Xu Hướng 2/2023 # Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại # Top 10 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM

KỲ THỨ 5

NGUYỄN TRÃI

– NGƯỜI CON TOÀN THIỆN CỦA DÂN TỘC,

DANH NHÂN VĂN HOÁ NHÂN LOẠI

                                Kiều Văn

Trong thế kỉ XV, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra một con người toàn thiện: Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Nếu lấy sự toàn thiện làm tiêu chí thì Nguyễn Trãi xứng đáng là con người ưu tú nhất của dân tộc ta kể từ khi lập quốc (thời đại Hùng Vương) đến nay.

Ông chính là mẫu người mà thi hào Anh Shakespeare đã ca ngợi trong vở kịch Hamlet:

Đây con người, một con người toàn vẹn Chẳng bao giờ tôi thấy kẻ sánh ngang.

Lê Thánh Tông, ông vua anh minh, có câu thơ ca ngợi Nguyễn Trãi:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo.

(Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê).

Tiên nho Nguyễn Năng Tĩnh ở nửa cuối thế kỉ XIX đã viết một câu nổi tiếng trong lời tựa sách Ức Trai di tập (do ông cùng Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh sưu tầm lại những tác phẩm của Nguyễn Trãi đã bị tán thất, rồi đem in thành sách năm 1868): “Những người có tài trí lỗi lạc, đức độ bao la, khi đem tài đức ấy thi thố ra việc làm thì đó là sự nghiệp, khi thổ lộ ra lời nói thì đó là văn chương”.

Nhận định ấy đã được chính sử Việt Nam và sự nghiệp văn chương trác tuyệt của Nguyễn Trãi xác nhận.

Chúng tôi xin phân tích những phương diện đã làm nên sự toàn thiện của Nguyễn Trãi như sau:

NGUYỄN TRÃI – NHÀ ÁI QUỐC VĨ ĐẠI, ANH HÙNG DÂN TỘC

Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn của một sự nghiệp anh hùng.

Trong những năm bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã kí thác niềm u uất và chí vọng của mình trong những bài thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian No nước uống, thiếu cơm ăn… Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian.

(Thủ vĩ ngâm)

… Một thân lẩn quất đường khoa mục, Hai chữ mơ màng việc quốc gia. Quân thân chưa báo, lòng canh cánh Tình phụ cơm trời, áo cha.

(Vô đề)

Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến. Một mình ông đảm trách cả một mặt trận quan trọng: mặt trận chính trị ngoại giao. Với sở học uyên bác, trí tuệ sắc bén, ông đã liên tiếp gửi thư cho bọn tướng giặc, đánh những đòn cân não làm tan rã tinh thần của chúng.

Cuối cùng Nguyễn Trãi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của ông: đánh đuổi được giặc Minh, mang lại độc lập cho đất nước. Chính ông đã thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo tổng kết chiến thắng oanh liệt của dân tộc:

Chẳng những mưu kế cực kì sâu xa Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy. Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới. Trời đất bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt mờ rồi lại trong. Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toán thư)

Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông.

(Thuật hứng)

Làm quan dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, ông đã ra sức chèo lái con thuyền của triều đình nhà Lê đi đúng con đường chính đạo mà tinh thần căn bản là thực hành nhân nghĩa để yên dân. Điều đặc sắc ở vị đại quan Nguyễn Trãi là khái niệm ái quốc luôn được cụ thể hoá bằng khái niệm ái dân, cận dân. Nói cách khác, với ông, chính lòng ái dân là thước đo tuyệt đối của lòng ái quốc! Có lẽ chỉ trừ một người thứ hai là vua Lê Thánh Tông, không một vị vua quan nào của triều Lê đạt tới ý niệm tuyệt vời đó. Và cũng chính vì tư tưởng khuynh dân đó mà Nguyễn Trãi trở thành thù địch của bọn quan lại triều Lê – những kẻ ít nhiều đều mắc căn bệnh vị kỉ và viễn dân. Có thể nói Nguyễn Trãi đã tử vì… tinh thần khuynh dân đó!

Trọn cả cuộc đời cống hiến cho nước, cho dân, lập được những kì tích sáng chói, Nguyễn Trãi trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại, kế tục truyền thống của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… đời trước, sát cánh với người anh hùng cứu nước Lê Lợi đương thời.

Chủ nghĩa anh hùng yêu nước của ông thể hiện rất rõ nét trong nhiều trước tác văn chương của ông như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, thơ nôm và thơ chữ Hán mà sau đây là một bài tiêu biểu:

ĐỀ GƯƠM

Rồng ẩn Lam Sơn lúc đợi thời, Trong tay thế sự rõ mười mươi. Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài. Hận nước nghìn năm vừa rửa sạch, Hòm vàng muôn thuở chắc không phai. Giang sơn đổi mới từ đây nhỉ, Thử đếm anh hùng được mấy ai?

Xuân Thủy dịch

NGUYỄN TRÃI – NHÀ CHÍNH TRỊ KIỆT XUẤT, BẬC HIỀN TÀI QUỐC GIA.

Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cộng sự với triều đình nhà Lê với tư cách một nhà chính trị, một nhà mưu lược. Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế trên các mục tiêu chiến lược: đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh. Bên cạnh đó ông xây dựng một sự nghiệp văn chương kì vĩ.

Suốt cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ ông là một nhà chính trị kiệt xuất có tầm tư tuởng cao nhất của thời đại bấy giờ. Đánh giặc đương nhiên phải dùng tới vũ dũng. Nhưng đối lập với những kẻ hữu dũng nhưng vô mưu, vô trí, vô nhân, Nguyễn Trãi, với tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị quân sư của Lê Lợi, đã cống hiến và đặt nền móng tinh thần, tư tưởng cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng nhân nghĩa mà ông rút từ học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử nhưng được áp dụng một cách đầy sinh động và sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta lúc đó. Cao kiến ấy của Nguyễn Trãi, nhà Hồ cũng như nhà Hậu Trần trước đó đều không có được. Nó đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta đương thời, khiến cho tất cả mọi người Việt Nam từ bậc hào kiệt, giới sĩ phu, dân cày cuốc đến kẻ cùng đinh đều hướng về và quây quanh vị chủ tướng Lê Lợi. Muôn người cùng có chung một suy nghĩ lớn: NGHĨA, và một tình cảm lớn: NHÂN. Chính sự thống nhất cao độ về lí trí và tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh “chở thuyền lật thuyền”, khiến giặc Minh không thể nào chống lại nổi!

Tư tưởng nhân nghĩa trác việt ấy luôn luôn được Nguyễn Trãi triệt để cổ súy, nhấn mạnh ở mọi nơi, mọi lúc, trên chính trường, trên nghị luận và trong văn chương. Mở đầu Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam thế kỉ XV – ông viết:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Chỉ với hai câu văn, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng mục tiêu quang minh chính đại của cuộc kháng chiến chống Minh: đó chính là việc thực thi tư tưởng nhân nghĩa trong hoàn cảnh chống ngoại xâm. “Cẩm nang” nhân nghĩa là vũ khí tinh thần tối quan trọng cho nghĩa quân và nhân dân Đại Việt, đồng thời là độc tố làm rệu rã tinh thần của bọn giặc Minh xâm lược. Có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử… đúc kết mà bọn tướng Minh đều đã học thuộc nằm lòng, để quật lại chúng. Giặc Minh kéo sang An Nam với chiêu bài “chính nghĩa” là diệt nhà Hồ để khôi phục ngôi nhà Trần đã bị nhà Hồ thoán đoạt. Nhưng Nguyễn Trãi đã vạch rõ bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng chỉ bằng một từ duy nhất: “bạo”! Chiêu bài “chính nghĩa” bị xé toạc, bộ mặt bạo ngược, bất nhân phi nghĩa của giặc bị phơi bày trước trời đất, trước toàn thể sĩ phu và nhân dân ta: chỉ riêng điều đó cũng đã đủ khiến chúng vô cùng hoảng sợ. Đòn cân não ấy xuất phát từ một khối óc thiên tài: Nguyễn Trãi.

