Xu Hướng 2/2023 # Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ # Top 4 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Quảng Bình là một tỉnh có đặc điểm sinh thái đa dạng: biển, rừng, đồng bằng đã tạo cho vùng đất này có nhiều cảnh quan tươi đẹp: vừa hùng vĩ vừa nên thơ, nhiều sản vật độc đáo phong phú, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển cả ba đặc trưng văn hoá: văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển.

Trước hết, điều kiện địa lí và môi trường tự nhiên đóng vai trò quan trọng để hình thành nên phẩm chất con người Quảng Bình. Đồng bằng nhỏ hẹp, núi non hiểm trở, nắng nóng, mưa nhiều, thiên tai…Ở Quảng Bình khi nói tới việc cách trở, khó khăn về mặt không gian, nhân dân thường dùng hình ảnh “truông”. Truông là một đặc điểm địa chất của vùng đất này. Truông là một nơi khó qua lại:

Eo truông cách trở khó qua, Tam Đa là một, Đại Hoà là hai.

Về mặt lịch sử, xã hội, trong quá khứ, Quảng Bình là khu vực chiến tranh, nội chiến, bị phân ranh, chia cắt. Khi cuộc nội chiến Trịnh -Nguyễn nổ ra, sông Gianh trở thành giới tuyến phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đi qua nơi đây như thử thách lòng dũng cảm, trí thông minh của con người:

Khôn ngoan qua cửa Thanh Hà, Đố ai có cánh bay qua luỹ Thầy.

Cửa Thanh Hà là cửa sông Gianh, Luỹ Thầy là thành luỹ do Đào Duy Từ xây dựng ở Đồng Hới để phòng thủ ngăn chặn hướng tiến công của quân Đàng Ngoài: ” Thứ nhất thì sợ luỹ Thầy, Thứ nhì sợ lầy Võ Xá”.

Môi trường khắc nghiệt rèn luyện cho con người Quảng Bình nhiều đức tính quý báu: lao động cần cù, chịu đựng gian khổ. Bên cạnh đó, sự thâm nghiêm của núi rừng, sự hùng vĩ của biển cả tạo cho con người nơi đây khí chất khẳng khái, mạnh mẽ. Dấu ấn thiên nhiên in dấu lên tâm hồn họ, tạo cho họ tính cách vừa hào phóng lại vừa khắt khe, vừa âu lo lại vừa hồn nhiên…Trong quá trình dựng nước, Quảng Bình là tỉnh có một số phận lịch sử khá đặc biệt. Thời cổ đại, đây là nơi diễn ra các cuộc chiến giữa Âu Lạc và Lâm Ấp chống Trung Hoa. Thời trung đại, là mảnh đất giao tranh của Chăm và Việt, của Đàng trong và Đàng ngoài. Về sau này là mảnh đất chịu nhiều bom đạm của giặc Pháp, giặc Mỹ. Đau thương và gian khó đã thấm vào từng tấc đất và con người nơi đây. Hoàn cảnh ấy khiến cho con người Quảng Bình có một khả năng đối phó cao, một tinh thần yêu nước và một ý chí sắt đá.

Lễ hội cầu ngư

Một nhân tố cuối cùng tác động lên sự hình thành phẩm chất con người Quảng Bình đó là môi trường văn hoá. Quảng Bình là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hoá khác nhau: văn hoá Đàng Trong, Đàng Ngoài, văn hoá Phú Xuân, văn hoá Trung Hoa, văn hoá Chăm Pa…Tính chất pha trộn này hình thành nên tính cách dễ hoà nhập của con người nơi đây.

Nhân dân Quảng Bình từ xưa đã có truyền thống hiếu học và học giỏi. Có thể kể số tên tuổi tiêu biểu như: học giả Dương Văn An, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Phạm Tuân, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử… Nhiều làng quê văn vật có từ lâu đời như: Sơn – Hà – Cảnh – Thổ / Văn – Võ – Cổ – Kim. Nơi đây dồn tụ được khí thiêng sông núi để rồi sản sinh ra những danh nhân, những anh hùng của vùng đất “địa linh nhân kiệt”:

Chữ rằng nhân kiệt địa linh, Đất chung khí tốt mới sinh anh hiền.

