Xu Hướng 2/2023 # Tấm Lòng Của Bác Hồ Với Phụ Nữ Việt Nam # Top 3 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tấm Lòng Của Bác Hồ Với Phụ Nữ Việt Nam # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Tấm Lòng Của Bác Hồ Với Phụ Nữ Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tuổi trẻ Tỉnh Hà Tĩnh xung kích, năng động, sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Người khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”, làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới và chỉ làm cách mạng giải phóng dân tộc để có độc lập dân tộc thì phụ nữ mới được giải phóng.

Khi đất nước đắm chìm trong đêm trường nô lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, chú ý đến người phụ nữ. Bởi phụ nữ là lớp người khổ nhất trong những “người cùng khổ”. Họ không những phải chịu đựng nỗi đau của một người dân mất nước, bị tước đoạt hết các quyền tự do, dân chủ mà còn bị ngược đãi, chà đạp lên cả phẩm giá con người. Người căm ghét bọn thống trị đã “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ, xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ”.

 

Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất của thực dân Pháp đó là chế độ “ăn cướp và giết người”, “hãm hiếp đàn bà và trẻ nhỏ”. Người đã tố cáo những hành động phi nhân tính của bọn thực dân xâm lược đối với phụ nữ: “Một người Âu mắng phụ nữ An Nam là con đĩ, con bú dù là một việc thông thường. Ngay giữa chợ Bến Thành ở Sài Gòn… bọn gác chợ người Âu cũng không ngần ngại dùng roi gân bò, dùi cui đánh người phụ nữ bản xứ bắt họ tránh không làm nghẽn lối đi”

Xuất phát từ lòng nhân ái bao la và sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau khổ tột cùng mà người phụ nữ phải gánh chịu dưới chế độ thực dân, phong kiến nên Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu bức thiết phải giải phóng “nửa thế giới” khỏi “xiềng xích nô lệ”. Người xác định: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”.

Đây chính là một trong những động lực giúp Người vượt qua mọi khó khăn, thử thách để cùng với toàn Đảng và toàn dân ta lật đổ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm thực hiện “nam nữ bình quyền”.

 

Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vui mừng được gặp Bác Hồ 25/11/1965.

Ngay trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày mồng 6 tháng 01 năm 1946, Người vui sướng nhận ra rằng “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, mặc dầu bận trăm công ngàn việc nhưng Bác vẫn luôn giành cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam sự quan tâm, yêu thương, tôn trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vị trí, vai trò của người phụ nữ đối với tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người đã khẳng định:”Phụ nữ ta chẳng tầm thường. Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”. Vì vậy, Người luôn tự hào: “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng… Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng”. Nhân kỷ niệm ngày khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế phụ nữ (8/3/1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên, khen ngợi chị em phụ nữ. Cuối bức thư Người khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phụ nữ là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng.

 

Bác Hồ với đại biểu dự Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III, tháng 3/1961.

Tại Lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến truyền thống yêu nước đầy tự hào của người Phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước, cứu dân, cho đến ngày hôm nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Người đã thấu hiểu được sự vất vả, hy sinh thầm lặng của phụ nữ Việt Nam trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Không những tham gia kháng chiến mà họ còn phải cáng đáng việc nhà để chồng con yên tâm đi đánh giặc. Ruộng nương, vườn tược, nhà cửa, chăm sóc nuôi dạy con cái, phụng dưỡng cha mẹ… đều đổ dồn lên đôi vai gầy yếu của các chị, các mẹ. Do đó nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta. Ghi nhận những cống hiến to lớn của chị em trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc, Bác đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng cao quý: “Anh hùng – Bất khuất-  Trung hậu – Đảm đang”.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Người nhận thấy rằng phụ nữ có nhiều khả năng làm lãnh đạo, có nhiều phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ở từ cơ sở đến trung ương, nhiều người rất giỏi, ưu điểm của cán bộ nữ là “ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách, mệnh lệnh như một số cán bộ nam”. Vì vậy Đảng, Chính phủ và các cấp, các ngành phải đặc biệt chú ý, cất nhắc phụ nữ vào đúng những vị trí, chức vụ phù hợp với khả  năng để chị em có điều kiện phát huy năng lực của mình.