Khác với rất nhiều vị vua và các tướng lĩnh giỏi của các thời đại, trong nước và trên thế giới, Nguyễn Trãi – xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa – hiểu thấu hơn ai hết cái chân lí lớn máu người không phải nước lã. Chính vì vậy, ông ra sức dùng đòn bút, đòn cân não để đánh giặc, nhằm làm giảm bớt tối đa xương máu của nghĩa quân Lam Sơn. Việc quân ta chủ trương trường kì vây hãm Đông Quan mà không ồ ạt tiến công hạ thành cũng chính nhằm bảo toàn lực lượng của ta, và kết quả thật kì diệu: giặc Minh rốt cuộc phải đầu hàng, còn nghĩa quân Lam Sơn hầu như không mất một mũi tên, một mạng người!

Ở phần cuối Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức”. Tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với quân và dân ta nồng đượm biết chừng nào!

Là nhà tư tuởng tầm vóc nhân loại, Nguyễn Trãi chủ trương áp dụng nhân nghĩa cho tất cả những ai là con người chứ không riêng gì người An Nam. Một sáng kiến vĩ đại của ông là mang nhân nghĩa áp dụng ngay cả với kẻ thù! Ông chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng”. Ông chỉ muốn đánh vào tâm vào trí giặc khiến chúng bại vong rút về nước chứ không thích giết nhiều người. Ngay cả khi tính mạng giặc hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân, các lãnh tụ Lam Sơn đã hành động theo tinh thần “oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh”.

Khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng nhờ có tư tưởng nhân nghĩa làm kim chỉ nam, phần cuối của cuộc kháng chiến chống Minh đã diễn ra bằng hình thức “đàm phán hoà bình”. Giặc Minh ở các lộ được tự do đến các chợ mua “đồ lưu niệm”, rồi tất cả lục tục kéo về Đông Quan để rút hết về nước. Không ai khác, chính Nguyễn Trãi là tác giả của hình thức kết thúc chiến tranh hiếm thấy đó trong lịch sử chiến tranh phương Đông.

Hiệu quả của hành động kết thúc chiến tranh bằng tư tưởng nhân nghĩa ấy thật vô cùng to lớn: một trang sử mới hoà hiếu đã mở ra giữa hai nước An Nam – Trung Hoa và duy trì suốt hơn bốn trăm năm cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX (trừ một giai đoạn rất ngắn quân Thanh kéo sang nước ta theo lời kêu gọi của Lê Chiêu Thống nhưng lập tức bị vua Quang Trung tiêu diệt).

Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Họ chủ trương giải quyết những vấn nạn của nhân loại trên cơ sở lương tri cao cả của con người. Đối lập với họ là bọn bạo chúa của các thời đại (như phái pháp gia đời Tần hoặc Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt thời Nguyên Mông…) – những kẻ chủ trương xây dựng sự nghiệp trên xương máu và thảm hoạ của muôn dân mà thi hào Nguyễn Du đã mô tả bằng một câu “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Con đường nào đúng? Đó là một câu hỏi hóc búa đòi hỏi phải có những kiến giải tối ưu đặt ra cho những người muốn đi tìm chân lí của môn lịch sử.

Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tư tưởng nhân nghĩa trong thời bình, khi ông phụng sự dưới hai triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thông qua việc tổ chức triều chính, ban hành các chính sách kinh tế xã hội… Đằng sau các lệnh chỉ của vua, của triều đình, người đọc sử có thể thấy rõ mồn một cái hạt nhân trí tuệ và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Ví dụ các lệnh chỉ sau đây: tiến cử và tự tiến cử hiền tài; sát hạch trình độ của các quan văn võ trong toàn quốc; cấm rượu chè cờ bạc; đào tạo các con quan văn võ tại Trường quốc học; phân chia ruộng đất cho tất cả mọi người, từ quan đại thần đến người cùng đinh, đàn bà goá, trẻ mồ côi; cho phép các ngôn quan được dâng sớ vạch rõ những sai lầm khiếm khuyết của vua, đàn hặc những sai trái của các quan; cấm quan lại không được mở rộng đất đai ngoài mức triều đình qui định v.v…

Trong sớ tâu với vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã viết một câu bất hủ: “Xin bệ hạ yêu muôn dân để cho tận chốn thôn cùng xóm vắng không còn nghe thấy tiếng ta thán, thế mới là không mất cái gốc của nhạc”.

Những đóng góp của Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất, bậc hiền tài quốc gia – đã giúp cho triều đại Hậu Lê tiến bộ vượt bậc và đạt tới cực thịnh vào đời Lê Thánh Tông. Nguyễn Trãi xứng đáng sánh ngang với các nhà chính trị lỗi lạc của mọi thời đại.

NGUYỄN TRÃI – MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

Ngoài những cống hiến vô cùng lớn lao cho đất nước, Nguyễn Trãi được toàn thể dân tộc tôn vinh còn vì nhân cách cao cả của ông.

Con người có nhân cách là người biết tự trọng, quyết chí tu thân, có lí tưởng sống cao đẹp và suốt đời hành động theo lí tưởng đó.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời. Thiên tài của ông đã may mắn gặp được bậc minh quân, được trọng dụng trong công cuộc vĩ đại: đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Ông đã hào hứng viết:

Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.

(Đề gươm)

Tài năng và nhân cách của ông đã làm nên hình tượng người anh hùng của thời đại chống ngoại xâm.

Nhưng nhân cách ông càng thực sự sáng ngời trong những nghịch cảnh của đời ông diễn ra giữa thời bình nhưng đầy dẫy phiền lụy của một triều đại phong kiến. Ngay dưới triều Lê Thái Tổ, do những lời sàm tấu của lũ quan lại trong triều (vu cho ông tội âm mưu nổi loạn, cướp ngôi!), ông đã bị nhà vua hạ ngục. Trong nghịch cảnh ấy, ông đã nén lòng uất hận, đã đặt bi kịch cá nhân mình xuống dưới sự nghiệp lớn lao của nhà Hậu Lê, dưới nền thái bình của xã tắc:

Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười. … Trong lao “độc bối” cam mang nhục, Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

(Than nỗi oan) – Thạch Can dịch

Mang cốt cách đại trượng phu, Nguyễn Trãi không bao giờ thoả hiệp, về hùa với những tà kiến của một số triều thần. Vì vậy, ông trở thành cái gai trước mắt họ. Bị họ bài xích, cuối cùng ông đành phải xin vua Lê Thái Tông cho về trí sĩ ở Côn Sơn (những năm 1437 – 1438). Lâm vào một nghịch cảnh mới, ông đã xử sự như thế nào?

Trước hết, ông nhận thức được “trong cái rủi có cái may”! Vì bị xua đuổi mà ông có được một dịp tốt nhất để chính mình chiêm nghiệm cuộc sống ẩn cư, từng được coi là điều tuyệt thú của bao hiền sĩ đời xưa, trong đó có ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán. Không chịu để cho bi kịch của cuộc sống thế tục đè bẹp, ông vươn lên tầm cao, hoà nhập vào đại tự nhiên cực kì diễm lệ. Hình ảnh của ông khác nào một tiên ông, một thánh nhân giữa núi non, mây nước, cây cỏ, chim muông:

Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay…

hoặc:

Thiêu hương đọc sách quét con am Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm. Ánh cửa trăng mai lớp lớp, Kề song gió trúc nồm nồm…

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ẩn sĩ quay lưng lại với cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cá nhân của mình. Xét theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản, đó là một biểu hiện không những hợp lí mà còn tuyệt đẹp nữa. Vì vậy mà những ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Sào Phủ, Hứa Do, Lã Vọng, Khổng Minh, Nghiêm Quang hay bọn “bát tiên”, “lục dật” ở Trung Hoa, hoặc Trần Nguyên Đán, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam… đã đi vào huyền thoại và trở thành điển cố.

Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải quyết xong bài toán hành – tàng, xuất – xử:

Ngán vòng thế tục thân danh hão, Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ. Tính khí một đời nguyên nếp cũ, Lênh đênh há giảm chí hào xưa!

(Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)

– Ngô Linh Ngọc dịch

Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

hoặc:

Non lạ nước thanh làm náu, Đất phàm cõi tục cách xa. Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá (không chịu đổi).

Vận dụng triết lí Lão – Trang, sống thoát tục, Nguyễn Trãi càng nhận thức sâu sắc một chân lí của muôn đời:

Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầu dãi có phong lưu.

Và ông hướng tới một lí tưởng mới: nếu không còn điều kiện để làm một quốc sĩ thì hãy làm một con người thật sự trong sạch và thánh thiện. Đó không phải là điều đáng mơ ước cho chúng sinh trong vòng ô trọc sao:

Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước.

Tuy nhiên, đặc tính của một nhân cách lớn là tối kị lối sống “hư sinh” (sống thừa). nguyễn Trãi chính là biểu hiện rực rỡ của cái chân lí về người quân tử mà Kinh Dịch đã nói: “Trời chuyển vần mãnh liệt, quân tử cũng tự tạo sức mạnh mà không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Trong thời gian ở ẩn tại Côn Sơn, ông đã làm bao nhiêu việc lớn lao vĩ đại, không hề thua kém việc ông tham gia kháng chiến chống Minh trước đó: tu thân, tìm ra triết lí sống mới, tổng kết những bài học về thế sự và nhân sinh, viết sách giáo khoa luân lí đạo đức, và sáng tạo cả một công trình vĩ đại về thi ca Hán – Nôm.

Ông hiểu thấu rằng luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục… là nền tảng cho đời sống hạnh phúc lâu dài của con người. Vì vậy, ông đã trước tác một tác phẩm chuyên về luân lí đạo đức mang tên Bảo kính cảnh giới (Gương quí răn mình) trong đó ông đúc kết nên những khuôn vàng thước ngọc của nền đạo đức dân tộc. Những bài “đức dục” ấy của ông, trải qua năm sáu trăm năm, đến nay dường như vẫn còn nóng hổi và sát thực với chúng ta:

– Kết bạn, mạ (chớ) quên người cố cựu, Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang? – Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, Có nhân có trí có anh hùng. – Cơm ăn miễn có, dầu thô bạc, Áo mặc âu chi quản cũ đen. – Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, Cành bắc cành nam một cỗi nên. Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp… – Của thết người là của còn, Khó khăn, phải đạo cháo càng ngon. – Bất nhân vô số nhà hào phú, Của ấy nào ai từng được chầy (lâu)? – Sắc là giặc, đam làm chi? Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi…

Không hề giáo điều với chủ nghĩa ẩn cư, khi được ông vua trẻ Lê Thái Tông mới lên ngôi mời ra giúp việc triều đình, Nguyễn Trãi lại vui vẻ “nhập thế”. Ông lại lao vào một cuộc chiến đấu mới hết sức gay go. Khi ấy nhà vua còn trẻ, lười học hành, ham chơi bời, sớm vướng víu chuyện thê nhi… Triều chính lục đục, nhất là chuyện phế lập thái tử, chuyện rắc rối giữa các bà phi… Với trách nhiệm của một bậc lương thần, ông ra sức chèo chống để hạn chế những hành động sai quấy của cả vua lẫn bọn quan lại trong triều. Chính vì vậy, ông trở thành tảng đá cản dòng đối với bọn gian thần. Cuối cùng, chúng lợi dụng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, vu cáo ông âm mưu giết vua và khép ông vào cái án tru di tam tộc!

Thảm hoạ và cái chết của Nguyễn Trãi phải được nhìn nhận như một hành vi tuẫn đạo của một bậc đại hùng đại đức, của một nhân cách vĩ đại. Nhân cách ấy vượt lên trên tầm của thời đại nhiễu nhương bấy giờ và hướng tới sự tất thắng của chân lí, đúng như những câu thơ ông viết:

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Văn không tàn lụi cũng do trời)

Là một khai quốc công thần và đại thần của triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi có thể dễ dàng đạt được tột đỉnh của vinh hoa phú quí, vậy mà ông đã khước từ tất cả và cuối cùng phải hi sinh đến ba họ chỉ vì chân lí, vì nhân nghĩa, vì nhân dân. Nhân cách cao thượng, trong sáng của ông quả có thể sánh với mặt trăng mặt trời.

NGUYỄN TRÃI – NHÀ VĂN HÓA VĨ ĐẠI

Từ xưa, loài người đã từng sản sinh ra một mẫu người vô cùng hiếm hoi: mẫu nhân tài bách khoa như Léonard de Vinci (1452 – 1519). Nguyễn Trãi của Việt Nam thuộc mẫu người đó. Ông đồng thời là nhà chính trị lỗi lạc, nhà bác học và nhà thơ vĩ đại. Ông nghiên cứu và có nhiều trước tác thuộc nhiều lĩnh vực của tự nhiên và xã hội như: quân sự (Quân trung từ mệnh tập), địa lí (Ức Trai dư địa chí), lịch sử (Lam Sơn thực lục), điển phạm của triều đình (Giao từ đại lễ), pháp luật của quốc gia (Luật thư – tác phẩm sau này được Lê Thánh Tông sử dụng làm nội dung căn bản của bộ luật vĩ đại: Bộ luật Hồng Đức), âm nhạc (ông là người tổng kết âm luật nhạc dân tộc để soạn ra quốc nhạc, chế định các nhạc cụ của ban nhạc triều đình, là tác giả chế tạo khánh đá), văn học (gồm cả văn và thơ chữ Hán và chữ Nôm).

Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu trình bày về sự nghiệp thơ văn Hán và Nôm kì vĩ của ông.

Nguyễn Trãi là cây đại thụ toả bóng rợp ngàn năm cho hậu thế. Trước ông, thơ nôm đã xuất hiện và còn để lại chứng tích ở đời Trần với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Trần Quí Khoáng, Nguyễn Biểu… (hầu hết tác phẩm của họ đã thất truyền). Những tác phẩm còn sót lại được viết khá bóng bẩy nhưng vẫn còn mang nặng khuôn sáo thơ cổ điển Trung Hoa.

Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là di sản quí báu nhất của thời kì sơ khai nền văn học dân tộc. Ông chính là một trong những “ông tổ thơ nôm” đã đặt nền móng cho nền thơ ca thành văn của dân tộc sẽ phát triển không ngừng ở các thời đại sau.

Kì tích đầu tiên của Nguyễn Trãi với thơ nôm là việc ông nhận thức được giá trị và chú tâm khai thác vốn từ ngữ của Tiếng Việt, một ngôn ngữ có đặc tính đẹp đẽ, tinh tế, biểu cảm, giàu tính tượng hình và thượng thanh, giàu âm điệu… Ông đã chọn lọc, sáng tạo thêm và sử dụng chúng trong thơ với tư cách là những từ ngữ văn học nôm đích thực như: quẩy trăng, ngại bước, thu lành lạnh, nguyệt chênh chênh, cây rợp, dửng dưng ca, hớp nguyệt, nguyệt hiện, thanh tựa nước, chim kêu cá lội, hoa xảy động, nguyệt đeo về, tổ ong tàng, núi láng giềng, mây khách khứa, say mùi đạo, đầy qua nóc, nặng với then, nắng quáng, cây im thưa thớt, gió khoan khoan đến, tơ vết, mồ hoang cỏ lục, cài lướt then, chân đi đủng đỉnh, vận xênh xang, nước biếc non xanh, đêm chờ hương quế, ngày lệ bóng hoa, nguyệt một vầng, thu vàng, tuyết bạc, ngàn núi xanh, nguyệt ba canh, lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve, phơ phơ đầu bạc, leo lẻo doành xanh …

Ông cũng mạnh dạn chuyển ngữ sang tiếng Việt nhiều từ ngữ, thành ngữ gốc tiếng Hán để cho người Việt dễ hiểu như: tường đào ngõ mận, câu quạnh cày nhàn, đạp áng mây, tấc lòng ưu ái, câu mầu, non lạ nước thanh, biển hiểm, ẩn cả, ba thân, hỏi trăng, cả dùng, cởi buồn, dưỡng dỗ, đi nghỉ, lòng thế…

Một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi là việc thay thế những câu 7 âm tiết trong thơ Đường Trung Hoa thành những câu 6 âm tiết trong thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian, No nước uống thiếu cơm ăn. Con đòi trốn dường ai quyến, Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…

Không chỉ là bậc thầy sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ nôm, Nguyễn Trãi còn tỏ rõ ông là nhà thơ nôm thiên tài của dân tộc. Những nhà thơ lớn nhất của các thời đại sau, xét theo quan điểm lịch sử, không ai có thể vượt nổi ông.