Tín ngưỡng của người Việt ở Quảng Bình là tín ngưỡng đa thần. Chất âm tính của văn hoá nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ và tín ngưỡng Nữ thần chiếm ưu thế:

Bà vô mười bảy tháng tư,

Vạn lo lập lễ cầu ngư lưới nghề .

Thần linh dù được thờ ở đình làng hay các đền, các miếu đều được nhân dân và chính quyền hương thôn chăm lo, nhắc nhở nhau thờ phụng quanh năm:

Chớ thấy miếu rách bỏ thờ, Bỏ miếu không thờ tội lắm ai ơi.

Tục thờ vong linh ở Quảng Bình là thờ linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia đình. Ca dao Quảng Bình có câu:

Đạp xe lấy nước lên đồng, Lập lăng thờ mẹ ẵm bồng khi xưa.

Lễ hội mang tính chất tâm linh, giải trí nhưng chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc. Ở Quảng Bình có hội bơi trải trên sông Nhật Lệ và sông Kiến Giang theo lệ ” lục niên canh độ “:

Kẻ Giàu có quán Đình Thanh, Kẻ Hạc ta có ba đình ba voi. Mười tám kéo thuyền xuống bơi, Mười chín giã bánh, hai mươi rước thần.

Bên cạnh lễ hội bơi thuyền ở đây còn có nhiều sinh hoạt văn hoá khác:

Người về nhớ trống Kẻ Sen Nhớ chuông Kẻ Hạc nhớ kèn Thiệu Yên

Bài chòi là một trò chơi văn nghệ. Để động viên, cổ vũ, khích lệ tinh thần người ta đặt lời vận động chơi bài chòi:

Đầu năm bói toán đâu xa, Bài chòi một hội biết là rủi may.

Người Quảng Bình qua nhiều thế hệ đã hình thành nên phong tục ăn, mặc mang đậm dấu ấn của mảnh đất này. Phong tục ẩm thực Quảng Bình đi vào ca dao, tục ngữ: ” Ăn chắc mặc bền”, “Ăn cay uống đắng”, “Ăn ít no lâu, ăn nhiều tức bụng”, …Thức ăn chủ đạo vẫn là rau củ: ” Tối ăn rau đi ngủ, sáng ăn củ đi làm”. Bữa ăn nào có cơm cá đối với họ là một bữa ăn ngon và sang trọng. Người ta khuyên bảo nhau cách ứng xử: ” Ăn nhai, nói kĩ”, “Ăn bớt đọi, nói bớt lời”, “Đừng ăn cháo đá bát”, “Đừng bao giờ ăn gian nói dối”, …Ăn phải biết lo toan, tính toán: ” Ăn củ môn bữa mai, để củ khoai bữa mốt”. Ăn bao giờ cũng gắn liền với làm, ăn để mà làm, “ăn làm” chứ không phải “ăn chơi”: ” Ăn cơm cho no, chèo đò Phú Trịch”, hay:

Muốn ăn mật vô rú Trèn, Muốn xơi ốc đực phải lên thác Đài.

Món ăn thể hiện bức tranh sản vật của vùng quê, là sản phẩm của quá trình lao động. Món ăn trở thành đặc sản của mỗi vùng quê Quảng Bình:

Ai lên Tuy đợi thì lên, Bún thịt chợ Tréo chớ quên mang về.

Món ăn trở thành niềm tự hào, thành nỗi nhớ của người con khi đi xa:

Mặt trời đã gác ngọn chông, Đi mô cũng nhớ nồi hông cơm bồi.