Người đã thẳng thắn phê bình một số cán bộ của Đảng chưa đánh giá đúng về vai trò, vị trí của phụ nữ và xem đây như một “căn bệnh hết sức nguy hiểm”, là một tàn dư tồi tệ nhất của chế độ cũ nên Người yêu cầu phải kịp thời sữa chữa.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng hoa phong lan cho ba đại biểu nữ dân quân Quảng Bình và Vĩnh Linh, năm 1968.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thường xuyên động viên, nhắc nhở chị em phải cố gắng vươn lên để “tự giải phóng mình” chứ không được trông chờ vào Đảng và Chính phủ. Một lần, tới một hội nghị, thấy phụ nữ ngồi hết ở dãy ghế cuối. Bác nói: Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải đợi Đảng và Chính phủ hay nam giới mời lên ngồi mới ngồi mà phải tự đấu tranh, phấn đấu giành lấy. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải chủ động quyết tâm, khắc phục, khó khăn, tự tin, tự lực, tự cường, không nên tự ti. Phải gắng học tập chính trị, học tập văn hóa kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa; hăng hái thi đua thực hiện “Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình” để xứng đáng là người làm chủ nước nhà.

Người đã dành trọn vẹn cả cuộc đời mình cho dân, cho nước. Trước khi “vĩnh biệt ánh mặt trời” để về với Mác – Lê nin, Bác đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc lịch sử. Trong đó Người không quên nhắc tới phụ nữ Việt Nam: “… Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hỏi chị em dân công lao động đào mương chống hạn ở Từ Liêm, Hà Nội, ngày 16/12/1958.

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai.

Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiêu kêu gọi “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một mục tiêu của cách mạng.

Trong di chúc, Bác viết “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ, phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây thực sự là một cuộc cách mạng”.

Sự quan tâm của Bác Hồ với phụ nữ Việt Nam thật nhân ái bao la. Bác từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi (Đường Kách Mệnh).

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao huy hiệu cho đại biểu có nhiều thành tích tại Đại hội Những người xuất sắc trong phong trào Ba đảm đang của phụ nữ Thủ đô ngày 2-12-1965.

Trong lần nói chuyện với đại biểu nhân dân Nghệ An dịp về thăm quê ngày 14-6-1957, khi nói đến những thành tích của tỉnh trên lĩnh vực nông nghiệp, Bác nhấn mạnh đến vai trò của chị em phụ nữ, Bác nói: “Tôi muốn nêu một công trạng của chị em phụ nữ tỉnh ta. Đó là phong trào chăn nuôi gia súc”. Bác khen: Phụ nữ Anh Sơn, Nghi Lộc phong trào nổi trội hơn và Bác căn dặn phụ nữ Anh Sơn, Nghi Lộc phải cố gắng hơn nữa, để có kết quả cao hơn, để làm mẫu, làm gương cho chị em khác cùng thi đua. Còn chị em các huyện khác phải thi đua cho kịp với chị em Anh Sơn, Nghi Lộc…

Tiếp đó, Bác biểu dương chị Trương Thị Tâm ở Nghĩa Đàn một mình nuôi 300 con gà, 4 con lợn, chị còn làm ruộng, tham gia công tác xã hội, làm tổ trưởng phụ nữ. Bác nói “Đây là một phụ nữ anh hùng… Anh hùng không phải “Đông chinh Tây phạt”, hoặc cứ làm cái gì kỳ khôi xuất chúng. Nuôi được nhiều lợn, nhiều gà, tăng gia sản xuất, tiết kiệm, tham gia công tác xã hội tốt, như thế là anh hùng, như thế là chiến sĩ”… “Các chị em ở đây cứ cố gắng thì ai cũng có thể làm anh hùng, chiến sĩ”. Những lời căn dặn của Bác thật cụ thể, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc. Làm theo lời Bác để trở thành anh hùng, chiến sĩ không phải chuyện gì quá xa xôi. Mỗi chị em chúng ta hãy làm tốt những việc giản dị, bình thường hàng ngày trong gia đình, thôn xóm, bản làng, cơ quan, đơn vị.

Ngày 9/12/1962, Bác đến thăm nhà máy Cơ khí Vinh. Nói về những sáng kiến trong cải tiến sản xuất của công nhân nhà máy, Bác hỏi “thế thì các cháu trai có sáng kiến nhiều hơn hay các cháu gái có sáng kiến nhiều hơn?”. Được biết các cháu trai có nhiều sáng kiến hơn, Bác nhẹ nhàng động viên “Các cháu gái phải cố gắng”.

 

Bác Hồ về thăm quê Kim Liên, Nghệ An năm 1961.

