Xu Hướng 3/2024 # Những Lời Phật Dạy Thầy Thích Trí Huệ 2024 Chùa Pháp Bảo Hoa Kỳ # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Những Lời Phật Dạy Thầy Thích Trí Huệ 2024 Chùa Pháp Bảo Hoa Kỳ được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài pháp thoại Những lời Phật dạy do thầy Thích Trí Huệ thuyết giảng tại chùa Pháp Bảo, New Jersey, Hoa Kỳ

Tóm tắt: – Quy y tam bảo: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo – Pháp Bảo = Kho Báu (Ý nghĩa tên chùa ở Mỹ) – Pháp Tạng = Kho chứa pháp – Pháp đi đến đâu tận diệt vô minh, cố chấp, ô nhiễm đến đó – Chơn tâm phật tánh là gì? – Loài người và chư thiên có thể chứng đắc niết bàn – Tứ Đại Kỳ Thư là gì? Những bài học ở đời – Hồng Lao Mộng – Tam Quốc Chí – Tây Du Ký – Thuỷ Hữ – Phim cuộc đời Đức Phật Thích Ca (Buddha Ấn Độ) – Cách lấy kho pháp bảo nhà Phật – “Vui chưa mấy chóc lại buồn, buồn chưa mấy chóc lại tuông mạch sầu, trăm năm một kiếp cơ cầu, giật mình nhìn lại mái đầu tàn phai!” – Tiên A Tư Đàm bật khóc vì không được nghe lời phật thuyết mặc dù đã chứng ngũ thông, do đó không thể tu thành thánh được – Vị A La Hán đầu tiên của thế gian là Kiều Trần Như – Vị xuất gia cuối cùng là Tu Bạt Đà La và cuối cùng ông đắc quả A La Hán – Tứ thánh quả – Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpatti) – Nhị quả Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī) – Tam quả A-na-hàm (anāgāmī) – Tứ quả A-la-hán (Arahanta) – 7 đứa con của Xá Lợi Phất đều chứng đắc – 35:00 Xá Lợi Phất được vua trời Tứ Đại Thiên Vương, vua trời Đao Lợi (chỉ huy 33 cõi trời) và vua trời Phạm Thiên lạy khi ngài đắc quả A La Hán trước khi nhập niết bàn. Sau đó mẹ của ngài kính phật và đắc Tam quả A-na-hàm (anāgāmī) ngay lập tức. – 43:00 Cách tu đắc Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpatti) – 47:00 (vui) Chả có sợ gì = Chỉ có sợ già – 55:00 đừng giận đừng hờn trước khi quá muộn ( – 1:10:00 Hạnh Tri Túc (Ăn đủ no, vừa đủ ấm, vừa đủ dùng) Minimalism – 1:20:00 Tu hành theo Bát chính đạo, trong đó chánh mạng và chánh nghiệp là quan trọng nhất! – Chính kiến – Chính tư duy – Chính ngữ – Chính nghiệp – Chính mạng – Chính tinh tấn – Chính niệm – Chính định

Thầy Thích Pháp Hòa Và 100 Bài Thuyết Giảng Phật Pháp Hay Nhất

Thầy Thích Pháp Hòa như vị Bồ Tát Sống mang duyên lành khắp mọi nơi đến mọi người. Khi nghe Thầy thuyết pháp bạn sẽ cảm nhận được sự an lạc hạnh phúc nhất trong thân tâm. chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn danh sách hơn 100 bài thuyết giảng Phật giáo hay và ý nghĩa nhất của Thầy.

Giới thiệu Thầy Thích Pháp Hòa Tiểu sử Thầy Thích Pháp Hòa

Đại đức Thích Pháp Hòa thế danh là Toàn Huỳnh, sinh năm 1974 tại Cần Thơ – Việt Nam. Thầy sang Canada định cư vào năm 12 tuổi và xuất gia năm 15 tuổi. Thầy nhận chức vụ trụ trì Tu Viện Trúc Lâm (Canada) vào năm 2006 và Tu Viện Tây Thiên (Canada) vào năm 2007.

Với sự tinh thông, uyên bác của mình Thầy thường xuyên thuyết giảng phật pháp cho chúng sanh. Những bài giảng của Thầy đều mang đến sự hoan hỉ, vui và an lạc cho thính chúng. Mỗi lời Thầy giảng đều ấm áp thân tình, nhẹ nhàng mà nhiều ý nghĩa. Từ đó giúp người nghe nhận ra chân lý hay trong đó để tự sửa chữa bản thân, hoặc để tìm ra một lối thoát, hay đơn giản là nhận biết những việc xảy ra quanh mình thì cần phải làm thế nào. Có khi biết để khuyên nhủ người khác khi họ vô minh họ bế tắc.

Tu Viện Trúc Lâm do Thầy Thích Pháp Hòa trụ trì

Tu viện Trúc Lâm lúc mới khai sinh tọa lạc tại 10604-108 Street, là một tòa nhà có 3 tầng và 9 phòng. Vì là văn phòng chúng của viện nên hầu như tất cả các hoạt động sinh hoạt của Tu viện đều diễn ra ở cơ sở này như tu học, giáo dục, văn hóa, gia đình Phật tử… Sau đó vì nhu cầu phát triển nên năm 1992, Tu viện đã bán lại cơ sở này và mua một cơ sở khác ở địa chỉ 10155-89 Street, là một ngôi nhà thờ cũ rộng gần 3.500 spft.