Chế biến món ăn là cả một công trình nghệ thuật. Tục ngữ Quảng Bình nói đến nghệ thuật nấu nướng: ” Cá bống kho tiêu, Cá thiều kho ngọt. Nghệ thuật chế biến thức ăn của nhân dân Quảng Bình chủ yếu thể hiện ở các món ăn chế biến từ cá. Có lẽ đây là do sở thích và thói quen ăn uống của họ:

– Cá dở thì hấp hành tươi, Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò. – Cá thiều mà nấu măng chua, Một chút canh thừa cũng chớ bỏ đi. – Muối mè rang với ruốc khô, Có chết xuống mồ cũng dậy mà ăn.

Ăn gắn liền với nói, với giao tiếp và ứng xử: ” Ăn đúng bữa, nói lựa lời”, khuyên răn, nhắc nhở nhau khi nói năng cần phải tìm ngôn ngữ đúng đắn, phù hợp. Người ta phê phán những kẻ khi ăn không tưởng đến ai nhưng làm thì nhờ mọi người giúp đỡ: ” Ăn cúi trôốc, đẩy nôốc kêu làng”.

Trong các ngày Tết thì món ăn của người Quảng Bình là những món ăn truyền thống:

Tết về câu đối bánh chưng, Chẳng ham giò chả chỉ ưng Ngứa, Xoè.

Trong ngày Tết, ở Quảng Bình không thiếu hai thứ cổ truyền của dân tộc: ” câu đối đỏ”,”bánh chưng xanh“. Họ không cần những món ngon như giò, chả mà chỉ thích những món bình dân. “Ngứa, xoè” là hai loại cá có nhiều ở vùng biển Quảng Bình. Thức uống của người Quảng Bình là nước chè xanh. Chè xanh là một thứ nước uống bổ dưỡng: ” Nước chè xanh vừa lành vừa mát”. Người Quảng Bình ai cũng biết đến vùng đất chè Tuyên Hoá:

Ai lên Tuyên Hoá quê mình, Chè xanh mật ngọt thắm tình nước non.

Cũng có câu ca dao ví sự ngọt mát của nước chè với tình yêu, sự hoà hợp của vợ chồng trong cuộc sống:

Nước trong pha với chè tàu, Lấy chồng Đồng Phú không giàu cũng vui.

Trong các bữa cỗ, bữa tiệc, họ còn uống rượu. Uống rượu cũng là dịp để giao tiếp, bày tỏ sự thân tình. Quảng Bình nổi tiếng với: ” Sò nghêu Quán Hàu, Rượu dâu Thuận Lý”.

Nghề trồng lúa là nghề chủ đạo. Huyện Lệ Thuỷ có cánh đồng màu mỡ, phù sa bồi đắp hàng năm nên được coi là vựa lúa thứ hai của xứ Đàng Trong: ” Thứ nhất Đồng Nai, thứ nhì hai huyện “. Có bài ca dao đã ca ngợi sự trù phú của mảnh đất này:

Lệ Thuỷ gạo trắng nước trong, Ai về Lệ Thuỷ thong dong con người.

Một bài ca dao khác cũng ca ngợi sự ấm no nhờ nghề trồng lúa:

Hoàng Cương ăn tấm cũng no, Đông viên có thóc bán cho Kẻ Hoàng.

Người Quảng Bình còn biết nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc: “Muốn giàu nuôi cá, Muốn khấm khá nuôi heo”. Họ còn biết tận dụng môi trường tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống: “Trong làng đi tranh đi củi, Ngoài nghề đi dũi đi câu”.

Quảng Bình với đường bờ biển dài, với nhiều loại tôm cá, cư dân ven biển đã sớm biết khai thác, đánh bắt nguồn hải sản này. Nghề đánh bắt cá sớm trở thành nghề chính ở đây. Họ biết đóng thuyền, thả lưới, vào lộng ra khơi để khai thác món quà mà thiên nhiên ban tặng:

Tháng bảy nước phảy lên bờ, Sắn rớ, sắm đáy đợi chờ làm ăn.

