín mũi, chín đầu, chín đuôi.” Ðố là con vật gi? Giải: Con chó thui (Vừa đố vừa giảng; chữ “chín” ở câu nầy không phải là số 9, mà nghĩa là “thui chín”, trái nghĩa với “sống”)

d) Cũng có câu đố mẹo đã cố tình sắp đặt sẵn một câu giải đáp khôi hài nghe qua cũng hợp lý, mà thật ra thì “lãng nhách” (trả lời không đâu vào đâu cả) và ngộ nghĩnh, để “chọc quê” người giải câu đố:

“Vì sao khi hành nghề, mọi tên ăn cắp, móc túi phải nhìn trước rồi nhìn sau? “ Giải: Vì hắn không thể nhìn trước và nhìn sau cùng một lượt.

đ) Ðặc biệt có câu đố mà có thể có nhiều lời giải đúng, như:

“Con gì đứng thì thấp, ngồi thì cao ? “ Trong sách, thấy ghi lời giải đáp là: “Con chó”. Nhưng thật ra, lời giải có thể là “con mèo” vì mèo cũng “đứng thì thấp, ngồi thì cao”, như con chó. Mà con beo, con cọp cũng vậy.

Về “đố toán số” cũng có trường hợp một câu đố mà có thể có vô số lời giải đúng. Chẳng hạn như: “Ba người mua trứng. Người thứ nhất mua nửa giỏ và nửa quả, người thứ hai cũng thế (mua nửa só trứng còn lại trong giỏ và nửa quả). Người thứ ba mua số trứng còn lại. Hỏi số trứng là bao nhiêu? “ Trong sách chỉ thấy ghi có mỗi một lời giải như sau: Số trứng trong giỏ là 7, rồi giảng thêm:

Người thứ nhất: Ba quả rưỡi + nửa quả = 4 quả Người thứ hai : (còn lại: 7 – 4 = 3. Phân nửa của 3 = 1 quả rưởi) một quả rưỡi + nửa quả = 2 quả Người thứ ba: (7 – 4 – 2) = 1 quả

Nhưng thật ra có vô số lời giải đúng khác nữa, như số trứng trong giỏ là 11, 15, 19, 23, 27… chẳng hạn. Số trứng là 11: thì người thứ nhất 6, thứ hai 3, thứ ba 2 quạ Số trứng là 15: thì – 8, – 4, – 3 quả- Số trứng là 19: thì – 10, – 5, – 4 quạ Số trứng là 23: thì – 12, – 6 , – 5 quả. Số trứng là 27: thì – 14, – 7, – 6 quả. Cái mẹo trong câu đố nầy là đưa ra việc mua thêm “nửa quả” trứng. Ðó là điều trên thực tế không thể làm được. Ðiều nầy làm cho người giải câu đố bị hoang mang. Cho nên trước tiên, phải tìm hiểu vì sao lại có việc mua thêm “nửa quả”, thì mới tiếp tục suy đoán được. Là vì số trứng trong giỏ là một số lẻ, nếu chia thành hai phần đều nhau (nửa giỏ) thì, trên lý thuyết kế toán, trong mỗi phần sẽ có “nửa quả”. Cho tiện việc mua bán, người mua, ngoài phần nửa giỏ trứng ra, lại mua thêm “nửa quả” nữa, cho có được trọn y một quạ Như vậy, số trứng trong giỏ phải là một số lẹ Từ điều kiện tiên quyết nầy, người giải câu đố mò mẫm với những con số lẻ, từ số nhỏ đến số lớn, từ 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 19, 21, 23, 25 đến 27 chẳng hạn …, thì thấy các con số đáp ứng với các tiêu chuẩn trong câu đố, là 7,11, 15, 19, 23, 27. Và nhận thấy thêm rằng: lấy số 7 mà cọng với 4, hay cọng với các bội số của 4 (cho đến vô tận), thì chúng ta sẽ có rất có vô số lời giải đúng. Cái hay của câu đố nầy là ở chỗ giúp cho ta hiểu được rằng:

Cần đối chiếu với thực tế mà kiểm soát sự việc mới có thể suy đoán hữu hiệu.  