Đến năm 1996, Viện đã quyết định mua một sở đất rộng hơn ở địa chỉ 113288-97 Street, thuộc khu trung tâm của thành phố Edmonton để xây dựng tu viện ngày nay. Một tòa nhà 2 tầng rộng 12.400 sqft được xây cất và đi vào hoạt động tháng 6/1997. Tu viện có dáng vẻ kiên cố và đầy lặng lẽ, xung quanh là những bờ tường bao bọc dày chắc, khuôn viên chùa là những bờ sân rộng thoáng được tráng phảng để lối cho xe ra vào. Vì chùa nằm ngay phố nên không có nhiều cảnh trí thiên nhiên, đâu đó vài tán cây rợp lá. Tuy thế, Tu Viện Trúc Lâm vẫn luôn gần gũi với đời sống tâm linh của bao người.

Tổng quan về bài thuyết pháp “Người khéo nói”

“Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Câu ca dao từ muôn đời ấy vẫn là một triết lý dạy về cách sống vô cùng đúng đắn và sâu sắc. Trong xã hội rộng lớn, các để kết nối người với người chính là sự giao tiếp. Bài thuyết giảng “Người khéo nói” của thầy Thích Pháp Hòa đề cập đến vấn đề cách cư xử của con người với nhau trong cuộc sống. Cũng là một câu nói, một hành vi nhưng sự khéo léo, tế nhị, biết tôn trọng người khác sẽ giúp chúng ta nhận về những điều tốt đẹp. Bằng giá trị nhân văn được truyền tải qua bài thuyết pháp, “Người khéo nói” xứng đáng là một trong những bài thuyết giảng Phật giáo mà mỗi chúng ta đều nên lắng nghe, nghiền ngẫm và thay đổi cách sống của mình sao cho nhân văn hơn, tốt đẹp hơn.

Bạn nói như Phân, như Hoa hay như Mật?

Bắt đầu buổi Thuyết pháp, Thầy Thích Pháp Hòa kể câu chuyện về 2 chú ếch bị rơi xuống hố. Qua câu chuyện này thầy gửi gắm đến thông điệp là sự sống hay cái chết nằm ngay miệng của chúng ta. Nếu là một lời động viên khuyên khích thì sẽ giật người kia đứng dậy, còn là lời khổ não bi ai thì có thể sẽ làm người kia ngã quỵ dọc đường. Trong kinh Phật dạy có ba hạng người nói chuyện: Có người nói như PHÂN, có người nói như HOA và có người nói như MẬT.

Thế nào là hạng người nói như phân? Đây là ám chỉ những người nói không đúng sự thật, thêu dệt, dối trá, nói ác ngữ.

Thế nào là hạng người nói như hoa? Đây là những người nói đúng sự thật, không thêu dệt câu chuyện, không dối trá, không nói ác ngữ.

Thế nào là hạng người nói như mật? Đây là những người không những nói đúng sự thật mà còn luôn nói những lời hữu ích, hướng thiện, lễ độ, khả ái, đi đến tâm người nghe và được nhiều người quý mến.

Bạn thuộc hạng người nào???

Thầy Thích Pháp Hòa thuyết giảng “An trú trong hiện tại” Làm thế nào để an trú trong cuộc sống?

An trú trong hiện tại có nghĩa là dừng lại một cách an ổn trong từng giây phút của hiện tại. Ngày mai thuộc về tương lai, nó chưa đến thì chúng ta không nói trước được điều gì. Hôm qua là chuyện quá khứ, có nghĩ đến cũng không thay đổi được gì. Chúng ta chỉ còn lại NGÀY HÔM NAY. Chúng ta chỉ có thể tung hoành trong một ngày thật ngắn ngủi mà thôi. Hãy biết quý trọng ngày hôm nay.

Làm thế nào để được bình an trong một cuộc sống xô đẩy?

Vật chất vốn không phải là hạnh phúc thật sự, mà là những kích thích ham muốn của thể xác lẫn tâm hồn. Hạnh phúc mà Đức Phật nói đến là xuất phát từ tâm linh, cho nên người ta phải ổn định phần tâm linh của chính mình.

Chúng ta phải biết cách tạo được sự bình an trong một cuộc sống đầy cám dỗ, phiền não và đau khổ. Đạo Phạt có nhiều phương pháp để an trú. Trong đó đặc biệt phải biết Tam thường bất túc, tức là để có hạnh phúc thì chúng ta phải có 3 cái đừng bao giờ đủ:

Không nên ăn quá no.

Không nên ngủ quá nhiều.

Không nên mặc quá dư thừa.

Ai làm cho ta khổ?

Khi khổ người ta thường đổ lỗi cho hoàn cảnh: tại hoàn cảnh gia đình, tại hoàn cảnh xã hội, tại người này làm cho tôi khổ, tại người kia làm cho tôi khổ… Thế tại sao người sống trong điều kiện tốt mà tâm vẫn khổ? Người sống trong hoàn cảnh xấu mà lòng an vui?

Đức Phật dạy vì vô minh, phiền não mà con người phải khổ chứ không phải do những điều kiện. Do nhận thức không đúng sự thật về bản chất của các sự việc xảy ra trong cuộc sống, không hiểu duyên sinh nhân quả nên sinh khởi các phiền não tham – sân -si, dẫn đến khổ đau. Tự mình làm mình khổ, nhưng mình lại không nhận thấy điều đó.

Nếu mình nhìn sự vật, sự việc diễn ra với cái tâm kỳ thị, đố kỵ và ganh ghét thì mình không thấy được sự thật, không hiểu rõ những gì mình đang thấy, đang nghe, đang tiếp xúc. Nếu nhìn mọi việc với cái tâm vẩn đục phiền não cấu uế như thế thì mình thấy ai cũng xấu xa, thấy ai cũng lầm lỗi nhưng thực tế họ rất nhiều điểm đáng yêu quý và đáng học hỏi. Nếu nhìn người khác với cái tâm tham sắc, tham tài, với cái tâm vị kỷ vị thân thì mình sẽ không thấy được cái xấu, cái dở của họ. Nhận thức sai lầm dẫn đến hành vi sai trái, việc không thành tự thấy khổ.