Ngoài nghề nông và nghề đi biển, Quảng Bình còn có một số nghề thủ công truyền thống như đan chiếu, làm nón: ” Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu”. Bên cạnh đó việc buôn bán cũng rất phát triển. Chợ ở Quảng Bình được biết đến nhiều nhất là chợ Ba Đồn:

Ba Đồn là chợ xưa nay, Tụ nhân tụ hoá mười ngày một phiên.

Chợ không chỉ là nơi trao đổi, buôn bán hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu tình cảm :

Chợ Sạt một tháng ba phiên, Không đi thì nhớ lời nguyền bạn quen.

Trong đời sống tinh thần, con người sống thiên về tình cảm, quý trọng nề nếp gia phong. Con cái luôn có ý thức chăm lo, phụng dưỡng cha mẹ:

Ba đồng một khứa cá buôi, Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

Tình cảm gia đình là thiêng liêng, đặc biệt nhạy cảm là mối quan hệ giữa nàng dâu với mẹ chồng:

Mẹ già là mẹ của anh, Ăn cơm có cá, có canh rau bầu. Hạt gạo lúa dâu xót hai đầu cho trắng, Tôm phơi một nắng bóc vỏ nấu canh, Múc nước trong xanh để mẹ già tắm mát…

Đối với quan hệ xã hội, người lớn luôn khiêm nhường trong ứng xử, sống hài hoà, không gây hiềm khích với làng trên xóm dưới:

Nhịn chắc (nhau) một chút cho xinh Ai sợ chi mình, mình sợ chi ai

Lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Quảng Bình tuy không ngọt ngào như các vùng khác nhưng nó ẩn chứa sự chân tình, cởi mở. Ngay từ thuở còn thơ cha mẹ đã dạy con cái cách ăn nói sao cho lễ phép: ” Gọi thì dạ, bảo thì vâng”. Hoặc là: ” Nói thì thưa trước, dạ sau”… Cha ông truyền dạy cho con cháu cách ăn ở, nói năng sao cho hoà thuận trong nhà, ngoài ngõ. Dần dần hình thành nên một phong tục trong ứng xử có thể thấy rõ trong câu ca: ” Rây (dây) chùn khó đứt”. Họ coi sự hoà thuận làm yêu cầu đầu tiên trong giao tiếp. Hoà thuận trong lời ăn, tiếng nói để giữ mối quan hệ bằng hữu bền chặt.

Phong tục tập quán của người Quảng Bình vừa mang dấu ấn đồng bằng nông nghiệp vừa pha trộn với văn hoá núi rừng và biển cả. Ăn thì ham chắc, mặc thì ham bền, ở thì giản dị, giao thiệp thì chân thật và mến khách. Tình cảm chân tình, hiếu nghĩa. Nét đẹp của tín ngưỡng thể hiện ở sự tôn kính, biết ơn. Sống trong khó khăn, chiến tranh nên nghèo khó cứ đeo đẳng con người vùng đất này nhưng họ vẫn không hề nhụt chí, phiền não mà luôn ham sống, yêu đời, chấp nhận thử thách để vượt lên.

Qua ca dao, tục ngữ, văn hoá dân gian Quảng Bình đã thể hiện một dấu nhấn khá đậm nét của người Việt ở miền Trung, đóng góp một nét phong cách văn hoá của đất này với khu vực văn hoá Bắc miền Trung nói riêng và văn hoá vùng miền Trung nói chung. Đây là một vấn đề nghiên cứu khá thú vị nhưng rất khó khăn. Những gì đã trình bày trong bài viết này là rất nhỏ so với một nền văn hoá Quảng Bình đa dạng. Chắc rằng vào một dịp khác có điều kiện thuận lợi, chúng tôi sẽ đầu tư nghiên cứu kĩ hơn.