Hầu hết thơ tả cảnh của ông đều là những kiệt tác. Có những câu thơ cực kì tài tình khiến những nhà thơ hiện đại phải kinh ngạc, khâm phục như:

– Tà dương bóng ngả áp giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu. – Cửa song dãi xâm hơi nắng, Tiếng vượn vang kêu cách non. Cây rợp tán che am mát, Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn. Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn Ủ ấp cùng ta làm cái con. – Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay. – Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt, Mai rụng hoa đeo bóng cách song. Gió nhặt đưa qua ổ trúc, Mây tuôn phủ rợp thư phòng. – Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, Leo lẻo doành xanh con mắt mèo. – Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Những câu thơ như vậy đâu có thua kém những câu tuyệt tác nhất của thơ Đường Trung Hoa hay của bất kì một nền thơ ưu tú nào trên thế giới? Phải chăng đây đích thực là thứ thơ mà người đời gọi là thơ tiên?

Thơ tả tình của Nguyễn Trãi cũng tài hoa không kém: những rung động tinh tế nhất của tâm hồn nhà thơ thời xưa được diễn tả một cách thần tình:

– Loàn đơn (liều lĩnh) ướm hỏi khách lầu hồng: Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng! Ngoài ấy dù (nếu) còn áo lẻ, Cả lòng (rộng lòng) mượn đắp lấy hơi cùng! – Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. – Vì ai cho cái đỗ quyên kêu? Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. Lại có hoè hoa chen bóng lục, Thức xuân một điểm não lòng nhau…

Bằng thơ nôm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt được một cách sắc sảo và đầy rung cảm thế giới tâm tư phong phú, phức tạp, nhiều uẩn khúc của ông: những khát vọng, tâm sự ưu thời mẫn thế, những nỗi đắng cay và cả nỗi buồn được chế ngự bởi cốt cách của một bậc đại trượng phu, một vị đại ẩn sĩ:

– Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian. – Quân thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời, áo cha! – Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách, Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai? – Liệu cửa nhà xem bằng quán khách, Đem công danh đổi lấy cần câu. – Lòng một tấc son còn nhớ chúa, Tóc hai phần bạc bởi thương thu. – Cội cây là đá lấy làm nhà, Lân các, ai hầu mạc (vẽ) đến ta? – Say mùi đạo, trà ba chén, Tả lòng phiền, thơ bốn câu. – Giang sơn cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba. – Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt (nghèo) đèn xanh con mắt xanh. – Lòng người một sự yêm (chán) chưng một, Đèn khách mười thu lạnh hết mười! – Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông…

Thật diệu kì: những dòng tâm sự hàm chứa những nỗi đau buồn sâu xa ấy, đã sáu trăm năm rồi mà nay đọc lại, những kẻ hậu sinh nặng lòng thương xót vĩ nhân vẫn còn sa lệ!

Bằng khối óc mẫn tuệ của nhà hiền triết và sự trải đời ít ai sánh được, Nguyễn Trãi đã đúc kết trong thơ nôm rất nhiều triết lí thâm thúy. Một điều đặc sắc là thơ triết lí của ông không khô khan mà giàu cảm xúc nghệ thuật, khi đọc lên nghe tựa như những lời cảm thán với nhân tình thế thái:

– Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầy dãi có phong lưu. – Có thân chớ phải (bị) lợi danh vây. – Nếu có ăn thì có lo, Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. – Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co! – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, Lòng người quanh nữa nước non quanh. – Sang cùng khó bởi chưng giời, Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi? – Con cháu chớ hiềm (ngại) song viết (cơ nghiệp) ngặt (nghèo) Thi thư thực ấy báu ngàn đời. – Chỉn sá (rất nên) lui mà thủ phận. – Ngựa ngựa xe xe la ỷ (lụa là) tốt, Dập dìu là ấy chiêm bao. – Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn, Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi. – Mã (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc, Thế gian đạm bạc, đấy lòng thường!

Mang tầm vóc của một bậc thánh sư, Nguyễn Trãi đã dùng thơ nôm để truyền đạt đến đồng bào của ông những triết lí sống có giá trị nhất, đã góp phần đắc lực xây dựng nền đạo đức và nếp sống văn hoá của dân tộc ta trong thế kỉ XV mà ý nghĩa của nó sẽ được các thời đại sau kế tục.

Nguyễn Trãi là một trong những người khai sáng nền thơ nôm thành văn của dân tộc ta. Đồng thời, với thiên tài thi ca, ông trở thành nhà thơ tiếng Việt (thơ nôm) vĩ đại hàng đầu trong làng thơ Việt Nam kim cổ, là bậc thầy thơ nôm của tất cả nhà thơ các thời đại sau.

Không những là thi hào thơ nôm, Nguyễn Trãi đồng thời là văn thi hào chữ Hán lỗi lạc, để lại uy danh muôn thuở.

Bình Ngô đại cáo của ông đuợc coi là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài “Nam quốc sơn hà…” của Lí Thường Kiệt, đã làm phấn chấn tâm hồn người Việt suốt hơn 5 thế kỉ rưỡi qua.

Bài cáo nêu bật lí tưởng cứu nước cứu dân, tinh thần nhân nghĩa, trí tuệ, khí phách và ý chí dời non lấp biển của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bằng lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn chương cổ điển, bằng giọng văn khi lâm li khi hùng tráng, tác giả đã trình bày cặn kẽ lịch trình của cuộc kháng chiến, ca ngợi chiến thắng vô cùng hiển hách của dân tộc ta:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Từ Triệu – Đinh – Lí – Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán – Đường – Tống – Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt không bao giờ thiếu. … Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay… Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay, Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng. … Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hoà, Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức. … Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới…

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toàn thư)

                                     Thư lại dụ hàng Vương Thông

… Nay các ông kế cùng sức tận, quân sĩ mỏi mệt, trong thiếu lương thực, ngoài thiếu viện binh, bám hờ khu đất nhỏ mọn, nghỉ tạm ở cái thành trơ trọi, chẳng phải như thịt trên thớt, như cá trong nồi đó sao? … Nay ta tính hộ các ông có sáu điều phải thua: – Nước lụt chảy, tường rào đổ sập, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất. – Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi ta đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, mà viện binh đã thua thì các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai. – Nước các ông quân mạnh ngựa tốt đều đóng cả ở đất Bắc phòng bị quân Nguyên, không rỗi ngó đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba. – Nước các ông luôn động can qua, liên tiếp gây sự đánh dẹp làm cho người ta sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư. – Nước các ông gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, mối hoạ bùng ra từ trong nhà. Đó là điều phải thua thứ năm. – Chúng ta dấy nghĩa binh trên dưới cùng lòng, anh hùng dốc sức, quân sĩ ngày càng luyện, khí giới ngày càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Đó là điều phải thua thứ sáu. Nay các ông giữ một cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là thơ ở đỉnh cao, không thua thơ Đường, Tống. Cùng với những cây bút thơ chữ Hán cự phách của Việt nam như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…, thơ của ông đã góp phần quan trọng tạo dựng một nền thơ chữ Hán kì vĩ trong quá khứ trên đất nước ta.