Làm sao để sống đơn giản?

Đức Phật đã thấy rõ nhân quả mà con người đã khởi tạo và thọ lãnh từ vô lượng kiếp cho đến nay trùng trùng, lớp lớp hình thành nên đời sống con người trong hiện tại. Nhân đưa đến quả, quả lại làm nhân, vừa là nhân của cái này lại là duyên cho cái khác. Phước hết thì nghiệp tới, nghiệp hết thì phước về.

Vì vô minh không thấy được duyên sinh nhân quả, vạn pháp vô ngã nên sinh khởi các phiền não, tham ái, chấp thủ lại sinh ác nghiệp. Nếu hiểu được bản chất của những quy luật trong cuộc sống, khi có sự rèn luyện ý chí, sự tu tập tâm thì con người sẽ bớt khổ hơn. Mục đích sâu xa của đạo Phật là chuyển hóa những khổ não và có được an lạc hạnh phúc ngay trên cuộc đời này.

Sống đơn giản khó hay dễ là do bản thân mỗi người quyết định. Nếu tâm thanh tịnh, sáng suốt, không còn vô minh, phiền não, có chánh tri kiến, trí tuệ, tâm không điên đảo mộng tưởng thì khổ đau sẽ vắng , hạnh phúc an lạc có mặt.

Top 100 bài thuyết giảng hay nhất của Thầy Thích Pháp Hòa

Sức Mạnh Kiên Cố

Nhân Quả Nghiệp

Chánh Niệm

Quy Y

Rỗng Tâm

Khó Dễ Trong Đời

Các pháp chỉ là Giả

Mùa Xuân Di Lặc

Ước nguyện cao đẹp

Tu trong bổn phận

Diệu Nghĩa Bồ Đề

Sám Hối Nghiệp Chướng

Phát Tâm Học Đạo

Bồ Tát Tại Gia (Phần 1 – 50)

Tu Nhà, Tu Chợ, Tu Chùa

Vì Đời Vô Thường (Vấn Đáp)

Tưởng Niệm Hai Người Mẹ

Buông

Trú Nơi Trong Mát

Tám Không Của Người Tu

Phương Tiện Trên Đường Tu

Lợi Ích Tu Học

Chỉ Nhớ Trên Đầu Một Chữ Như

Vững Chãi

Mưa Pháp Thấm Đất Tâm

Thanh Lọc Thấy Biết

Hạnh Phúc Được Làm Người

Làm Sạch Trong Ngoài

Cầu Phước

Hiểu Sâu Thương Lớn (Vấn Đáp)

Giữ Vững Đạo Tâm

An Trú Vững Chãi

Thường Tùy Phật Học

Trong Đời Có Đạo (Vấn Đáp)

Tô Đẹp Cuộc Đời

Chẳng Hy Cầu, Tham Luyến

Thánh Tăng Tài Lộc

Tự Vấn

Mười Hành Pháp

Tham Và Dục (Vấn Đáp)

Người Leo Núi

Phương Tiện và Thủ Hộ

Con Chó Trong Kinh Và Đời Thường

2 Quên 3 Nhớ

Sống “Hơn” Chân Thật

Chăm Sóc Đất Tâm

Người Tu Như Ánh Trăng

Phước Sanh

Xây Dựng Và Gìn Giữ

Thành Tựu Sự Giáo Hóa

Số Và Nghiệp (Vấn Đáp)

Pháp Đạo – Đạo Pháp Là Gì?

Tượng Phật Nào Thờ Tốt ?

Hình Thức và Nội Dung 2

Hình Thức và Nội Dung 1

Người Sống Có Ý Thức

Bốn Loại Ngã Chấp

Kiểm Điểm Cuối Năm

Hạnh Giải Tương Ưng

Tu Là Một Nghệ Thuật

Người Trụ Trì

Tam Bảo Bất Biến (Vấn Đáp)

Tu Nhân Tích Đức

Bồ Tát Và Hiếu Lễ (Vấn Đáp)

Báo Hiếu Cứu Khổ

Người Có Ba Mắt Phần 2

Người Có Ba Mắt 1

Thể Hiện Tình Thương

Tỉnh Lặng Chiếu Soi (Vấn Đáp)

Phát Triển Tâm Từ

Nuôi Dưỡng Niệm Lành

Tịnh Lắng Ba Nghiệp

Chân Ngôn Trong Cuộc Sống

Vạn Hạnh Là Pháp Tu

Có Tu Mới An (Vấn Đáp)

Tu Trong Nhẹ Nhàng (vấn đáp)

Khủng Bố

Oai Thần Phật Pháp

hãy nên Tập Buông Cho Nhẹ

Không Tu Mà Tu (Vấn Đáp)

Đừng – Để Có Hạnh Phúc

Thành Tựu Cho Mình Và Người

Bốn Loại Tịnh Độ (Vấn Đáp)

Người Mang Gánh

Cảm Thông

Vì Sao NỮ Đi Chùa Nhiều Hơn NAM (vấn đáp)

Phật Dạy Báo Hiếu

Ý Nghĩa Mùa An Cư

Khải Tường

Phước Sương (Vấn Đáp)

Ước Và Nguyện

Vui Với Những Gì Mình Có

Mục Liên Cứu Mẹ

Pháp Khí Thiền Môn

Bài Học Từ Con Cọp

Cầu Vồng Muôn Sắc

Chuyên Cần Tu Tập

Huân Tu (vấn đáp)

Phật Pháp Thắng Mọi Pháp

Nuôi Dưỡng Chú Bé “Phật”

Cuộc đời vốn ngắn ngủi, chúng ta hãy sống sao cho trọn vẹn từng phút giây. chúng tôi hy vọng thông qua bài viết này, các bạn sẽ tìm cho mình những bài thuyết giảng Phật pháp của thầy Thích Pháp Hòa hay và ý nghĩa nhất để lấy đó làm chân lý sống cho riêng mình.