Trong những năm qua, không phụ lòng tin yêu và sự kỳ vọng của Bác, chị em phụ nữ cả nước nói chung và phụ nữ Nghệ An nói riêng đã ra sức học tập, rèn luyện, vươn lên khẳng định vai trò và vị thế của mình trong xã hội. Đảng và Nhà nước ta cũng luôn tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ, thông qua các chủ trương, chính sách về phụ nữ, về bình đẳng giới nhằm phát huy vai trò của phụ nữ. Không chỉ là những người vợ, người mẹ đảm đang trong gia đình, nhiều phụ nữ đã đạt được những thành tích nổi bật, được xã hội ghi nhận trong nhiều lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ… 

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của chị em phụ nữ cả nước, công tác phụ nữ trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng và phát triển đất nước. Ðể phong trào phụ nữ tiếp tục phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các cấp ủy đảng, chính quyền, các bộ, ban, ngành và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần phối hợp, tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hội cống hiến nhiều hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ mới, xứng đáng với tám chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tặng phụ nữ Việt Nam.

Thơ Bác Hồ Viết Về Phụ Nữ

Thơ ca viết về phụ nữ của Bác trước hết là biểu hiện tấm lòng của Bác, một tấm lòng rộng mở, yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm và cảm thông.

Nhà sử học người Mỹ Giôxơphin Stensen trong một tham luận đọc tại hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3/1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ là nam giới như Tômát Giecphécsơn, Mahátma Găngđi, Vlađimia Elích Lênin, Các Mác, Mao Trạch Đông, Máctin Lôthơ Kinh và Nenxơn Manđêla, chỉ có Hồ Chí Minh là luôn luôn nói về quyền bình đẳng của người phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như của nam giới.

Ngày nay, không phải chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, nhân loại đều nhất trí khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quan tâm sâu sắc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và đấu tranh quyết liệt giải phóng phụ nữ. Chính Người đã gắn cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với con đường đi tới bình đẳng, tự do và phát triển của phụ nữ.

Bác Hồ chụp ảnh với đại biểu Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam dự Đại hội Đảng lần thứ 2 (1956) tại Việt Bắc. (Ảnh: Tư liệu)

Thơ ca viết về phụ nữ của Bác trước hết là biểu hiện tấm lòng của Bác, một tấm lòng rộng mở, yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm và cảm thông. Ba bài thơ Cô Vượng khuyên chồng, Thư vợ gửi chồng, Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng viết trước cách mạng Tháng Tám cho thấy sức cảm thông, thấu hiểu đối với phụ nữ của Bác là rất lớn. Đọc những bài thơ này cứ tưởng như đọc những bài thơ của chính phụ nữ viết vậy. Người phụ nữ trong xã hội cũ chịu khó, chịu khổ nhẫn nhịn, lặng lẽ hy sinh cho chồng con, cho gia đình yên ấm phát triển. Lời tâm sự của người vợ với chồng:

Đói no bữa cháo bữa rau

Tuy lao khổ em dám đâu phàn nàn

(Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng)

Và:

Thù nước, thù nhà chàng gắng trả,

Việc nhà, việc cửa, thiếp xin đương.

(Thư vợ gửi chồng)

Ý thức về bổn phận, về trách nhiệm và sự chịu đựng là phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Các chị biết hy sinh, biết chịu đựng nhưng các chị cũng biết đón chờ hạnh phúc, niềm vui:

– Bao giờ đuổi sạch quân thù địch,

Ta sẽ sum vầy ở Cố hương.

(Thư vợ gửi chồng)

– Mai sau anh trở lại nhà,

Ánh trăng càng tỏ màu hoa càng nồng

(Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng)

Phải thực sự cảm thông, phải đồng cảm lắm mới có những câu thơ bật ra từ trái tim như thế. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị, hồi ở trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác cũng đã viết ba bài thơ (trong số 6 bài viết về phụ nữ của Nhật ký trong tù) về tình cảnh đáng thương trong hoạn nạn, tai ương của mấy cặp vợ chồng. Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Gia quyến người bị bắt, toàn những con người và sự việc mà Bác chứng kiến, bài thơ nào cũng da diết một tình thương yêu, một sự cảm thông chia sẻ. Những người phụ nữ này chẳng phải là con cháu, là anh em ruột thịt, là đồng bào cùng Tổ quốc với Bác, họ lại còn là người đồng hương với những người đang ngày đêm hành hạ, đọa đầy, vậy mà Bác rất thương. Tình thương của Bác trùm lên khắp thế gian. Ai là người cực khổ, là người nhỏ bé trong xã hội Bác đều thương. Cảm thương với nỗi đau của người vợ mất chồng, bài thơ Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng đâu còn là lời của người làm thơ nữa mà là lời của người trong cuộc cơ sự vì sao vội lánh đời?. Để thiếp từ nay đâu thấy được thì rõ là đã nhập cái đau vào mình vậy. Một cảnh tượng thương tâm, đau xót khác, một người vợ vô tội bỗng nhiên phải ngồi tù thay vì chồng chị ta trốn đi lính làm bia đỡ đạn bảo vệ bọn cường quyền:

Biền biệt anh đi không trở lại,

Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;

Quan trên xót nỗi em cô quạnh,

Nên lại mời em tạm ở tù.