Vì sao tổ tiên ta lại dùng chữ Hán để viết văn, làm thơ về những đề tài hoàn toàn thuộc đất nước và dân tộc ta? Theo thiển ý của chúng tôi, đó không phải một điều đáng mừng, đáng hoan nghênh như quan điểm của những đầu óc thiếu khả năng phán đoán và nắm bắt chân lí. Bởi còn gì tuyệt diệu hơn là dùng chính Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ – để viết tác phẩm cho tất cả người Việt cùng nghe, cùng hiểu, không phải thông dịch? Do đó, việc phải tiếp tục dùng chữ Hán để trước tác văn chương cũng như dùng làm văn tự chính thức trong bộ máy hành chính quốc gia suốt bao nhiêu thế kỉ tự chủ (sau thời Bắc thuộc), chỉ là việc “không thể nào khác được” của dân tộc ta mà thôi. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, bọn thống trị phương Bắc muốn biến nước ta thành quận huyện của Trung Hoa. Vì vậy mà chữ Việt cổ bị tiêu diệt, tiếng Việt bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài, Tiếng Hán (dưới dạng âm Hán – Việt) và chữ Hán đương nhiên giữ địa vị độc tôn. Phải mất vài thế kỉ của thời đại tự chủ, người Việt mới chế tác ra chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, bổ khuyết một lỗ hổng lớn của nền văn hóa dân tộc.

Trong hoàn cảnh “bất khả kháng” đó, Nguyễn Trãi cũng như các trí thức phong kiến khác, đã nhạy bén dùng chính chữ Hán để trước tác nên những tác phẩm thuộc đủ mọi lĩnh vực mang nội dung hoàn toàn Việt Nam. Và điều vô cùng đáng tự hào là những trước tác đó đã đạt tới trình độ tương đương với những trước tác chính cống của Trung Hoa. Chúng tôi xin trích dẫn một kiệt tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi:

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng. Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng. Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng. Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ý cánh nan thăng.

Cửa biển Bạch Đằng

Biển rung gió bấc thế bừng bừng, Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng. Kình ngạc băm vằm non mấy khúc, Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng. Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng. Việc trước quay đầu ôi đã vắng, Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.]

Nguyễn Đình Hổ dịch

Nội dung thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng phong phú như thơ nôm của ông: Có bài hùng hồn giống như Bình Ngô đại cáo (ví dụ bài thơ trên), có bài mô tả thiên nhiên tuyệt mĩ:

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nguyệt chính hồng. Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung…

(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)

[Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời, Đầu canh năm đã sáng trưng rồi. Mắt ngoài biển cả ôm trời đất, Người giữa mây xanh vẳng nói cười…]

Khương Hữu Dụng dịch

Có nhiều bài hàm chứa những tâm sự thẳm sâu, những nỗi đau đời của một con người vô cùng cao thượng nhưng lại phải trải qua bao cảnh thăng trầm giữa cuộc đời điên đảo:

Phù trục thăng trầm ngũ thập niên, Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên. Hư danh thực hoạ thù kham tiếu, Chúng báng cô trung tuyệt khả liên!

(Oan thán)

[Biển tục thăng trầm nửa cuộc đời, Non xưa suối đá phụ duyên rồi. Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười!]

Thạch Can dịch

Nguyễn Trãi từng có một nhận định sâu sắc: “Nước ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh, nhưng từ xưa đã nổi tiếng là một nước thi thư”. Ở thời đại ông, những tinh hoa của cái thi thư ấy kết tinh nơi ông, và ông có niềm tin sắt đá vào sự bất diệt của nó. Chính vì vậy mà khi lâm nạn, bị Lê Thái Tổ hạ ngục năm 1429, ông viết:

Số hữu nan đào tri thị mệnh,

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Số khó lọt vành âu bởi mệnh, Văn chưa tàn lụi cũng do trời)

Nguyễn Trãi đã mang niềm tin ấy để ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Thiên ở đây là gì? Là chân lí vĩnh cửu.

Lịch sử đã chứng minh hùng hồn chân lí vĩnh cửu mà ông hằng ôm ấp. Sự nghiệp vĩ đại của ông về chính trị, quân sự, văn chương, và phẩm cách cao cả, danh hiệu “anh hùng dân tộc” của ông ngày nay đã được toàn dân tộc ta xác nhận, tôn thờ. Không chỉ thế, vào năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông, ông đã được cả loài người tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới.

Dân tộc ta xiết bao tự hào đã sản sinh ra một con người toàn thiện làm vẻ vang cho đất nước và dân tộc!

Ở Trung Hoa, những tác phẩm văn hoá lớn của các bậc thánh hiền được gọi là những bộ KINH như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Thiết nghĩ toàn bộ trước tác bất hủ của Nguyễn Trãi rất xứng đáng với tầm vóc và danh hiệu một bộ KINH của người Việt để toàn dân tộc học tập, nghiền ngẫm trên con đường đi tới tương lai. Đó cũng chính là sự trả lời của hậu thế với câu hỏi da diết của ông:

Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng? (Mực thước người sau học nữa chăng?)

Nguồn: http://newvietart.com

Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh Với Sự Nghiệp Cách Mạng Của Đảng, Của Dân Tộc

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với các đại biểu dự Đại hội VI của Đảng, tháng 12/1986. (Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Văn Linh sống và hoạt động trọn trong thế kỷ XX, thuộc thế hệ đầu tiên trong lịch sử oanh liệt của Đảng ta.Đồng chí đã dâng hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc với biết bao thử thách cam go trong cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân vì độc lập dân tộc, lại trải nghiệm qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi miền Nam được giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, với những khó khăn, phức tạp của thời khủng hoảng và đưa đất nước vượt qua những thử thách hiểm nghèo trong những năm đầu đổi mới, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Giữa những khúc quanh nghiệt ngã đó của lịch sử, trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh – Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã đứng mũi chịu sào, cùng với tập thể lãnh đạo Trung ương sáng suốt và bình tĩnh, mưu lược và dũng cảm, dày dạn kinh nghiệm và nêu cao bản lĩnh chính trị, đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng, thực hiện Nghị quyết lịch sử của Đại hội VI, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử đó của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, có dấu ấn nổi bật của đồng chí Tổng Bí thư tài năng, đức độ, quả quyết, mà tên gọi của đồng chí đã từng là biểu tượng tốt đẹp cho sự nhất quán giữa Nói và Làm (N.V.L).

Sinh trưởng ở miền Bắc nhưng gần cả cuộc đời, đồng chí Nguyễn Văn Linh sống và hoạt động ở miền Nam, gắn bó sâu nặng với phong trào cách mạng và đồng bào, đồng chí ở miền Nam. Đồng chí đã đảm nhận những công việc quan trọng trong gây dựng cơ sở và phong trào cách mạng ở Xứ ủy miền Trung, rồi hoạt động ở miền Tây Nam Bộ. Vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn phong phú, sự hiểu biết thấu đáo tình hình và cuộc sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là dân nghèo ở nông thôn, lại dày công tự học, tích lũy tri thức lý luận trong thực tiễn…, đã tạo nên vốn văn hóa chính trị phong phú và phong cách lãnh đạo Nguyễn Văn Linh, gợi mở nhiều điều quý giá, thiết thực cho mỗi chúng ta học tập, noi theo trong thực tiễn đổi mới hiện nay.

Gần dân, tin dân, bám sát cơ sở, lắng nghe tiếng nói của đồng bào, đồng chí ở cơ sở, thiết thực và cụ thể trong mỗi suy nghĩ và hành động; đồng thời, biết tổng kết và khái quát hóa từ thực tiễn để vạch phương hướng, chủ trương đúng, từ tầm nhìn chiến lược mà thấy rõ xu hướng và triển vọng của tình hình phát triển đất nước, lại thường xuyên kiểm chứng trong thực tiễn để xem xét độ tin cậy, tác dụng và hiệu quả của mỗi chính sách, quyết sách, giải pháp đã đề ra -đó cũng là phương pháp khoa học, phong cách dân chủ trong lãnh đạo mà đồng chí Nguyễn Văn Linh thể hiện nhuần nhuyễn.