Đi Chùa Đầu Năm Ghi Nhớ Lời Phật Dạy

Lễ chùa là một nét đẹp của người Việt từ xưa đến nay. Chắp tay lễ Phật, già trẻ gái trai đều cầu xin Đức Phật trên tòa sen những điều mình mong muốn, trong đó không ít những lời cầu tiền tài, danh lợi – vốn là thứ xa lạ với nhân sinh quan của nhà Phật. Vậy Phật có độ được hay không?

> Lời Phật dạy

Sinh lão bệnh tử là quy luật vũ trụ, chư Phật Bồ Tát nào phá vỡ được để “phù hộ”?

Cách đây không lâu, bày tỏ quan điểm về hiện tượng đến chùa, đền trong các dịp lễ hội đầu năm để cầu xin tiền tài và may mắn đã trở thành thói quen của nhiều người, Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt, trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên đã có lời nhắn nhủ rằng: “Đã là người theo đạo Phật phải tuân theo luật nhân quả. Gieo nhân gì gặt quả đó. Nhiều người hiểu sai lầm khi đến chùa cầu xin mà quên rằng Phật có dạy: “Ta không ban phước, không giáng họa cho ai hết mà chính các người lãnh kết quả do mình gây ra”.

Theo Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt, chuyện đốt vàng mã đến cửa Phật để cầu xin tiền tài là chuyện hoàn toàn không có trong Đạo Phật. Đó là hành động hết sức lãng phí tiền của vào sai chỗ, sai mục đích và không đúng với Đạo Phật. Còn nếu đến chùa dâng tiền, cầu xin tài cầu lộc mà Phật có thể ban cho được thì phải chăng Phật biết nhận hối lộ? Hoàn toàn sai lầm và mê tín khi nghĩ như vậy.

Với Đạo Phật, người đến là để tự mình giảm bớt tham sân si để tự giảm bớt khổ. Đến với Đạo Phật là để học phương pháp để sống an lành và hạnh phúc cho mình chứ không phải để cầu xin và nuôi tham vọng.

“Hãy dùng tiền công đức để làm từ thiện và nhận được cái tâm an lành” – Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt khuyên – “Bởi nếu có lòng công đức chỉ cần đặt tiền vào một nơi, đúng chỗ đặt hòm công đức mà trụ trì chùa đó đã đặt, vậy là đủ. Người đến chùa cúng là do cái tâm sẽ được cái nhân. Cứu giúp người ăn mày ăn xin cũng chỉ là cái nhân. Khi đó con người sẽ có cái tâm lành thiện và sẽ tự tạo nên được điều hạnh phúc đó là quả.

Điều cốt lõi khi dâng tiền cho chùa cũng chính là như vậy, tất cả đều theo luật nhân – quả. Tôi cũng nghĩ rằng nếu có tâm muốn công đức cho nhà chùa, thay vì đổi tiền lẻ, hãy dùng luôn tiền đó làm việc thiện như đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, cho những trẻ em và người nghèo khó hơn là việc vừa mất tiền đổi và dâng khắp nơi mà không có ý nghĩa gì gây lãng phí”

Quan điểm của Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt đã soi tỏ một lý lẽ ở đời mà không mấy người nhớ được. Đó là người có tâm bái Phật là cái tốt, nhưng không thể tùy tiện cầu xin, bởi có những thứ Phật không thể cho ta được.

Phật hiện hữu mục đích chính là truyền pháp độ nhân, độ cho con người bình an may mắn, nhưng rất nhiều người đã bóp méo ý nghĩa chân chính sự tồn tại của tượng Phật, cho rằng bái Phật là để cầu Phật phù hộ thăng quan phát tài, sinh con trai, giúp người nhà bình an, tiêu tai giải nạn, cầu danh cầu lợi… điều này thực sự là bôi nhọ chư Phật. Chư Phật, Bồ Tát, Thần, Đạo, Chúa, Thượng Đế… sẽ vĩnh viễn không phù hộ cho những kiểu người này.

Quá khứ, người nào muốn tu Phật, tu Đạo, thì phải buông bỏ tất cả những tâm truy cầu này thì mới phù hợp với tiêu chuẩn, trải qua vài chục năm hoặc trên trăm khổ tu cuối cùng mới có thể tu thành chính quả. Nhưng nhân loại ngày nay đều đã hiểu sai về hàm nghĩa của sự tồn tại tượng Phật.

Sinh lão bệnh tử là quy luật của đời người; sự nghiệp, danh vọng là số mệnh của mỗi cá nhân; mà tiền tài, phúc phận là do đức của mỗi người tạo thành. Những thứ này, chư Phật Bồ Tát đã nhìn thấu từ lâu, làm sao có thể phá vỡ quy luật vũ trụ để “phù hộ” một cá nhân nào được.

Phật luôn dạy ta rằng, tài sản tiền nong là những thứ ngoài thân, chết đi cũng chẳng thể mang theo. Người khác kiếm tiền, đều là thông qua những cố gắng, vất vả mà có được, nhưng bạn lại muốn thông qua thủ đoạn siêu thường để đạt được điều đó, lại muốn “không làm mà hưởng”, đây rõ ràng là những điều không thể.