Thường không phải chỉ có một lời giải (của mình) là đúng mà thôi, cũng có nhiều lời giải khác đúng nữa. Phải có sự “truyền thông” với nhau giữa những thành phần nhân loại.

e) Ðể kết thúc phần nầy, chúng tôi xin dẫn ra một vài câu “đố tục, giảng thanh”, chẳng hạn như: “Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng “Khom lưng, uốn gối, cả đời cong “Lưỡi to mà sức ăn ra khoét, “Cái kiếp theo đuôi có thẹn không?” Câu đố nghe qua, thì thấy rõ ràng là một thóa mạ” một ông quan “có hành động xấu xa lạ lùng, bên trên thì cả đời khom lưng, uốn gối nịnh bợ, phía dưới thì ra sức hà hiếp, đục khoét dân đen, thử hỏi cái kiếp nô lệ theo đuôi ấy, tự mình có thấy hổ thẹn không?” Lời chê bai, hạch tội có phần tục tằn, sống sượng, nhưng khi giảng giải khác đi, thì nghe thanh nhã: Câu nầy tả cái cày. “Cái cày hình dáng không đẹp, cán uốn cong, lưỡi cày to, bao giờ cũng phải theo đuôi con trâu để cày”. Rồi dân gian, nhân cách hóa cái cày, mà lên tiếng hỏi rằng: “Sống cuộc đời theo đuôi con trâu như vậy, “quan anh” có thẹn không?” (Chữ “quan” trong “quan anh”, chỉ “người có địa vị không phải đi phu, tạp dịch trong làng, dưới thời Pháp thuộc” (theo Từdiển tiếng Việt, Nguyễn Lân, 1991). Kinh nghiệm: Một chuyện mới nghe qua cho là chướng tai, biết đâu nếu đứng vào một lập trường nào khác mà nhìn, thì không phải vậy. Dân gian biết dùng lối vừa đùa cợt giải trí, vừa đào luyện cho nhau về suy đoán và cân nhắc trong nhận định, một cách không kém phần sâu sắc.  

B) Khôn là thế nào ?

Khi đã “biết” suy xét, nhận định, suy đoán, thì có thể phân biệt được “khôn” với “dại”, để hành động cho khỏi sai lầm:

1 – Khôn không phải là làm khôn, (tiếng Việt, có chữ “làm khôn” nghĩa là tỏ ra mình khôn ngoan hơn người và can thiệp, xía vào việc của người khác), như thế chỉ có hại cho mình.

“Khôn vừa chứ, khôn lắm lại chết non.”

Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi đã có câu thơ đại ý như thế:

“Hễ kẻ làm khôn thì phải khó”

Và Trạng Trình cũng khuyên đừng “tranh khôn” mà có hại:

“Tranh khôn ắt có bề lo lắng.”

Mà trái lại, tục ngữ bảo ta phải biết cư xử cho nhún nhường, khiêm tốn:

“Ai nhất thì tôi thứ nhì, “Ai mà hơn nũa tôi thì thứ ba.”  

2 – Mà khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn tiếng nói.

Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác, không thận trọng, nên người ta thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao nhiêu tai họa cho bản thân và cho công cuộc đấu tranh của toàn dân:

” Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào.”

…” Thứ nhất là tội miệng mạ”

Cho nên:

“Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay.” …”Người khôn đón trước rào sau, “Ðể cho người dại biết đâu mà dò” …”Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời.” “Sông sâu, sào ngắn khôn dò, “Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng.”…

…”Người khôn nói mánh, người dại đánh đòn.”

Ông cha chúng ta có cách nói gần, nói xa, rào trước đón sau, để khỏi phật lòng người nghe và nhất là để không ai có thể bắt bẻ, hay buộc tội mình được. Ðó gọi là “nói mánh”. (Trong Ðại Nam quốc âm tự điển, 1896, Huỳnh Tịnh Của định nghĩa chữ “mánh” là “ý tứ, tình ý, màng dò” và “nói mánh” là “nói ý tứ, xa gần, nói ướm thử” để người nghe suy nghĩ mà hiểu lấy).  

3 – Khôn không phải là quỉ quyệt để làm thiệt hại người khác:

“Ðã khôn lại ngoan, “Ðã đi làm đĩ lại toan cáo làng.”

Nếu khôn mà quỉ quyệt, thì trước sau gì cũng:

“Khôn ngoan quỉ quyệt chết lao, chết tụ” “Càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều.”

Ở tiếng Việt, từ “ngoan” vốn có hai nghĩa trái ngược nhau: “ngoan” là khôn, nhơn lành, (như ngoan đạo, đứa bé ngoan), mà “ngoan” cũng có nghĩa là khó trị, quỉ quái (như ngoan cố, gian ngoan), (Ðại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của, Saigon, 1896). Trong “gian tham, quỉ quyệt”.  

4 – Mà khôn là thật thà ngay thẳng, vì cuối cùng cái khôn ngay thật bao giờ cũng hơn cái khôn gian trá:

“Khôn ngoan chẳng đọ thật thà, “Lường thưng, tráo đấu chẳng qua đong đầy.”

(Ðấu: thùng bằng gỗ để đong lúa, gạo; thưng: 1/10 đấu).

Tức là: Khôn ngoan không bằng thật thà, ngay thẳng; có gian lận, tráo đổi cũng không bằng làm ăn đứng đắn, lương thiện: đong đầy, cân đúng.