Có thể nói, trên tư cách một nhà lãnh đạo, nhà hoạt động chính trị – xã hội nổi tiếng, ở cương vị Bí thư Trung ương Cục, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam thời chống Mỹ đầy oanh liệt, gian khổ, hy sinh, lại nhiều lần và trong nhiều năm là người lãnh đạo cao nhất của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ chuyển tiếp từ chiến tranh sang hòa bình, từ cơ chế cũ sang cơ chế mới vô cùng phức tạp ở thời điểm bên thềm đổi mới, khó khăn chồng chất khó khăn bởi lạm phát và khủng hoảng cho đến khi trở thành người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đất nước bước vào đổi mới với biết bao thử thách hiểm nghèo…, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã làm hết sức mình cùng tập thể Bộ tham mưu đưa phong trào cách mạng vượt qua nhiều bước ngoặt, giữ vững phương hướng, từng bước đạt tới thành công.

Thực tiễn xác nhận, nhân dân tin tưởng, đất nước ổn định và phát triển – đó là những minh chứng đầy tin cậy về năng lực và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng ta mà đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có những cống hiến xuất sắc, góp phần làm nênthành tựu đáng tự hào của toàn dân và toàn Đảng. Điểm nổi bật trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh mà chúng ta hết sức trân trọng và ra sức học tập, noi theo, làm theo vào lúc này là quan điểm và phương pháp dân vận, xuất phát từ tấm lòng thương dân, từ niềm tin vào sức mạnh sáng tạo to lớn của dân để luôn gần dân, trọng dân, để mục đích cao cả vì dân dẫn dắt hành động và lối sống hằng ngày, trong mỗi việc làm lớn, nhỏ, trở thành một nhu cầu văn hóa.

Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Văn Linh nêu một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo, làm theo bởi trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đã “dĩ công vi thượng”, “thân dân và chính tâm”, “làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân”, nhờ đó được dân tin, dân phục, dân yêu. Cũng nhờ đó, quy tụ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, phát huy trí tuệ tập thể, nhất là hạt nhân lãnh đạo, biết lắng nghe, biết chờ đợi, biết thuyết phục, lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói là làm, có làm được thì mới nói, một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn.

Những chỉ dẫn thiết thực và sâu sắc đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đồng chí Nguyễn Văn Linh thấm nhuần và thực hiện bằng tất cả tâm huyết và trách nhiệm. Phong cách lãnh đạo đó của đồng chí Nguyễn Văn Linh, nhất là trong nhiệm kỳ mở đầu công cuộc đổi mới khi đồng chí đảm nhận trọng trách Tổng Bí thư, có thể nói, đã góp phần hình thành văn hóa chính trị của Đảng lãnh đạo và cầm quyền.Ở đó có sự kết hợp giữa khoa học (lý luận) với Đạo đức, Dân chủ,Đoàn kết và Đồng thuận để Ý Đảng – Lòng Dân – Phép Nước tạo thành sức mạnh hành động.

Đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là to lớn, mãi mãi còn có giá trị và ý nghĩa lâu dài, thể hiện trên cácphương diện chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, là người đề xướng và tổ chức thực hiện những thử nghiệm cải cách cơ chế, chính sách quản lý kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khi giữ trọng trách Bí thư Thành ủy; đề xuất với Tổng Bí thư Trường Chinh và lãnh đạo Trung ương tổ chức khảo sát thực tiễn, tổng kết từ những sáng kiến, những cách làm hay ở địa phương và cơ sở để tìm ra đột phá và hình thành đường lối đổi mới ở Đại hội VI.

Thứ hai, tham gia cùng tập thể Bộ Chính trị sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện dự thảo Báo cáo Chính trị trên tinh thần, quan điểm đổi mới dẫn đến quyết sách đổi mới có tầm vóc lịch sử ở Đại hội VI. Một ấn tượng khó quên đối với câu nói nổi tiếng của đồng chí Nguyễn Văn Linh “hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”. Trước khi là Tổng Bí thư, tháng 6 năm 1983, đồng chí đã từng nói với các cán bộ lãnh đạo và anh chị em công nhân nhà máy dệt Phước Long như vậy. Sau này, khi đã là Tổng Bí thư, đồng chí cũng nói như vậy với anh chị em trí thức, văn nghệ sỹ và các nhà hoạt động văn hóa ngày 6, 7/10/1987.

Đó là thể hiện tính chủ động, sáng tạo, phải vượt lên hoàn cảnh, có tác dụng cổ vũ, khích lệ tư tưởng đổi mới, hành động đổi mới rất to lớn. Nhớ lại, lúc đổi mới còn đang ấp ủ, manh nha, cái mới như một mầm non mới nhú, tại hội nghị Đà Lạt, Tổng Bí thư Trường Chinh, khi đánh giá cao những nhân tố mới từ thực tiễn miền Nam và ở thành phố Hồ Chí Minh đã bày tỏ niềm hy vọng: “Trong sa mạc đã có chòm cây xanh”, đã khẳng định đổi mới là vô cùng cần thiết và bức xúc.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không chỉ một lần nhấn mạnh, đổi mới là cơ may ngàn vàng, là cơ hội lớn để phát triển, quyết không thể bỏ lỡ.

Thứ ba, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người sớm nhận rõ vai trò của lý luận trong đổi mới, nói đổi mới tư duy, điều căn bản là đổi mới tư duy lý luận; cũng là người đã hình dung rất rõ ràng những nội dung và yêu cầu của đổi mới – đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp và phong cách cùng với đổi mới tổ chức bộ máy, thể chế, cơ chế, chính sách và cán bộ.

Tổng Bí thư đòi hỏi, có thật sự đổi mới tư duy và phong cách mới hiểu được thực chất hiện trạng, phân biệt được rõ ràng đúng, sai, phát huy được nhân tố tiến bộ, gạt bỏ được sai lầm. Và điều rất quan trọng là, muốn đổi mới tư duy, hình thành năng lực tư duy lý luận khoa học phải chống chủ nghĩa kinh nghiệm hời hợt trong nhận thức, trong suy nghĩ chủ quan, bảo thủ, giáo điều, tách rời lý luận với thực tiễn.

Cũng theo Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, để tiến hành công cuộc đổi mới ở bất cứ lĩnh vực nào cũng phải chuẩn bị trước về cơ sở lý luận. Sự khám phá lý luận phải là tiền đề và điều kiện cơ bản, là cơ sở cho đổi mới trong hoạt động thực tiễn.

Thứ tư, ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, thấy rõ vấn đề cốt yếu của xây dựng Đảng là phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VI), đồng chí nhấn mạnh: “Đảng phải nghiêm túc soát xét lại mình với tinh thần phê phán sâu sắc, siết chặt lại đội ngũ, tăng cường tính giai cấp, tính tiền phong để giữ được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên”. Đặc biệt có giá trị là luận điểm sau đây: “Muốn đổi mới xã hội, trước hết Đảng phải tự đổi mới, phải tiến hành cuộc cách mạng về công tác xây dựng Đảng, vì Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn xã hội”.

Đồng chí đòi hỏi trong Đảng phải phê phán quyết liệt bệnh quan liêu, vô trách nhiệm, thói tham lam, ích kỷ, thèm khát đồng tiền, sống vô nguyên tắc, chỉ biết luồn lọt, nịnh bợ để có danh, có lợi. Đọc lại những lời này vào thời điểm hiện nay, ta vẫn thấy lời cảnh báo sâu sắc của Tổng Bí thư đầu tiên của đổi mới vẫn còn nguyên tính thời sự.

Trên thực tế, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nêu ra quan điểm toàn diện trong xây dựng Đảng, không chỉ là tư tưởng – chính trị – tổ chức mà còn là lý luận, đạo đức, lối sống và nhân cách Cộng sản của cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền.

Thứ năm, giữ vững phương hướng chính trị, bảo đảm tôn trọng nguyên tắc; không phạm sai lầm về quan điểm, nguyên tắc là điều tối hệ trọng đối với sinh mệnh của Đảng cách mạng cầm quyền. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã quan tâm đặc biệt tới yêu cầu đó với sự sáng suốt chính trị cần thiết, hành động kịp thời để Đảng không chệch hướng, đổi mới không chệch hướng ở thời điểm bước ngoặt.