Cho nên muốn bái Phật phải hết sức thận trọng, biện pháp tốt nhất là “bái mà không cầu”, đối với Phật chỉ cần có tâm kính ngưỡng, thành tín và kiên định, đây mới là điều trân quý nhất.

Ở góc độ văn hóa, trước hiện tượng đầu năm “chạy sô” đi lễ thật nhiều, nhà nghiên cứu văn hoá Trần Đình Sơn cho rằng người xưa có câu “Phật tại tâm”. Nếu tâm mình là tâm Phật thì không cần thiết phải đến chùa cầu xin cũng sẽ được nhiều điều tốt đẹp.

“Trên lý thuyết, trong nhà còn mẹ cha già đó chính là hai vị Phật lớn, trong tâm mình luôn có Phật nghĩa là trong mình cũng đã có một ngôi chùa lớn. Nếu mình biết phụng thờ những vị Phật đó thì không nhất thiết phải đi lễ ở đâu nữa cả.

Tuy nhiên, tâm lý của con người đó là nhu cầu được đi để tham quan cho biết chùa này chùa kia, đi để biết lễ hội này lễ hội kia… đó cũng là một nhu cầu chính đáng chứ không có gì phải bàn. Nhưng đi với tâm thế như thế nào thì lại là điều đáng nói. Không Phật – Thánh nào dạy phải đi nhiều chùa, đền, phủ, miếu… lễ bái mới có nhiều lộc cả”.

Mỗi bước chân trong chùa chứa đựng nhiều hiểu biết

Vào chùa, nhiều người không hề biết mình đang chắp tay lễ ai, lễ chư Phật, Bồ Tát nào. Thiết nghĩ trang bị được đôi chút sự hiểu biết về cũng là tốt để hành lễ cho đúng.

Để giúp các Phật tử, tác giả Đặng Xuân Xuyên trong cuốn sách “Vào chùa lễ Phật những điều cần biết” đã chỉ cách nhận biết rõ về từng chư Phật.

Theo đó, tượng thờ Phật Thích Ca mặt tròn, đỉnh đầu có gò thịt nổi cao, cằm vuông vức, nơi ấn đường (chỗ đầu hai lông mày giao nhau) có nốt ruồi đỏ. Tai dày, tròn, đầy đặn, thành quách phân minh, sắc trắng hơn mặt. Hai tay dài và dày. Ngực có chữ vạn, mình vàng, sắc hoàng kim. Tượng Phật Thích Ca thường được tạc theo thế ngự trên đài sen, hai tay để ấn tam muội, đôi mắt khép lại ba phần tư.

Tượng Phật Di Lặc thường được an vị ngay ở cửa ra vào, hiếm khi được thờ ở chính điện. Tượng Phật Di Lặc được tạc theo tư thế ngồi ngả lưng ra đằng sau, nhành miệng ra cười ngặt nghẽo, hớn hở như khoe cái bụng phệ, béo tròn, vô lo vô nghĩ của mình, mà cũng giống như niềm hân hoan chào đón khách thập phương và hoan hỉ ban niềm tin cho du khách.

Phật A Di Đà là hiện thân đời sống vĩnh cửu và trí tuệ hào quang nên có hai danh hiệu: Vô lượng thọ Phật (đời sống của Phật dài vô lượng, vô biên) và Vô lượng quang Phật (hào quang của Đức Phật chiếu tới các cõi thập phương). Chúng sinh nào muốn được về cõi Cực Lạc thì phải thành tâm tu trì, tin đức Phật A Di Đà.

Tượng Phật A Di Đà thường có những nét đặc trưng như: đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngực có chữ vạn ở khoảng trống của áo cà sa, ngồi hoặc đứng trên toà sen.

Đức Phật nói về thần lực của Quan Âm trong kinh Phổ Môn rằng, nếu một ngàn chỗ có tâm thành cầu nguyện Đức Quan Âm thì đồng một lúc đó có một ngàn Bồ tát Quan Âm liền ứng hiện. Tượng thờ Phật Phật Bà Quán Thế Âm tại các ngôi chùa Việt Nam thường là hiện thân hình dáng của người phụ nữ quý phái, nhân hậu, dịu dàng, đứng trên đài hoa sen tay trái cầm bình thanh tịnh, tay phải cầm cành dương liễu để phổ độ chung sinh.

Văn thù Sư Lợi là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức, là một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Văn Thù Bồ Tát thường được tạc theo tượng đứng trên hoa sen trắng, an vị bên trái tượng Phật Thích Ca (theo hướng đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy theo mong cầu của chúng sinh mà Ngài hiện thân hóa độ. Theo truyền thuyết của Phật giáo thì Bồ Tát Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Phổ Hiền Bồ Tát thường được an vị đứng trên tòa sen, bên phải Phật Thích Ca (theo hướng đứng vái lạy của người dâng lễ) để theo hầu Phật Tổ.

Địa Tạng Bồ Tát là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong địa ngục và trẻ con yểu tử hoặc cứu giúp lữ hành phương xa. Tượng Địa Tạng Bồ Tát thường có dáng một vị tăng đầu đội mũ thất phật (trên mũ có hình 7 vị Phật), mặc áo cà sa đỏ, tay phải cầm gậy tích trượng có 12 khoen, tay trái cầm ngọc minh châu, ngồi trên tòa sen.

Vào chùa không cầu danh lợi, tham muốn danh lợi dễ đọa vào luân hồi

Theo lời Phật dạy, có một số điều không nên cầu khi đi chùa, đó là:

Một là không cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì lòng tham sẽ dễ sinh.

Hai là đừng cầu không khó khăn, vì có khó khăn thì đạo tâm mới kiên cường.

Ba là đừng cầu tâm không khúc mắc, vì tâm không khúc mắc thì ngạo mạn dễ sanh.