(Theo chúng tôi

Ca Dao Tục Ngữ Quảng Ngãi

CA DAO TỤC NGƯ VỀ QUẢNG NGÃI (SƯU TẦM)

Bao giờ núi Ấn hết tranh Sông Trà hết nước anh đành xa em

Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh Liều mình lén mẹ theo anh phen này

Ai về núi Ấn sông Trà Có thương cô bậu ghé nhà mà thăm

Sông Trà sát núi Long Đầu Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa Núi Long Đầu lưu danh hậu thế Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng Ai về xứ Quảng cho nàng về theo

Ai về núi Bút, Quán Đàng Núi bao nhiều đá dạ thương chàng bấy nhiêu

Ba La, Vạn Tượng, Cầu Mông Chạy quanh chạy quéo cũng về đồng Ba La

Ai về Cỗ Lũy cô thôn Nước sông Trà Khúc sóng dồn lăn tăn

Ai về quê ấy Nghĩa An Ghé thăm phong cảnh Chùa Hang, Bàn Cờ

Tư Nghĩa, Cửa Đại là đây Gành Hàu, núi Quế đá xây nên chùa Dưới thời bông súng nở đua Ngó lên trên chùa đá dựng kiểng giăng Ngó qua bên xóm Trường An Ngó xuống hòn Sụp cát vàng soi gương

Sơn Tịnh có núi Chân Trâu Có bàu ông Xá, có cầu Rừng Xanh

Bao giờ rừng Thủ hết gai Sông Trà hết nước mới sai lời nguyền

Tai nghe anh lấy vợ Ba La Ruột đau từng chặng, nước mắt ra từng luồng

Cò bắt lươn cò trườn xuống cỏ Lươn bắt cò cò bỏ cò bay Từ ngày xa bạn đến nay Đêm đêm tưởng nhớ, ngày ngày trông luôn Kể từ Cầu Ván, Ao Vuông Bước qua Quán Ốc lòng buồn lụy sa Quán Cơm nào quán nào nhà Ngóng ra Trà Khúc trời đà rạng đông Buồn lòng đứng dựa ngồi trông Ngó vô Hàng Rượu mà không thấy chàng

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

Phải đâu chàng nói mà xiêu Tại con cá bống tại niêu nước chè

Mứt gừng Đức Phổ Bánh nổ Nghĩa Hành Đậu xanh Sơn Tịnh

Cô gái lòng son Không bằng tô don Vạn Tượng

Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ Cũng cưới cho được con vợ bán don Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

Sơn Tịnh đường đinh Sa Huỳnh muối trắng

Bậu về nhớ ghé Ba La Mua cân đường phổi cho ta với mình

Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ Khoai lang dưới Trảng, gạo thì Đường Trung

Ai về Cỗ Lũy, Xóm Câu Nhớ mua đôi chiếu đón dâu về làng

Gái Thanh Khiết giỏi nghề cải giá Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu

Bao giờ Thiên Mã sang sông Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu

Mía ngọt tận đọt Heo béo tận lông Cổ thời mang sông Tay cầm lóng mía Vừa đi vừa hít Cái đít sưng vù

Ai về Sơn Tịnh quê ta Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng

Tiếng đồn du kích Tịnh Khê Lính đi mất xác, quan về mất lon

Ai về Cổ Lũy Cô Thôn Quê ta Quảng Ngãi mồ chôn quân thù

Qua chùa núi Hó thắp bó nhang vàng Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa Trông trời chẳng thấy trời mưa Rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê Lên non tìm quế, quế về rừng xanh Trách ai treo ngọn thắt ngành Cho chàng xa thiếp cho anh xa nàng

Ba năm quế gãy còn cành Bình hương tan nát, miếng sành còn thơm

Nhà bà có ngọn mía mưng Có cô gái út mà ưng ông già

Trồng trầu tưới nước cho vông Cảm thương cây quế đứng trông một mình

Em nguyền cùng anh một miếng tóc mai Trước chùa Quan Thánh, nghe lời ai anh bỏ nàng

Thương tằm cởi áo bọc dâu Tưởng người có nghĩa hay đâu bạc tình

Nghèo nghèo nợ nợ lấy cô vợ bán don Lỡ mai có chết cũng còn cặp ui…

Đặc sản Quãng Ngãi qua ca dao tục ngữ

Hình ảnh này là dòng Sông Trà Khúc vào mùa hè và Ngọn Núi Ấn. Trên Ngọn Núi này có Chùa Thiên Ấn nỗi tiếng nhất ở Quảng Ngãi và có Mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trên tuyến đường này sẽ đi đến được Khu Chứng Tích Sơn Mỹ – Bãi Biển Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh.