Chưa kể, “khôn” mà làm điều gian ngoan, bất nhân, thất đức, chết đi sẽ bị xuống địa ngục; còn ở đời nầy dại mà hiền lành, chết đi sẽ được lên thiên đàng:

“Khôn thế gian, làm quan địa ngục, “Dại thế gian , làm quan thiên đàng”  

5 – Khôn không dùng để hại dân, bán nước: không phải là đem cái khôn ra chống lại với đồng bào, phản lại quyền lợi chung:

“Khôn ngoan đối đáp người ngoài, “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”…

…”Chim không đánh chim cùng một tổ “Trâu một chuồng, đâu có húc nhau.

“Cùng chung một giọt máu đào, “Nỡ nào hại nước, nỡ nào hại dân.”

“Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chửa có khôn, “Núi Tam Sơn chẳng đậu, lại đi đậu cồn cỏ may !”

Dân gian ở vùng của chúng tôi cũng có một câu nữa tương tự như thế:

“Chim kia dại lắm không khôn, “Núi Lam Sơn không đậu, lại đậu cồn cỏ may.”

Lam Sơn là nơi ngày xưa Lê Lợi khởi nghĩa, ở đây “Lam Sơn” dùng để tượng trưng cho “kháng chiến”. Câu nầy đại ý nói: Thương hại cho những kẻ dại dột không biết theo kháng chiến cứu nước, mà lại đi theo phường Việt gian (đậu cồn cỏ may là một thứ cỏ, mỗi lần ta ngang qua, thì bị những hạt nhỏ của cỏ móc vào quần, rất dơ bẩn, phải mất thì giờ mới gỡ hết được). Và cũng có câu:

“Gáo đồng múc nước giếng tây, “Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta.”

“Giếng tây” là “giếng ở phía tây” mà cũng có thể hiểu là “người Tây”; “múc nước giếng Tây” có thể hiểu là “đem nước dâng cho Tây”. Ðại ý câu nầy là: Cọng tác với Tây, mà tự cho là mình khôn, nhưng có khôn cho lắm, cũng chỉ là đem thân ra làm nô lệ cho ngoại nhân mà thôi!  

6 – Mà khôn dùng để giữ vững lập trường, đừng để cho đối phương lung lạc, mua chuộc, dụ dỗ đưa vào con đường bán nước, phản dân:

“Người đời phải xét thiệt hơn, “Ðừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà sai.”…

“Ðây ta như cây giữa rừng, “Ai lay không chuyển, ai rung không dời”  

7 – Khôn mà ý thức được giới hạn của cái khôn. Chính tục ngữ đã vạch ra cho ta thấy rõ những hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã hạn chế cái khôn của người đời:

a) Hoàn cảnh khách quan đã hạn chế cái “khôn”, như: tiền bạc, lẽ phải, may mắn, thiên thời, địa lợi…:

“Cái khó, bó cái khôn.”

…”Khôn như tiên, không tiền cũng dại.”…

…”Khôn chẳng qua lẽ, khoẻ chẳng qua lời.”…

…”May hơn khôn.”…

…”Chẻ vỏ (biết nhiều) vẫn thua vận đỏ.”…

…”Người đời ai có dại chi, “Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông.” …”Khôn ngoan ở đất nhà bay, “Dù che, ngựa cưỡi, đến đây phải luồn.”  

b) Hoàn cảnh chủ quan đã hạn chế cái “khôn”, như: dục tình, nhẹ dạ, bản tính trời sinh, già nua lú lẫn…

“Miệng khôn, trôn dại.”

…”Khôn ba năm, dại một giờ “

…”Khôn từ trong trứng khôn ra,

“Dại dẫu đến già cũng dại.”

…”Trẻ khôn qua, già lú lại.”