Bốn là không cầu lợi về mình, chấp trước vào mình dễ sinh vào ba cõi xấu.

Năm là đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng tôi luyện thì sao thành Phật.

Sáu là không cầu làm việc mong dễ thành công vì người ở trong cảnh thuận lợi khó tu hành.

Tám là làm ơn không cầu mong báo đáp, vì muốn người báo đáp thì con đường làm ơn đã sai lệch.

Chín là oan ức không cầu biện bạch, nhẫn nhục chịu đựng trả món nợ xưa.

Mười là không cầu người khác giúp mình, tự lực cánh sinh không nên phan duyên

Theo: chúng tôi

Phật Pháp Vô Biên : 14 Lời Phật Dạy

14 lời Phật dạy

Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình

Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá

Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.

Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất chính mình.

Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.

Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti.

Đáng thương lớn nhất của đời người là biết đứng lên sau vấp ngã

Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.

Tài sản lớn nhất của đời người là sức ép, trí tuệ.

Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.

Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

Khuyết điểm lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

Suy luận chung

Qua 14 lời Phật dạy ta có thể tựu chung lại là cuộc đời của mỗi con người hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc vào chính bản thân mỗi người. Các yếu tố bên ngoài chỉ là những tác nhân để thử thách xem con người có vượt qua được chính không chứ nó không có tính quyết định. Hãy cứ sống một cách tự tin, yêu chính con người mình,dù có bị vấp ngã thì cũng đừng bao giờ đánh mất niềm tin vào cuộc sống mà hãy biết đứng lên , sống chân thật, loại bỏ đi những tính xấu như anh ghét đố kỵ để tâm hồn được thanh thản hơn.Trong lao động và học đừng bao giờ cho mình là nhất “ núi cao thì sẽ có núi cao hơn “ vì thế đừng bao giờ ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân mình hơn. Với những ai bất hơn mình hãy biết bố thí để tích thêm ơn đức.

Đối với những người xung quanh hãy biết khoan dung và chia sẻ nhiều hơn thì ta cũng sẽ nhận lại được như vậy. Và điều quan trọng nhất hãy trân trọng tình cảm mà người khác dành cho mình để cuộc đời có thêm ý nghĩa. Làm được như vậy ta sẽ cảm nghiệm rõ Phật pháp vô biên và huyền diệu ra sao.

Danh Ngôn Lời Vàng Phật Dạy Về Trí Tuệ

1-Người Phật tử, phải thắng sự lười biếng bởi thái độ ỷ lại hay dựa dẫm vào người khác mà cầu khẩn van xin để đánh mất chính mình.

3-Người Phật tử chân chính, cương quyết phải thắng sự thiếu quyết tâm khi muốn làm việc thiện vì đó là trách nhiệm và bổn phận của người có lòng từ bi hỷ xả.

4-Nếu ta không thể cảm thông và tha thứ cho kẻ khác, thì lòng ta sẽ không bao giờ được thanh thản bởi trong tâm còn vướng mắc chuyện đã qua.

6-Khi có quyền hành trong tay chúng ta có thể hủy diệt người chỉ cần một câu nói, nhưng để xây dựng mọi người cùng nhau sống đời đạo đức nhiều khi phải trải qua nhiều thế hệ.

7-Người Phật tử, phải thắng sự nhu nhược của mình do thiếu chính kiến về đạo đức sống làm người, hãy thường xuyên soi sáng lại chính mình mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

9-Người Phật tử chân chính, phải vượt qua chủ nghĩa cá nhân để sống bằng trái tim có hiểu biết mình vì mọi người với tinh thần trách nhiệm dấn thân và phục vụ.

10-Chúng ta cùng tu học theo hạnh nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm luôn đồng hành, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, đem niềm vui đến với mọi người và sẵn sàng san sẻ nỗi khổ niềm đau, với tấm lòng vô ngã, vị tha.

NGƯỜI TU LẤY TRÍ TUỆ LÀM SỰ NGHIỆP

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA HÀNG BỒ-TÁT

Là người đệ tử Phật, ngày đêm nên chí thành, nhớ nghĩ và tư duy, về tám điều giác ngộ, của các bậc Bồ-tát.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT: Thế gian vốn vô thường, cõi nước rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã, luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội, nếu quán sát như thế, dần hồi lìa tử sinh.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ HAI: Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được an lành.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BA: Tâm nếu không thỏa mãn, chỉ lo việc tham cầu, sẽ tăng thêm tội ác, Bồ-tát hay quán xét, thường muốn ít biết đủ, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy trí tuệ làm đầu.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NĂM: Ngu si phải sinh tử, Bồ-tát thường nên nhớ, luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ, nhằm thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho mọi người.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ SÁU: Nghèo khổ hay oán giận, thường gieo nhiều tội lỗi, Bồ-tát luôn san sẻ, bình đẳng với mọi người, không nhớ đến quá khứ, không ghét bỏ một ai.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ BẢY: Tham muốn rất tai hại, tuy thân ở thế gian, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình bát và pháp khí, chí nguyện người tu hành, luôn giữ đạo trong sạch, thực hiện hạnh thanh tịnh, từ bi với muôn loài.

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ TÁM: Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não vô cùng tận, nên phát tâm Bồ-đề, tu hành cầu giải thoát, độ hết thảy muôn loài, nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu nhiều đau khổ, khiến cho muôn loài vật, đều bình an hạnh phúc.

Vậy việc học bắt đầu từ đâu, trước tiên là phải học ăn, học nói, học gói, học mở, học và làm theo cái tốt của người khác; học để không sai phạm cái xấu của người khác ngay từ khi còn tấm bé. Người xưa thường nói: “Còn đôi bàn tay và khối óc, thì lo gì không lập lại được sự nghiệp.”