Chim mía Xuân Phổ Cá Bống Sông Trà Kẹo Gương Thu Xà Mạch Nha Mộ Đức

Chỉ bốn câu vỏn vên 16 chữ, người bình dân đã giới thiệu được cả bốn ăn đặt sản nỗi tiếng của Quảng Ngãi, gắn nó với những địa danh tiêu biểu. Về đặc sản cá bống Sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao khác, như:

Phải đâu chàng nói mà xiêu Tại con cá bống tại niêu nước chè.

Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm, nhất là bữa cơm có cá bống Sông Trà kho tiêu. Dân gian đã mượn chuyện tình duyên đôi lứa để làm cái “đòn bẩy” để bật lên sức hấp dẫn. Cũng với kiểu như vậy, với Don, một đặc sản bình dân, lại có câu:

Con gái còn son Không bằng tô don Vạn Tường.

Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ Cũng kiếm cho được con vợ bán don Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

Quảng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu ca dao cũng đề cập đến đường mía đặc sản.

Ở đây mía ngọt đường nhiều Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi

Nước mía trong cũng chẳng thành đường Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay

Cùng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này.

Mía ngọt tận đọt Heo béo tận lông Cổ thời mang gông Tay cầm lóng mía Vừa đi vừa hít Cái đít sưng vù

Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặt sản như đường cát:

“Thiếp gửi cho chàng, một cục đàng rim, một tiềm đường cát”,

Bậu về nhớ ghé Ba La, mua cân đường phổi cho ta với mình”.

Bên cạnh Mạch nha, đường phổi còn có đường phèn:

“Thơm ngon như món mạch nha, Ngọt qua đường phổi, thơm qua đường phèn…”

Cũng có thể kể ngoài đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng:

“Muốn ăn bánh ít lá gai, lấy chống hải đảo sợ dài đường ghe.

Quế

Ở rừng thì có đặc sản quế Quảng nỗi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở:

“Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê, lên non tìm quế, quế vế rừng xanh”.

Quế Trà Bồng cũng vang danh không kém gì mía đường:

Ai về Quảng Ngãi Cho tui gởi ít tiền Mua dùm miếng quế lâu niên Đêm về trị bệnh khỏi phiền bà con.

Don

Don là đặc sản của vùng sông Trà (Quảng Ngãi). Món này có thể ăn với bánh tráng, hoặc xào với hành xúc bánh tráng nướng; ăn kèm ớt xanh, tiêu hành rất dậy vị.

Khi có dịp qua địa phận Quảng Ngãi, ngang sông Trà Khúc và đặc biệt, qua thôn Vạn Tượng, xã Tư Bình, Sơn Tịnh… làm sao bạn không bị hút tầm mắt vào những tấm biển mộc mạc bên đường: Don.

Don họ nhuyễn thể hai mảnh, vỏ nửa đen nhạt nửa vàng lợt, hình quả trám, to bằng móng tay út người lớn, dài hơn một phân. Vỏ thường mỏng hơn các loài ốc khác, hai mảnh vỏ chụm vào nhau, ở phía trên mỏng hơn dưới bụng. Ruột don màu phổi bò, pha màu vàng và có những tua hồng bao quanh. Don nằm sâu dưới cát (khoảng 5 phân), mỗi năm chỉ nổi lên một lần, với mực nước ngập khoảng một mét. Cứ từ tháng giêng âm lịch đến cuối mùa hạ, người dân miền đông Quảng Ngãi, nơi con sông Trà đổ ra biển (cửa Đại Cổ Lũy) lại rủ nhau đi nhủi (cào, bắt) don. Thật lạ kỳ, don chỉ sinh ra nơi nước “chè hai” (nước lợ, nước cửa biển), và cũng chỉ có thôn Vạn Tượng là nhiều và ngon nhất.