Nhiệm kỳ khóa VI là nhiệm kỳ đầu của đổi mới với dồn dập những sự kiện, tình huống phức tạp từ thế giới dội vào, nhất là khi phong trào cách mạng thoái trào, trật tự thế giới thay đổi, khuynh hướng đa nguyên đa đảng xuất hiện, tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, thẩm thấu vào trong đời sống của Đảng. Biểu hiện nổi bật cho lập trường nguyên tắc tính Đảng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là sự chỉ đạo xây dựng Cương lĩnh đúng lúc, kịp thời, ở thời điểm đổi mới chỉ vừa mới bắt đầu, tình thế hiểm nghèo xuất hiện khi Liên Xô, Đông Âu đổ vỡ thể chế, hàng loạt các Đảng Cộng sản tan rã, mất vai trò cầm quyền.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong lần sang thăm Liên Xô ở thời điểm kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Mười (1917 – 1987) đã thẳng thắn cảnh báo sai lầm có tính nguyên tắc mà Goóc-ba-chốp và Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô mắc phải khi xóa bỏ điều 6 trong Hiến pháp về địa vị lãnh đạo của Đảng. “Với tư cách một người Cộng sản, tôi có thể chân thành nói với đồng chí rằng, đây là một sai lầm nghiêm trọng, sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, không chỉ đối với Liên Xô”. Thực tiễn đã minh chứng tính đúng đắn của nhận định và tiên liệu đầy mẫn cảm sáng suốt đó của đồng chí Tổng Bí thư của Đảng ta.

Bản Cương lĩnh của Đảng được chuẩn bị khẩn trương công phu dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khi mà đổi mới mới chỉ bắt đầu được ba năm, khi khủng hoảng trong nước và trong cả hệ thống xã hội chủ nghĩa đang rất trầm trọng, khi cải tổ ở Liên Xô đã chệch khỏi phương hướng, kết cục là thất bại và đổ vỡ. Cương lĩnh thực sự là một tuyên bố chính trị đúng đắn và sáng suốt của Đảng, là ngọn cờ tập hợp lực lượng, thống nhất nhận thức, ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân. Giá trị và ý nghĩa của bản Cương lĩnh là ở chỗ, Cương lĩnh đã thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Đảng, kiên định lý tưởng và con đường xã hội chủ nghĩa của sự phát triển nước ta, đổi mới có nguyên tắc, giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện bước đầu sự trưởng thành tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn đổi mới.

Nhờ có Cương lĩnh, Đảng ta và cách mạng Việt Nam đã đứng vững trong thời điểm thử thách ngặt nghèo. Những ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong soạn thảo và thông qua Cương lĩnh, sau gần 30 năm qua, nay đọc lại vẫn thấy ở đó tầm nhìn chiến lược, tư duy sáng tạo và quan điểm thực tiễn, có tính chỉ dẫn phương pháp luận quan trọng cho chúng ta hiện nay. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: Lúc này chúng ta chưa có đủ cơ sở để vạch ra toàn bộ bức tranh của xã hội tương lai một cách hoàn chỉnh. Nhưng căn cứ vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt từ Nghị quyết Đại hội VI và thực tiễn đổi mới xã hội ta hơn ba năm qua, chúng ta có thể vạch ra những nguyên tắc và phương hướng lớn cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là điều có thể làm được. Sau này, khi thực tiễn đã bộc lộ những vấn đề mới, qua tổng kết, Cương lĩnh sẽ không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh từng bước. Chúng ta không cầu toàn chờ cho đến khi có đầy đủ mọi điều kiện mới viết Cương lĩnh, trên thực tế điều đó không bao giờ xảy ra.

Cùng với Cương lĩnh, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Bộ Chính trị khóa VI đã trình Trung ương tại Hội nghị Trung ương 9, khóa VI, 1990 để Trung ương ra hai Nghị quyết quan trọng:

– Về tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta.

– Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Đây là hai Nghị quyết có tầm quan trọng đặc biệt, ra đời kịp thời, đúng lúc, có tác dụng giữ vững phương hướng chính trị, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với dân trong thời điểm xảy ra nhiều sự biến ở Liên Xô và Đông Âu, thời điểm của những thử thách ngặt nghèo. Điều đó, một lần nữa cho thấy sự nhạy bén chính trị, bản lĩnh giữ vững nguyên tắc, kiên định đường lối đổi mới của Đảng ta. Nó có ảnh hưởng quyết định đến thắng lợi của đổi mới ở giai đoạn mở đầu, đặt cơ sở cho đổi mới đúng đắn của Đảng trong những giai đoạn tiếp theo. Tạo ra những kết quả đó, có đóng góp to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.

Thứ sáu, trong nhiệm kỳ Đại hội VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã sớm xác định “dân là gốc”, là người có công đầu trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ có nguyên tắc, có lãnh đạo, thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; xác định rõ vai trò chủ thể của dân, nhấn mạnh “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, coi dân chủ là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới và phát triển. “Để dân chủ trở thành lực đẩy sự nghiệp cách mạng phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện đúng đắn dân là gốc, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Phát biểu này của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Trung ương 7, khóa VI (8/1989), gần 10 năm sau đã trở thành nội dung cốt lõi của quy chế dân chủ ở cơ sở và sau đó là Pháp lệnh dân chủ cơ sở (1998, 2007).

Thứ bảy, một dấu ấn đặc biệt không chỉ nói lên đường hướng của tư duy và tư tưởng, tầm chiến lược của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mà còn thể hiện đậm nét phong cách hành động, nói đi đôi với làm, dân chủ, công khai minh bạch, quyết tâm đổi mới, ra sức cổ vũ, khẳng định cái mới, bảo vệ cái mới, phê phán gay gắt, quyết liệt những tiêu cực, tệ nạn, suy thoái và tha hóa trong Đảng, khi vạch ra “Những việc cần làm ngay”, phê phán “sự im lặng đáng sợ”.

Đó là sự kiện ngày 25/5/1987, xuất hiện trên trang nhất báo Nhân Dân, bài viết với bút danh N.V.L về “Những việc cần làm ngay” gần 400 chữ, đánh dấu sự ra đời một chuyên mục mới nổi tiếng trên báo Nhân Dân.

Đồng chí đã kiên định theo phương châm và cách làm đó, mà mục đích, động cơ cao cả chỉ vì dân, vì đổi mới;ngày 10/7/1987, xuất hiện bài trả lời của N.V.L về bài báo “Những việc cần làm ngay”. Bài dài tới 2.400 chữ, nói rõ thái độ kiên quyết chống tiêu cực, tin vào sức mạnh của dân, của dư luận xã hội lành mạnh tích cực, cho dù cũng có những ý kiến, những tiếng nói không đồng tình, kể cả cán bộ cao cấp. Chúng ta có thể học tập Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từ việc này, từ động cơ, thái độ, đức tin, tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh. Phong cách hành động, phong cách dân chủ, phong cách quần chúng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh qua sự kiện này cần được nhắc lại để chúng ta học tập, noi theo, làm theo trong tình hình hiện nay.

Hàng trăm bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thực sự là một tài liệu quý, tạo ra xung lực tinh thần cho chúng ta trong đổi mới hướng tới sự tốt đẹp, tích cực, phát triển.

Thứ tám, một nét đẹp trong văn hóa nhân cách của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là sự ứng xử chân thành và tinh tế dành cho trí thức và văn nghệ sỹ. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng trong nhiệm kỳ đầu của đổi mới, đồng chí luôn tỏ rõ tấm lòng quý mến, trân trọng đối với trí thức, văn nghệ sỹ – những người lao động trí óc sáng tạo, sản xuất ra các giá trị tinh thần.

Chúng ta còn nhớ, tại một cuộc gặp mặt thân mật với giới trí thức, văn nghệ sỹ thành phố Hồ Chí Minh ở Hội Văn học nghệ thuật, đồng chí nói:

– Phải có quan điểm đúng, nhìn sự vật đúng.

– Phải có tấm lòng trong sáng, vì ích nước lợi dân mà viết, mà vẽ, mà làm phim ảnh.