–Trí tuệ thế gian : Thường thế gian ai thông minh, lanh lợi, biết được nhiều việc hoặc học cao hiểu rộng, thì được cho là người có trí tuệ; nhưng trí tuệ này do học mà được nên xuất phát từ lòng tham của con người. Chính vì vậy, họ si mê, chấp ngã càng cao, thấy mình là trung tâm của vũ trụ, thấy mình là thầy thiên hạ, nên độc tài thao túng, dùng mưu ma chước quỷ để bình thiên hạ, tạo ra ân oán, oan gia trái chủ, dùng miệng lưỡi biện tài vô ngại để lung lạc lòng người, nói một đường làm một nẻo, chẳng khác gì con vẹt bắt chước nói tiếng người. Bởi nói được mà làm chẳng được, nên có địa vị cao trong xã hội càng làm tổn hại cho nhiều người. Do đó, trí tuệ thế gian chỉ giúp con người tăng trưởng thêm lòng tham vô bờ bến như biển cả mênh mông không ngần mé. Thế cho nên, nếu ai là người tài giỏi thì cần phải học hỏi và trau dồi đạo đức để nâng cao sự hiểu biết, giúp nhân loại bằng tình thương yêu chân thật. Nhờ có tu tập chúng ta mới biết được giá trị thật giả của cuộc đời, do đó dễ cảm thông, chia sẻ, bao dung và tha thứ để không làm tổn hại cho nhau.

–Trí tuệ xuất thế gian : Để không nhầm lẫn với trí tuệ thế gian, nhà Phật gọi là trí tuệ bát nhã, nhưng trí tuệ xuất thế gian cũng có ba loại: Trí tuệ lộn ngược, trí tuệ bắp vế, trí tuệ rộng lớn.

–Trí tuệ lộn ngược: là loại trí tuệ không phân biệt được đầu đuôi, trước sau một cách rõ ràng, nó giống như cái bình lật úp trở lại, dù có chế nước vô bao nhiêu cũng bị tràn ra, không chứa được chút nào. Hạng người này tuy có nhiệt tình học hỏi nhưng không có định tâm tỉnh giác vì không giữ giới và chuyên tâm học Phật. Do đó, thế gian thường gọi hạng người này như nước đổ lá môn, như nước xao đầu vịt, đổ vô bao nhiêu cũng bị trôi đi hết, nên nói là trí tuệ lộn ngược.

-Trí tuệ bắp vế: Chúng ta đến chùa nghe Pháp đều ghi nhớ rõ ràng từng câu, từng chữ, nhưng khi đứng dậy ra về đều quên hết. Người học đạo như thế gọi là trí tuệ bắp vế, vì khi nghe quí thầy hướng dẫn thì nhớ, lúc về thì quên, giống như người ăn bánh kẹo để trên bắp vế, khi đứng dậy rớt hết. Đây là hạng người nếu được đến chùa học hỏi, tu tập, cảm thấy an lạc và hạnh phúc, chẳng khác nào người đang lạnh gặp được áo ấm. Học đạo như vậy uổng công vô ích, người tu như thế cần phải biết hổ thẹn, sám hối, gắng sức ra công học hỏi, thường xuyên quán chiếu, suy tư không một phút giây lơ là, biết cách sắp xếp công việc cho hợp lý, làm việc nào biết việc đó.

Chúng ta cố gắng học hiểu rõ ràng nghĩa lý lời Phật dạy qua sự hướng dẫn của chư Tăng, rồi sau đó chiêm nghiệm quán xét và ứng dụng tu hành. Nghe học như thế, mới thật sự có lợi ích thiết thực và xứng đáng là người Phật tử tại gia.

–Trí tuệ rộng lớn: Đây là loại trí tuệ do siêng năng rèn luyện, quán chiếu, tu tập, không phải do học hỏi, hiểu biết mà được nên nói là trí tuệ rộng lớn. Trí tuệ rộng lớn là trí tuệ thấy biết đúng như thật, tuy sống giữa dòng đời ô nhiễm mà không bị tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ kỹ chi phối; luôn sống vì mọi người, phục vụ chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán; sống vì tha nhân chứ không vì lợi ích riêng tư, lấy niềm vui nhân loại làm niềm vui chính mình.

Nhân Vụ Chùa Ba Vàng, Nghĩ Về Lời Phật Dạy

– Phật từ bi, thử hỏi, Ngài có hài lòng chăng, khi nơi thờ tự lộng lẫy, to nhất nhì Việt Nam, thế giới trong khi chúng sinh còn nghèo đói.

Phẫn nộ vụ chùa Ba Vàng

Nhờ có báo chí, vụ chùa Ba Vàng được phơi bày trước dư luận. Xem clip, ai ai chẳng khỏi phẫn nộ. Có quá nhiều điều trái khoáy, chướng tai gai mắt, kể cả làm điều thất nhân tâm, xúc phạm đến hương hồn các liệt sĩ. Tạm nêu ra vài câu hỏi quanh vụ việc này:

Từng có lời khoe khoang, tiền của xây chùa Ba Vàng tới 500 tỷ đồng, có thời là chùa to nhất Việt Nam. Vậy tiền đó ở đâu, từ đâu? Ai bỏ ra? Sổ sách ghi chép thế nào?

Lại nữa, số tiền cúng vong bao tháng năm qua là bao nhiêu, vong nào tiêu, đang ở đâu, ai quản, trong tài khoản nào và nếu vong không tiêu, thì dùng vào việc gì, hay để chia chác cho ai?