Khi nhủi don về, người ta loại bỏ hết rong rêu và các loại ốc hến khác, rồi đem ngâm với nước vo gạo khoảng nửa ngày. Đun sẵn một nồi nước hâm hẩm, một ui nước thì bốn bát don vỏ, thêm một chút muối sống (muối hột). Khi nước sôi bùng lên thì dùng đũa bếp khuấy mạnh và đều cho don há miệng, nhả tất cả chất ngọt làm cho nước don có mùi vị. Gạn nước luộc để riêng, ruột don đãi sạch vỏ. Cho don và nước luộc vào đun sôi một lần nữa. Chuẩn bị các gia vị như ớt xanh, tiêu xay, tỏi, hành, rau thơm…

Khi ăn, người ta thường húp cả nước lẫn ruột, và ăn kèm bánh tráng gạo. Bánh tráng cũng có hai loại, hoặc nướng để bẻ miếng nhỏ bỏ vào ăn kèm, hoặc bánh tráng một hai nắng, xé nhỏ như sợi mì Quảng, cho một vắt nhỏ vào tô và chan nước. Một tô don chỉ có một muỗng nhỏ ruột, châm một tí nước mắm nguyên chất và rau thơm, hành lá… là có thể thưởng thức một thứ kỳ tuyệt, lạ lùng. Don ngon không phải vì cầu kỳ, đắt tiền, hay vì gắn kết với một kỷ niệm xưa… mà ngon vì thế đất, vì con nước “chè hai” đã làm cho nó ngọt lạ ngọt lùng. Ngoài ra, don còn được xào khô với hành lá xúc bánh tráng nướng, nấu canh với dưa hồng hay nấu cháo với mè…

Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lắt léo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình trung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:

Sớm mai anh ngủ dậy Anh súc miệng Anh rửa mặt Anh xách cái rựa quéo Anh lên hòn núi Quẹo Anh đốn cây củi còng queo Anh than với em cha mẹ anh nghèo Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum. Tổng cộng : lần thực hiện

Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

*Trăm năm tích đức tu hànhChưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

* Ai đi Yên Tử cùng anhKhói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

* Nào ai quyết chí tu hànhHãy về Yên Tử mới đành làm tu.

*Lần theo dấu tích ngàn xưaBảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

* Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh LâmAi chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

*Miếu Đức Ông là nơi Cửa SuốtKhách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

* Bao giờ sấm chớp Chùa LôiCon ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

* Mồng bảy hội miếu Tiên CôngDưới là đánh vật trên rồng phi bay.Đêm thì hát đúm vui thayBên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

*Chùa Quỳnh vui lắm ai ơiTrốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

* Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồngMuốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

* Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

* Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà TuDa dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

*Chưa đi chưa biết Vàng Danh Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

*Chưa đi chưa biết Vàng DanhMá hồng để lại, má xanh mang về.*Ai đi Uông Bí, Quảng HồngCó đoàn vệ quốc dân công qua đèoAi về cho ta về theoCó sông cũng lội , có đèo cũng qua.

*Sông sâu còn có kẻ dòTội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

* Đào than cho nó làm giàuXúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

* ở quê cái khổ bám theoRa mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

* Đau đẻ cũng phải xúc thanĐẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

*Lầm than cực khổ thế nàyXúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

*Khi xưa nghe tiếng còi tầmNhư nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

* Thẻ tôi lĩnh có hai đồngÔng cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

*Cây mắm cò quămCây sú cù queoThắt lưng cho chặt mà theo anh vềĂn cơm với cá mòi heLấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

* Ai ra Cẩm Phả mà xemRừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sìĐã làm cái kiếp cu liCòn gì là đẹp còn gì là vui.

* Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngátHuyện Hoành Bồ đồi cát mênh môngAi ơi, đứng lại mà trôngKìa khe nước độc, nọ ông hùm giàViệc gì mà rủ nhau raLàm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

* Ai về Yên Dưỡng, Hoành MôMà xem quân lính cụ Hồ sang sôngĐêm ngày mải mê chiến côngThoáng nom như có cả chồng em kia.

* Thuyền than mà đậu bến thanThương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.* Thuyền than đậu bến đen sìAnh không ra mỏ lấy gì em ăn.

Ca dao tục ngữ giao duyên

* Ai về chợ huyện Thanh Vân

Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Nam

1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo

2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết…

3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng

6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần

7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm

9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh

10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng

12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

-14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng

-16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.

17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất.

18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công, Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác .

22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực giữa 2 miền,trong muà mưa gió .

24- Lụt nguồn trôi trái lòn bon , Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi . Mồ côi ba thứ mồ côi. Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường Lòn bon là môt loại trái cây,ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại lộc, muà mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái lón bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha,nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

25- Trà My sông núi đượm tình, Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà. Trà My là một huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam,có cả Thượng Kinh chung sống.

26.- Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt , Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh, Phân du, bạch chỉ rành rành , Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân. Trà My là huyện chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

27- Gập ghềnh Giảm thọ , Ðèo Le . Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai. Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt le lươĩ.

28.-Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông. Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn , Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn , Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu , Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh . Hàn tức là tên cũ cuả Ðà nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðànẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ,chờ chàng về.

29.- Kể từ đồn Nhứt kể vô, Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô , xuống Hàn, Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang . Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra. Ngó lên chợ Tổng bao xa, Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu. Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm. Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm , Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ .

Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

30- Kể cầu Ông Bộ kể ra, Cây Trâm ,Trà Lý, bước qua Bàu Bàu, Tam kỳ, Chợ Vạn bao lâu, Ngó qua đường cái, thấy lầu Ông Tây, Chiên Ðàn , Chợ Mới là đây, Kế Xuyên mua bán, đông, tây rộn ràng Hà Lam gần sát Phủ Ðàng, Phiá ngoài bãi cát , Hương An nằm dài , Cầu cho gái sắc, trai tài . Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hòang Các địa danh trên đây, kể từ trong kể ra, Lầu ông Tây tức là nhà lầu của Viên Ðại lý Hành Chánh Pháp đóng ở Tam Kỳ, còn Chợ Mới, Chợ Vạn, Kế Xuyên, Chiên Ðàn là những tụ điểm thương mãi quanh Tam kỳ.

31.- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be . Thiếp nói thì chàng phải nghe, Thức khuya, dậy sớm, làm che l ngày 12 xu, Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo , Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau, Lạy trời, mưa xuống cho mau. Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 32- Quế Trà My thứ cay thứ ngọt Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh Phàn du, bạch chỉ rành rành Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

33- Kể từ Ðồn Nhất kể vô Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra Ngó lên chợ Tổng bao xa Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp Năm Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm, Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

34- Đá than thì ở Nông Sơn Bông Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè Thanh Châu buôn bán nghề ghe Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà Phú Bông dệt lụa, dệt sa Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng

35- Nhớ cô dệt đũi chợ Chùa Rượu ngon chợ Vạn bốn mùa anh say

36- Phú Lộc ngan ngát hương thơm Ai đi đến đó chiều hôm quên về

37- Nhất Phước Kiều đám ma Nhì Thanh Hà nhà cháy

38- Ai về Chợ Vạn thì về Chợ Vạn có nghề nấu rượu, nuôi heo

39Ai về Bàu Ấu thì về Bầu Ấu có nghề đan giỏ, cào nghêu

Ai về Trà Quế mà coi Trà Quế có nghề giâm giá đậu xanh

40- Bảo An có thợ nấu đường Vừa vôi, thén khéo chẳng nhường nhịn ai

-41 Quê em có núi Ngũ Hành Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.

42- Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi Thương cha nhớ mẹ thì về Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng

Cập nhật thông tin chi tiết về Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!