(Gia quyến người bị bắt lính)

Một chế độ xã hội vô lý, vô nhân, trớ trêu và oái oăm đến thế là cùng. Đọc bài thơ Gia quyến người bị bắt lính không thể không liên tưởng đến một cảnh tượng dã man mà Bác đã lên án gay gắt trong Bản án chế độ thực dân Pháp viết từ năm 1925. Trong Bản án này, Bác dành hẳn một chương riêng Những nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ mô tả tỉ mỉ những thân phận, những bà, những chị, những cháu bé gái hàng ngày, hàng giờ bị các quan thực dân áp bức, đầy đọa. Một tên Tây đoan ở tỉnh Bà Rịa, tự cho phép mình đánh gần chết người đàn bà chuyên gánh muối thuê cho hắn vì chị ta vô ý làm ồn ngoài hiên khiến hắn mất giấc ngủ trưa. Một tên Tây đoan khác ngang nhiên co chân đạp vào giữa bụng một chị phụ nữ đang mang thai, làm chị bị trụy thai và mấy ngày sau thì chết chỉ vì khi chào đã không gọi hắn là quan lớn. Căm phẫn trước tội ác dã man của bọn thực dân, Bác lên án đanh thép: Người ta nói: Chế độ thực dân là chế độ ăn cướp. Chúng tôi nói thêm: chế độ hãm hiếp đàn bà và giết người.

Trong một tác phẩm khác, Lên án chủ nghĩa thực dân, Bác đã vạch trần những hành động bạo ngược của bọn xâm lược: Không một chỗ nào, người phụ nữ thoát khỏi những hành động của bọn xâm lược; ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay ở chốn thôn quê, ở đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của các quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga…

Bất công, ngược đãi, ức hiếp phụ nữ, là bản chất của chế độ thực dân phong kiến ở bất cứ đâu, bất cứ nước nào. Bác đã lớn tiếng tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân tàn bạo đối với phụ nữ ở khắp các châu lục, Bác đã dành sự quan tâm và tình thương lớn cho phụ nữ. Tình cảm sâu sắc nhất của Bác luôn hướng về số phận đau thương của phụ nữ. Nhưng tình cảm đó không một chiều, không bao giờ làm cho phụ nữ bé nhỏ đi. Cùng với tình thương, Bác luôn tìm mọi cách thức tỉnh giác ngộ và khích lệ người phụ nữ tự chủ trong cuộc đời riêng đứng lên trong cuộc đời chung. Trong bài Ca phụ nữ, Bác biểu dương phụ nữ tham gia công tác cách mạng, Bác ca ngợi tinh thần cách mạng, ca ngợi tinh thần dũng cảm của chị em.

Một khi phụ nữ đã đứng lên thì mọi sức mạnh được phát huy. Lời người vợ trong bài Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng thật rắn rỏi trong một tình thế người chồng hoạt động cách mạng không may sa vào lưới giặc, bị bắt vào tù, người vợ nguyện tiếp bước con đường đi của chồng.

Vì anh tranh đấu mấy phen,

Vì anh mong giải phóng cháu Tiên, con Rồng.

Em xin anh chớ phiền lòng

Em tuy hèn yếu quyết thay chồng đấu tranh.

Ý thức về mình bao giờ cũng tự có trong bản thân người phụ nữ, chỉ có điều, nó bộc lộ và phát huy như thế nào, trong những hoàn cảnh nào, trường hợp nào.

Thời kỳ Mặt trận Việt Minh do yêu cầu khẩn thiết tập hợp lực lượng, Bác tha thiết kêu gọi phụ nữ:

Bây giờ cơ hội đã gần

Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân cứu nhà.

Chị em cả trẻ lẫn già,

Cùng nhau đoàn kết để mà đấu tranh.

Đua nhau vào Hội Việt Minh,

Trước giúp nước sau giúp mình mới nên.