Không thể hình dung nổi, một vụ việc “quái đản”, với những người “quái gở”, công nhiên tồn tại cạnh một thành phố, ngang nhiên mở/đóng trang web, đăng clip để phán nhăng cuội và ngày ngày nhiều người ùn ùn kéo tới.

Vậy các các cơ quan quản lý của ta ở đâu, luật pháp đâu? Nhà nước ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, song không có nghĩa, hành đạo theo kiểu phá đạo, gieo rắc thứ mê tín, mục đích để lừa đảo, đe nẹt, chiếm đoạt tiền của của người khác.

Điều cuối cùng, cần hết sức thận trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, trong các cuộc thăm viếng mang tính ngoại giao, văn hóa, tôn giáo bị đem ra lợi dụng trục lợi, mạo danh, hù dọa.

Không chỉ vụ chùa Ba Vàng, rất cần một cuộc tổng rà soát các địa điểm, công trình thờ tự, chấm dứt lợi dụng tôn giáo để kinh doanh, reo rắc mê tín, dị đoan, bóc tách hoạt động kinh doanh và phải tuân thủ quy định tài chính. Các hoạt đông, kể cả hoạt động tôn giáo, đều phải tuân thủ, nằm trong khuôn khổ pháp luật. Cuối cùng, cần xử lý nghiêm, đúng luật những kẻ trong vụ chùa Ba Vàng.

Phật là từ tâm, trong tâm.

Phật là từ tâm, trong tâm

Nhân vụ chùa Ba Vằng, chúng ta không thể không liên tưởng đến thực trạng người ta đua tranh nhau cúng dường, giành giật xây chùa lớn, đúc tượng to, mang cả kỹ nghệ ra quảng cáo Phật – khác hẳn một thời khi cửa chùa hoang vắng, hương tàn khói lạnh, thậm chí có việc bài xích đạo Phật.

Phải chăng lòng họ thật vì Phật? Hay họ nghĩ, Phật thích chùa to, tượng lớn, bằng vàng, đá quý. Thật ngây thơ, vải thưa sao che nổi mắt thánh?!

Xây chùa, đúc tượng vì mục đích đem Phật ra kinh doanh, buôn thần bán thánh thì quả là thực to gan lớn mật, coi trời bằng vung. Họ có thể không có lương tâm, nhưng phải biết sợ trời, sợ đất, nghĩ đến hậu vận, đến con, đến cháu, sao dám làm cái việc phá đạo, buôn Phật. Làm vậy, ắt có nhân có quả.

Phật từ bi, thử hỏi, Ngài có hài lòng chăng, khi nơi thờ tự lộng lẫy, to nhất nhì Việt Nam, thế giới trong khi chúng sinh còn nghèo đói.

Biết bao bà mẹ Việt Nam anh hùng, bao thương binh, gia đình liệt sĩ, bao trẻ em miền núi còn đang đói cơm lạt muối.

Hàng ngàn ngôi trường nội trú vùng cao còn chưa ra trường, trẻ nhỏ đói khát, mới sáu, bảy tuổi, hàng tuần phải trèo đèo lội suối, vác trên vai bốn năm cân gao tới trường, tự kiếm củi, nấu một bữa, ăn đôi ba ngày, chỉ cơm ăn với cơm, chan nước lã, đến hạt muối cũng không có.

Chả nói đâu xa, ngay tại nhiều thành phố, không ít gia đình bệnh nhân khốn khổ chạy vạy vài triệu bạc để lo viện phí.

Lời Phật dạy đơn giản: Từ bi, lương thiện, giác ngộ để ta không còn tham sân si. Không bỗng dưng, đạo của Người truyền tụng trên 2.600 năm, lan truyền khắp năm châu bốn bể.

Thái tử Tất đạt đa Cồ Đàm từ bỏ cung vàng gác tía, bước vào chốn nhân gian để giác ngộ. Giáo lý của Ngài là phải do lòng mình, phải tự nguyện, phải tiếp thu và thực hành, không thể nhờ, không thể mua, càng không thể dùng tiền của mua bán, giành giật, dối trá, lừa lọc.

Trong mỗi người con ta, đều có phần phật, ai ai cũng nên phật được cả, miễn là do ta, bằng tấm lòng, bằng hành động, bằng sự từ bi, vạn vạn lần không thể bằng mua bán, tranh giành, lừa dối.

Đạo Phật truyền vào nước Việt cả ngàn năm, góp một phần tạo nên văn hóa, bản sắc Việt, tín ngưỡng Phật trong dân gian.

Gần như mỗi làng quê Bắc bộ, cái nôi của nước Việt, đều có ngôi chùa nhỏ, khiêm nhường, mộc mạc, nép mình chốn làng quê. Nó không phô trương, lộng lẫy, chỉ sớm chiều ngân nga tiếng chuông, gióng lên nhắc nhở về từ bi, chân thật sống của phật tử, dân làng. Phật giáo cũng góp phần vào bức tranh kiến trúc làng quê ngàn năm nước Việt.

Phật đâu cần chùa to, tượng lớn, xưng tụng Ngài – sùng bái cá nhân Phật. Phật là từ tâm, trong tâm.

Dân gian có câu “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.” Đâu cứ phải xuống tóc, đâu phải cùng dường nhiều, đâu phải mâm xôi lớn, thủ lợn to cúng Ngài.

Phật không cần những thức đó và Ngài biết ngay của hối lộ, người vốn huyền diệu mà; đâu lễ lớn, cầu nài, người sẽ phù hộ đồ trì. Trước Ngài, mọi chúng sinh đều bình đẳng, giàu nghèo, cốt là tấm lòng thiện tâm, từ bi.

Nguyễn Trọng Huân

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Lời Phật Dạy Thầy Thích Trí Huệ 2024 Chùa Pháp Bảo Hoa Kỳ trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!