Tổng kết

Qua tục ngữ, chúng ta thấy được đường lối nghìn năm của ông cha chúng ta, là trường kỳ tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc, của quốc gia, mà triết lý căn bản là: “biết thì sống”, biết “phân biệt dại và khôn” để bản thân, nòi giống khỏi bị diệt vong, một triết lý xây dựng trên tình người , trên sự làm lành, đùm bọc, giúp đỡ, cứu vớt lẫn nhau, một lề lối ứng xử chừng mực vừa phải, biết thận trọng, ẩn nhẫn, chịu đựng để thích nghi hóa với mọi hoàn cảnh để sống, để tồn tại, để chờ thời, chờ cơ hội thuận lợi mà vùng lên. Nguyễn Thùy, trong Tinh thần Việt Nam, cho rằng: “Có như thế, dân tộc ta mới tồn tại, mới bảo vệ được tinh thần của mình, mới tiếp thu được mọi thứ của người để có thể thể hiện được một hội nhập tròn đầy cái lý dịch hóa của vũ trụ vạn vật và của con người vào thời kỳ cuối của kỉ nguyên. Cái tính “chấp nhận để từ khước”, “hòa mà không đồng”, “tỏ ra thua thiệt để không đầu hàng”, “chịu thiệt thòi để không mất tất cả”, nếu có đưa dân tộc đến chỗ phải gánh chịu nhiều trầm luân, nhưng chính là một cuộc “chạy trốn về đằng trước” rất tế nhị của dân tộc ta để sửa soạn cho một bước đi tốt đẹp vào hồi chung cục. Chịu đựng tất cả để khỏi bị tiêu diệt.” (7) Tinh thần kết hợp cái “khôn” và cái “biết” trong tục ngữ, đã chi phối mọi xử sự, thông truyền giữa dân gian nước ta. Tinh thần ấy cũng phần nào giống với quan niệm kết hợp “khôn” và “biết” trong triết học hiện đại Tây phương. Một giáo sư Pháp, Didier Julia, cũng xác nhận rằng: “Cái “khôn”, theo nghĩa xưa, là cái “biết” bằng trực giác về những qui luật của vũ trụ, và theo định nghĩa hiện đại, là cái “biết” về những vấn đề của những người khác. Nói một cách thông thường hơn, cái “khôn” là một khái niệm luân lý chỉ sự “thăng bằng” của phẩm cách con người : sự “tiết độ” (theo Platon), hay sự “chừng mực” của mọi ham muốn. Theo nghĩa ấy, cái “khôn” trái lại với sự “say mê”, cũng như trái lại với cái “dại”. Cái “khôn” có khuynh hướng hóa đồng với sự “thận trọng”. (8) Từ điển về Triết-học Pháp cũng đã định nghĩa: “La sagesse est le but de la philosophie”, nghĩa là “cái khôn là cứu cánh của triết học”. (8) Tóm lại, dân tộc Việt Nam quả đã có một triết lý riêng của mình, triết lý mà ông cha chúng ta dụng ý trối gửi lại qua các câu tục ngự Bổn phận con cháu chúng ta là khám phá cho thấy được triết lý ấy, để hành động cho đúng, hầu tiếp tục đấu tranh bảo tồn nòi giống và quê hương. Và danh từ “triết lý” trong đầu đề “Triết lý dân tộc Việt

Võ Thu-Tịnh  

Chú Thích:

(1) Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, q. I, Paris, SudAsie, 1986, Tục ngữ, tr. 6,7.

(2) Phạm Thế Ngũ, Việt-Nam văn-học sử giản ước tân biên, q. I, Ðại Nam tái bản, Glendale,CA., năm ?, tr. 22, 23.

(3) Thái Văn Kiểm, Parémiologie việtnamienne comparée , in Présence Indochinoise, Paris, No1 – Avril 1979, pp. 81 – 117.

(4) Nguyễn Khuyến – Mẹ Mốc:

So danh giá ai bằng Mẹ Mốc, Ngoài hình hài gấm vóc cũng thêm ra. Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa, Làm thế để cho qua mắt tục. Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc, Tâm trung thường thủ tự kiêm kim.(a) Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm, Giữ son sắt êm đềm một tiết. Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết; Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ. Ðắp tai ngảnh mặt làm ngơ, Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây. Khôn kia dễ bán dại nầy!

(a) Kiêm kim = vàng ròng

(5) Luận Ngữ, bản dịch của Ðoàn Trung Còn, Paris, SudAsie, năm ?, chương Công Dả Tràng, tiết 20, trang 76: “Tử viết: Ninh Võ Tử, bang hữu đạo tắc trí, bang vô đạo tắc ngu. Kỳ trí khả cập giã, kỳ ngu bất khả cập giã”

(6) Lê Văn Siêu, Văn minh Việt Nam, Saigon, Nam Chi tùng thư, 1964, tái bản Glendale CA., Ðại Nam, năm ?, tr. 92, 93.

(7) Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân, Tinh thần Việt Nam, San José CA, Mékong Tỵ nạn, 1992, tr.195-196.

(8) Didier Julia, Dictionnaire de la Philosophie, France Loisirs, Paris, 1992, p. 252: Sagesse , “Cette définition est certainement la plus rigoureuse: la sagesse est, au sens antique, la connaissance des lois du monde et, au sens moderne, la compréhension des problèmes d’autrui. Plus communément, la sagesse est une notion morale qui désigne l'”équilibre” de la personnalité : la “tempérance” (Platon) ou la modération des désirs. En ce sens, la sagesse s’oppose à la passion, autant qúà la bêtise. Elle tend à s’identifier à la prudence.”  

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỳ 38: Triết Gia Ludwig Wittgenstein Và Triết Học Thông Qua Thưởng Lãm Cà Phê trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!