(Ca phụ nữ)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu phụ nữ tham dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ I, tháng 5/1952. (Ảnh: Tư liệu)

Phụ nữ đã làm theo lời Bác, tự nguyện tự giác tham gia Mặt trận Việt Minh, cùng toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà giành độc lập tự do. Để phát huy sức mạnh và tài năng phụ nữ, trong thơ ca Bác đã làm sống dậy những trang sử hào hùng của phụ nữ trong lịch sử dân tộc. Đó là Hai Bà Trưng phất cao cờ khởi nghĩa rửa sạch mối hận thù chồng nợ nước. Đó là Bà Triệu anh hùng, tài năng dũng cảm, cưỡi voi xung trận đuổi quân xâm lược. Đó là nữ danh tướng Bùi Thị Xuân dũng mãnh trăm trận trăm thắng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, vai trò và sức mạnh của phụ nữ càng được phát huy, phụ nữ được giải phóng, phụ nữ có mặt ở mọi nơi, trên khắp các mặt trận. Bác rất tự hào về những tấm gương phụ nữ anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi khi chị em phụ nữ lập chiến công hoặc đạt thành tích xuất sắc, Bác động viên, biểu dương và khen ngợi kịp thời. Chị Nguyễn Thị Bưởi (tức Anh hùng liệt sĩ Mạc Thị Bưởi) hy sinh anh dũng, Bác viết bài thơ Nữ Anh hùng Nguyễn Thị Bưởi tỏ lòng khâm phục và ca ngợi tinh thần hăng hái xung phong đi đầu trong mọi công việc, mưu trí, dũng cảm và kiên cường bất khuất trước quân thù. Bài thơ như một chuyện kể rất mực giản dị:

Việc gì chị cũng xung phong

Khi đánh giặc, khi giao thông;

Tuyên truyền tổ chức, chị không ngại nề.

Một hôm trên đường đi khai hội trở về chị bị địch phục kích bắt, chúng tra tấn dã man và dùng những thủ đoạn đê hèn làm nhục chị, nhưng chị không một lời khai, lại còn dùng mưu trí đánh lừa địch, kịp thời báo tin cho đồng đội cất giấu tài liệu bí mật của Đảng. Do không lung lạc, không khuất phục được, chúng đã đem chị ra hành hình một cách man rợ:

Đứa dao khoét vú đứa chân dẫm đầu,

Đứa thì tay đỡ chậu thau,

Đứa thì mổ bụng từ đầu đến chân.

Chị vẫn một lòng một dạ trung thành với cách mạng, tiến công địch cho đến giây phút cuối cùng của đời mình Hô to khẩu hiệu chửi quân bạo tàn. Chị Bưởi đã trở thành người phụ nữ kiên cường, bất khuất. Bài thơ kết thúc, Bác nêu cao tấm gương Anh hùng Mạc Thị Bưởi:

Nêu gương oanh liệt muôn đời ngàn sau

Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân Mậu Thân 1968, được tin các cháu dân quân gái thành phố Huế lập chiến công, Bác xúc động có thơ khen:

Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,

Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.

Bác khen các cháu dân quân gái,

Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.

(Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế)

Bác thực sự coi phụ nữ là lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Một khi phụ nữ được giác ngộ, được giải phóng họ sẽ phát huy tất cả tài năng và sức mạnh to lớn của mình. Từ thực tiễn, Bác khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà tốt đẹp, rực rỡ”.

Bác tôn trọng phụ nữ, đề cao vai trò phụ nữ và chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ. Bác coi việc giải phóng phụ nữ là mục tiêu của cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc. Tương lai phát triển của phụ nữ đi cùng với bước tiến của đất nước.

Trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến, khẩu hiệu vừa chiến đấu vừa sản xuất mà Bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động cụ thể, là việc làm hàng ngày. Bác nêu điển hình trong Thư Bác Hồ gửi Mẹ Nguyễn Thị Đào, một bà mẹ vì nước, vì dân đã hiến dâng tất cả 6 người con cho Tổ quốc. Lời thơ trong thư là lời người mẹ mà cũng là lời non nước, tình nhà nghĩa nước quyện chặt, tiền tuyến hậu phương là một, hiện tại và tương lai kết nối, phơi phới tin yêu:

Con đi đi, đi đi con

Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng

Bao giờ kháng chiến thành công

Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai.

Biết bao tấm gương những mẹ, những chị, những em, những cháu gái đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làm nên những kỳ tích trong xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bác rất tâm đắc và luôn nhắc nhở mọi người câu nói của Mác: Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào. Bác đã tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Hơn ai hết, Bác Hồ là người thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ, thương yêu và tin tưởng phụ nữ; đề cao và phát huy vai trò, tài năng và sức mạnh của phụ nữ. Bác khẳng định, giải phóng phụ nữ đó là một cuộc cách mạng to và khó. Dù to và khó nhưng nhất định thành công.

Bác tin tưởng ở cách mạng, Bác tin ở phụ nữ, đã viết câu thơ về phụ nữ:

Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai.

Theo CHUYÊN MỤC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH (ĐÀI PT&TH AN GIANG)

Khúc Thị Lan Hương (st)

Tôn Vinh Người Phụ Nữ Việt Nam

TÔN VINH NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

20/10/2019

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường, dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và tinh hoa văn hoá dân tộc; là những người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản sinh ra những thế hệ anh hùng cho dân tộc.