– Phải đi thực tế, luôn luôn gắn bó với đối tượng miêu tả. Thoát ly quần chúng, nhất là nhân dân lao động thì không thể có tác phẩm tốt.

– Tài năng nghệ thuật là quý hiếm, ngoài năng khiếu bẩm sinh phải có tôi luyện lâu dài. Sự sáng tạo trong nghệ thuật là cực kỳ quan trọng. Tác phẩm dù viết đúng đắn đến đâu nhưng nếu không gây được xúc động, không có tính nghệ thuật thì có cũng như không vì không đi vào tâm trí người đọc.

– Càng có tài càng phải khiêm tốn. Khiêm tốn chỉ được thôi chứ không mất gì. Mới có ít thành công mà đã kiêu ngạo là hỏng, thui chột tài năng.

Năm điều căn dặn đó của đồng chí rất đỗi chân thành, thẳng thắn, hiểu việc, hiểu người, chú trọng cả tài và đức. Thật là giản dị, sâu sắc và có sức thuyết phục.

Đặc biệt có ý nghĩa khi Tổng Bí thư nhắc nhở văn nghệ sỹ – những người cầm bút, chia sẻ và đồng cảm với họ về nhu cầu tự do sáng tạo. Phải tự chặt chẽ với mình, khi thấy mình là đúng, có ý thức xây dựng thì phải kiên quyết bảo vệ chân lý, phải dũng cảm. Dù thế nào cũng không nên uốn cong ngòi bút. Phải nhớ câu của Bác, “Nay ở trong thơ nên có thép”. Thép đó là tinh thần cách mạng, không tô hồng, không bôi đen -đó là lời căn dặn làm tốt thiên chức nghệ sỹ và trách nhiệm công dân.

Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, chúng ta với tất cả lòng thành kính và biết ơn công lao của đồng chí đã trọn đời vì Nước, vì Dân, vì Đảng, vì lý tưởng cao quý độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nguyện học tập và làm theo tấm gương của đồng chí để đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên phía trước, để xây dựng chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân.

Đó là tấm gương tự học, tự rèn luyện suốt đời, bất luận trong hoàn cảnh nào, với những thử thách cam go nào cũng vượt lên, giữ trọn niềm tin và lòng trung thành với lý tưởng, với dân tộc và nhân dân. Đó là tấm gương kiên định lập trường quan điểm, quyết tâm đổi mới, hành động sáng tạo, nói đi đôi với làm, làm tất cả những gì có thể làm được vì hạnh phúc của nhân dân. Đó còn là tấm gương về sự hài hòa lý trí và tình cảm, trung thành với những nguyên tắc và giá trị đã lựa chọn, lại linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong phương pháp, ứng xử tinh tế và chân thành, thẳng thắn, nghiêm khắc và bao dung độ lượng. Đó thực sự là một nhà lãnh đạo dạn dày kinh nghiệm, có vốn tri thức và vốn sống phong phú, có tầm tư tưởng chiến lược, dự cảm sáng suốt và một tấm lòng nhân hậu.

Đất nước đang tiếp tục chuyển mình với những bước ngoặt lớn để phát triển bền vững và hiện đại hóa, sau một chặng đường gần ba thập kỷ đổi mới.Đổi mới càng đi vào chiều sâu, độ lùi thời gian càng xa, ta càng thấm thía bước khởi đầu đổi mới ở Đại hội VI, Đại hội gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đó là niềm tự hào của chúng ta, là sự cổ vũ thúc đẩy chúng ta trên con đường đi tới thắng lợi./.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cho Để Văn Chứng Minh Rằng Nhân Dân…

I. Mở bài: giới thiệu câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn

Ví dụ:

Việt Nam ta có một kho tàng ca dao, tục ngữ vô cùng phong phú và quý giá. Những câu tục ngữ, ca dao tuy ngắn gọn nhưng hàm ý một ý nghĩa vô cùng sâu sắc và đáng học hỏi. Một trong những câu tục ngữ đó, có câu tục ngữ khuyên chúng ta về lòng biết ơn đối với những người đã giúp đỡ ta là câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn”.

II. Thân bài: chứng minh cau tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn

1. Giải thích câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn

Nghĩa đen: khi ăn khoai phải nhớ đến kẻ mà trồng khoai cho ta ăn, còn khi uống nước thì nhớ đến nơi mà có nguồn nước, sản sinh ra ra nguồn nước. Nghĩa bóng: nhắc nhở con người phải có lòng biết ơn, có nhớ đến người đã giúp đỡ ta trong lúc khó khăn hoạn nạn. 2. Chứng minh cau tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn:

– Thời xưa:

Người ta thường tổ chức cúng kiếng để cảm ơn rời đất Mỗi vụ mùa đều cúng thần linh Thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ – Thời nay:

Các ngày lễ lớn như: thương binh liệt sĩ, ngày nhà giáoViệt Nam, ngày thầy thuốc,…. Tinh thần ghi nhớ công ơn về các anh hùng liệt sĩ nagx xuống vì dân tộc, các cuộc đền ơn đáp nghĩa,…. III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về câu tục Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn

Ví dụ:

Đây là một câu tục ngữ khuyên chúng ta về lòng biết ơn và nhớ ơn đến những người đã giúp đỡ ta.

Phật Dạy Về Nhân Duyên Kiếp Trước Của 10 Loại Người

Đức Phật dạy rằng, vạn vật trong trời đất đều có nhân duyên từ kiếp trước. Vậy nên mới có nhân quả luân hồi hay số kiếp.

1. Phong thủy và tâm linh cho rằng, người kiếp này có địa vị cao quý, làm quốc vương hay đại thần, có quyền hay có thế đều là người mà kiếp trước lễ phép và kính trọng Phật, Pháp, Tăng mà đến.

2. Người kiếp này giàu sang phú quý thì kiếp trước đều là những người từng bố thí, cứu tế và cho đi rất nhiều.

3. Người kiếp này sống thọ, sức khỏe dồi dào, không bị bệnh tật, đều là người kiếp trước luôn giữ vững giới cấm, coi trọng tôn nghiêm nhà Phật.

4. Người lớn lên đoan chính, xinh đẹp, khuôn mặt thanh tú, rạng ngời, khắp thân mình tỏa ra mùi hương thơm mát, gặp người người thích, nói người người nghe là kết quả của kiếp trước đã tu nhân tích đức, lấy khiêm nhường, nhẫn nhịn làm niềm vui.

5. Người có cá tính điềm đạm, bình tĩnh, không hấp tấp vội vàng, nói năng và hành động đều cẩn trọng, chừng mực thì kiếp trước đều là những người từng tu thiền định, tâm tưởng thanh tịnh.

6. Người tài năng, thông suốt Pháp và có thể thuyết giảng, hóa độ người u mê, ngốc nghếch hiểu được, trân quý lời nói, tự động truyền rộng Pháp ra ngoài đề người người thấu hiểu, là kết quả của kiếp trước đã tu trí tuệ mà thành.

7. Người có giọng nói trong trẻo, rõ ràng và truyền cảm thì kiếp trước là người đến từ Tam bảo ca hát (Tam bảo là là chỉ Phật, Pháp và Tăng).

8. Người từ nhỏ đã ngốc nghếch là do kiếp trước không muốn nhận sự dạy dỗ, chỉ bảo người khác.

9. Người làm nô lệ, người ở cho người khác là do kiếp trước thiếu nợ, có vay nhưng không trả người ta.

10. Người có địa vị thấp kém, cuộc sống nghèo hèn là bởi vì kiếp trước không lễ phép và kính trọng Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Trong kiếp luân hồi, tội báo và phúc báo đi theo con người như hình với bóng. Nhân duyên kiếp trước còn kéo dài ngàn kiếp sau, nghiệp duyên kiếp nọ lưu truyền mãi tới kiếp kia .

Vậy nên, con người thế gian càng sớm giác ngộ, càng dễ tạo ra phúc báo để có thể lưu truyền mãi muôn đời, con cháu cũng được thơm lây.

Hoàng Mai @ 18:28 19/12/2016 Số lượt xem: 111

Cập nhật thông tin chi tiết về Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!