Vào thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc có những nữ anh hùng đã được lưu danh vào sử sách như Bà Trưng; Bà Triệu với câu nói:

“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”

Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Minh Khai…

Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của nữ giới.

Năm 1930, trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, ở Nghệ An, Hà Tĩnh có 12.946 chị tham gia phụ nữ giải phóng, cùng nhân dân đấu tranh thành lập chính quyền Xô Viết ở trên 300 xã. Ngày 1/5/1930, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hơn 4.000 nông dân ở hai huyện Châu Thành, Mỹ Tho, trong đó có hàng ngàn phụ nữ tham gia.

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ.

Chính vì vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng nữ giới.

Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỉ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là “Ngày Phụ nữ Việt Nam”.

Đã trải qua 89 năm, ngày 20 tháng 10 vẫn còn nguyên giá trị nhằm tôn vinh và ghi nhận của đất nước với những người phụ nữ được Bác Hồ phong tặng tám chữ vàng “Cần cù, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.

– Ban Vì sự Tiến bộ Phụ nữ

– Đại cương Lịch sử Việt Nam

Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ

Thật vậy, người Việt Nam từ rất sớm đã có quan niệm hết sức nghiêm túcvề vấn đề tái sản xuất con người mà cụ thể là duy trì nòi giống. Truyềnthuyết Quả bầu mẹ của dân tộc Khơ mú kể rằng sau trận đại hồng thủy, mọingười trên thế gian đều chết hết, chỉ còn lại hai anh em nhà nọ. Họ bèn nghe lờichim thần lấy nhau để duy trì nòi giống. Hành động “loạn luân” này chẳngnhững không bị người đời sau lên án mà ngược lại còn được bày tỏ thái độ triân, đủ thấy trách nhiệm duy trì nòi giống được ông cha ta coi trọng đến mứcnào.Trong công việc duy trì nòi giống thì giống cái giữ vai trò chính còn giốngđực chỉ giữ vai trò phụ. Bởi vậy mà các hình tượng thuộc tín ngưỡng phồn thựcđược tôn thờ phần lớn là các bộ phận sinh dục nữ. Ngay cả ông Địa, đã gọi là“ông” mà vẫn được mang hình tướng y hệt người phụ nữ có mang sắp sinh.Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, vai trò sinh đẻ của người phụ nữ luônđược đề cao:– Con chim se sẻ nó đẻ cột đìnhBà ngoại đẻ má, má đẻ mình em ơi– Có chồng mà chẳng có conKhác gì hoa nở trên non một mình

Bởi vậy mà ngày xưa đàn ông chọn vợ rất coi trọng tiềm năng sinh sản:– Đàn ông không râu bất nghìĐàn bà không vú lấy gì nuôi con– Những người thắt đáy lưng ongĐã khéo chiều chồng lại khéo nuôi conNhững người phụ nữ không có khả năng sinh con bị xem là có tội, chồngcó thể đi lấy vợ khác, thậm chí người vợ đó phải chủ động đi cưới vợ khác chochồng để nối dõi tông đường. Những người phụ nữ không con, do đó, càngthêm bất hạnh, bị rẻ rúng, khinh khi: “Cây độc không trái, gái độc không con”.Xây dựng nề nếp gia phongNuôi dạy con cáiTrong gia đình Việt Nam, người phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong việcnuôi dạy con cái, được xem là “nội tướng”, người nội trợ trong gia đình. Chínhngười mẹ đã mang nặng đẻ đau và nuôi dạy con khôn lớn:– Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưaMiệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương– Gió mùa thu mẹ ru con ngủNăm canh chầy thức đủ vừa nămChẳng những nuôi lớn phần xác, mẹ còn nuôi lớn con phần hồn bằng lờiru nồng nàn tình nghĩa và dạy dỗ con nên người:

– Phúc đức tại mẫu– Mẹ ngoảnh đi, con dại; mẹ ngoảnh lại, con khôn– Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khônKhi con cất tiếng nói bi bô đầu đời, người mẹ cảm thấy vô cùng hạnhphúc:Có vàng vàng chẳng hay phôCó con, con nói trầm trồ mẹ ngheKhi con lớn lên một chút, chính mẹ là người chỉ bảo, dìu dắt con đi trênmọi bước đường:Ví dầu cầu ván đóng đinhCầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó điKhó đi mẹ dắt con đi…Chính vì vậy mà người mẹ, người bà chịu hoàn trách nhiệm về đứa con,đứa cháu của mình: “Con dại cái mang”, “Mẹ nào con nấy”, “Con hư tại mẹ,cháu hư tại bà”… Hầu như tạo hóa sinh ra người phụ nữ là để hy sinh chochồng con:Có con phải khổ vì conCó chồng phải gánh giang sơn nhà chồngSo với cha thì công lao của người mẹ thường nặng hơn nhiều: “Cha sinhkhông bằng mẹ dưỡng”. Bởi vậy mà mồ côi cha vẫn không khổ bằng mồ côimẹ:

Mồ côi cha ăn cơm với cáMồ côi mẹ liếm lá đầu chợTình phụ tử sâu nặng đã đành, nhưng tình mẫu tử lại có thêm sự cảmthông sâu sắc:Chiều chiều ra đứng ngõ sauTrông về quê mẹ ruột đau chín chiềuVẳng nghe chim vịt kêu chiềuBâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đauMá ơi đừng gả con xaChim kêu vượn hú biết nhà má đâuNgười mẹ đặc biệt lo cho tương lai hạnh phúc của con gái khi đến tuổi lấychồng:Mẹ mong gả thiếp về vườnĂn bông bí luộc, dưa hường nấu canhLời mẹ căn dặn con gái trước khi về nhà chồng thật tha thiết, cho thấytrách nhiệm nặng nề của người phụ nữ:Con gái lớn ơi, mẹ bảo đây nàyHọc buôn học bán cho tày người taCon đừng học thói chua ngoaHọ hàng ghét bỏ, người ta chê cười…Con ơi, nhớ bấy nhiêu lờiChính vì gắn bó nhiều với mẹ nên đứa con cũng dễ gắn bó và yêu thươngbên ngoại. Nếu đứa con gắn bó bên nội chủ yếu là ở quan niệm về huyết thốngthì lại gắn bó với bên ngoại chủ yếu là ở tình cảm. Nếu có gặp biến cố lớn tronggia đình thì đứa con thường trôi dạt về quê ngoại như “lá rụng về cội”: “Tấn vềnội, thoái về ngoại”, “Cháu bà nội, tội bà ngoại”. Riêng giữa cháu và bà ngoạiluôn có một mối tình đặc biệtGìn giữ hạnh phúc gia đìnhVai trò này chủ yếu thể hiện trong mối quan hệ với chồng mà trước hết làviệc “chiều chồng”. Người phụ nữ Việt Nam có truyền thống yêu thương chồngtha thiết, vượt trội hẳn tình yêu thương của chồng:– Gái thương chồng đương đông buổi chợTrai thương vợ nắng quái chiều hôm– Chồng em áo rách em thươngChồng người áo gấm xông hương mặc ngườiTrong gia đình, người phụ nữ luôn hết lòng chăm lo cho chồng như mộtngười phục vụ nhiệt tình:Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vânNay anh học gần, mai anh học xaLấy chồng từ thuở mười baViệc cửa việc nhà anh bỏ cho tôi

Tuy là phái yếu nhưng họ lại luôn có ý thức che chở cho chồng:– Trời mưa ướt lá trầu vàngƯớt em em chịu, ướt chàng em thương– Em nghe anh đau đầu chưa kháEm băng đồng chỉ sá hái ngọn lá cho anh xôngƯớc chi nên đạo vợ chồngĐổ mồ hôi thì em quạt, ngọn gió lồng thì em cheNhững hành động cao cả nói trên tóm lại là ở đức hi sinh cao cả của người phụnữ Việt Nam, trước hết là đối với chồng:Thương chồng nên phải lội sôngVì chồng nên phải ăn ròng bẹ mônSo với nam giới thì người phụ nữ Việt Nam có truyền thống thủy chunghơn nhiều:– Chưa chồng đi dọc đi ngangCó chồng thì thẳng một đàng mà đi– Có chồng thì phải theo chồngChồng đi hang rắn hang rồng cũng theoNgay cả khi chồng ruồng bỏ, họ vẫn nhẹ nhàng van lơn một cách khiêmnhường, từ tốn:Chàng ơi phụ thiếp mà chiThiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòngĐặc biệt, khi chồng giận dữ, vai trò dàn xếp của người vợ vô cùng quantrọng:Chồng giận thì vợ bớt lờiCơm sôi nhỏ lửa mấy đời cơm khêLàm kinh tếNgười phụ nữ Việt Nam là trung tâm kinh tế của gia đình. Họ vừa là thủquỹ (“Trai có vợ như giỏ có hom”), vừa là người cân đối chi tiêu. Người vợhiền thục, đảm đang là thứ tài sản vô cùng quý giá của chồng:Làm trai lấy được vợ hiềnNhư cầm đồng tiền mua được của ngonVề hình thức thì gia đình Việt Nam có vẻ nam quyền, như thực chất lại rấtbình đẳng, thậm chí tiếng nói của người vợ là quyết định:– Lệnh ông không bằng cồng bà– Ông tha mà bà chẳng thaLàm nên cái lụt hăm ba tháng mườiChính vì vậy mà lối sống “sợ vợ” trở nên hết sức phổ biến trong xã hộiViệt Nam. Người vợ đóng vai trò không nhỏ trong mọi thành công của chồng:“Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ”. Tài sản trong gia đình có được cũng là nhờ “củachồng công vợ”. Vợ là người đồng chí của chồng:Vợ chồng như đôi cu cu

Chồng thời đi trước, vợ gật gù theo sauMọi việc trong nhà, dù nặng hay nhẹ, đều có sự góp công của người phụnữ thì mới thành công: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. Hìnhảnh “Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa” trở nên vô cùng quen thuộc trong tâmthức người Việt Nam. Bởi vậy, cảnh người đàn ông làm lụng dãi dầu lẻ loi mộtmình bao giờ cũng lạ lẫm:Chú kia mà vợ chú đâuChú đi bắt ốc hái rau một mìnhÁp lực công việc trong gia đình luôn đè nặng lên đôi vai người phụ nữ:Có chồng chẳng được đi đâuCó con chẳng được đứng lâu một giờ.Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn gắn liền với việc thức khuya dậysớm:Nửa đêm ân ái cùng chồngNửa đêm về sáng gánh gồng ra điKhi chồng đi xa hay qua đời, người vợ phải vừa làm dâu, vừa làm mẹ, vừalàm cha để quán xuyến mọi công việc trong gia đình:Con thơ tay ẵm tay bồngTay dắt mẹ chồng đầu bạc như bôngĐấu tranh chống ngoại xâmNgay từ buổi đầu chống ngoại xâm, người phụ nữ Việt Nam đã thể hiệnvai trò đặc biệt, thậm chí đi đầu của mình. Họ không phải chỉ biết chăm lo chogia đình mà khi cần cũng sẵn sàng xả thân vì nước vì nhà. Tấm gương BàTrưng, Bà Triệu là điển hình cho truyền thống “Giặc đến nhà đàn bà cũngđánh”:Vú dài ba thước giắt lưngCưỡi voi gióng trống trong rừng chạy raCũng toan gánh vác sơn hàCho Ngô biết mặt đàn bà Việt NamĐặc biệt, qua lời ru nồng nàn, người phụ nữ đã hun đúc cho con truyềnthống yêu nước chống ngoại xâm:Ru con, con ngủ cho lànhĐể mẹ gánh nước rửa bành con voiMuốn coi lên núi mà coiCó bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồngĐể đối mặt với kẻ thù, người phụ nữ Việt Nam chân yếu tay mềm nhưngsẵn sàng luyện tập võ nghệ để trở thành anh hùng:– Ai vô Bình Định mà coiCon gái Bình Định đánh roi đi quyền– Ai về Cao Lãnh mà coiCon gái Cao Lãnh bỏ roi đi quyền

Khi kẻ thù giày xéo quê hương, người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng xông ratrận tiền diệt lũ bán nước và cướp nước:Gái Ba Tri mày tằm mắt phụngGiặc tới nhà chẳng vụng huơ daoNhưng phổ biến nhất là vai trò tiếp tế hậu cần của người phụ nữ trongcông cuộc chống ngoại xâm:Con ơi con ngủ cho ngonĐể mẹ tiếp tế ba con đánh thùKết luậnTừ trong truyền thống, người phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò lớn laotrong gia đình và xã hội. Hình ảnh người mẹ, người bà, người chị hiện lên trongtâm thức dân tộc như một biểu tượng của tinh thần chăm chỉ cần cù, chịuthương chịu khó và giàu đức hi sinh.Nhưng vượt lên tất cả, người phụ nữ Việt Nam có vai trò gìn giữ các giátrị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tạo hóa sinh ra họ như là đại diện cho bảnsắc văn hóa linh hoạt của dân tộc: vừa dịu dàng, vừa cứng cỏi; vừa là người chủtrong gia đình, lại vừa là người phục vụ; dù được tôn trọng nhưng vẫn không ỷlại. Chính vì vậy mà người phụ nữ trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam.Điều đó giải thích vì sao phần lớn các hình thức tín ngưỡng bản địa ở Việt Namđều gắn với yếu tố nữ và người phụ nữ trở thành đối tượng thông linh trong đờisống tâm linh của cư dân bản địa Việt Nam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tấm Lòng Của Bác Hồ Với Phụ Nữ Việt Nam trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!