Xu Hướng 2/2023 # Thành Ngữ Tiếng Anh Liên Quan Tới Mùa Đông # Top 11 View | Dtdecopark.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thành Ngữ Tiếng Anh Liên Quan Tới Mùa Đông # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Thành Ngữ Tiếng Anh Liên Quan Tới Mùa Đông được cập nhật mới nhất trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

To be on thin ice / to be at risk of annoying someone (idiom) : làm một việc gì đó nguy hiểm hoặc rủi ro mà dễ dẫn đến thất bại

Walking on thin ice (idiom) : ám chỉ một hoàn cảnh nguy hiểm, rủi ro 

To break the ice (idiom) : phá vỡ sự im lặng để bắt đầu một cuộc trò chuyện

Not a snowball’s chance in hell (idiom) : chỉ việc gì đó không có khả năng xảy ra

When hell freezes over (idiom) : chỉ chuyện gì đó không thể xảy ra

To give someone the cold shoulder (idiom) : tỏ ra không thân thiện, lạnh lùng

To leave someone out in the cold (idiom) : loại bỏ ai đó ra khỏi nhóm, bỏ mặc

To be snowed under with something / to be with too much work to deal with (idiom) : phải làm việc quá độ, hay bị lấn át, áp đảo, chế ngự

To put something on ice (idiom) : trì hoãn một việc gì đó

To be pure as the driven snow / to be completely innocent (idiom) : chỉ ai đó vô cùng trong sáng, lương thiện (thường được dùng với nghĩa mỉa mai)

To break into a cold sweat / to become scared about something (idiom) : bất chợt toát mồ hôi, chỉ ai đó lo lắng, sợ hãi

To do something in cold blood (idiom) : làm việc gì đó với ý định độc ác hoặc không có bất kỳ cảm xúc gì thường được mô tả là “máu lạnh”

To get cold feet (idiom) : sợ hãi, hồi hộp hay không thoải mái khi phải làm gì đó

To be out cold (idiom) : bất tỉnh đột ngột. 

Tip of the iceberg (idiom) : Chỉ là bề nổi của tảng băng, chỉ mới là sự bắt đầu

Cold hands, warm heart (idiom) : chỉ những người ngoài lạnh lùng nhưng bên trong thì ấm áp và biết chăm sóc người khác

Catch one’s death (idiom) : bị cảm lạnh

Dead of winter (idiom) : thời kỳ lạnh lẽo và đen tối của mùa đông

To cozy up to someone (idiom) : sưởi ấm cho ai đó

Brace youself , winter is coming (idiom) : hãy sẵn sàng cho mùa đông sắp tới

Lời Phật Dạy Liên Quan Đến Phụ Nữ

Mặc dù, thực sự Đức Phật nâng cao thân phận người phụ nữ, Ngài đã thể hiện qua sự giữ giới của Ngài và khuyên dạy các để tử từ thời này sang thời khác, nhưng Ngài vẫn nhận biết được sự khác biệt về vấn đề xã hội và sinh lý giữa người nam và người nữ vẫn còn tồn tại.

– Một người phụ nữ phẩm hạnh. (S.IV.250)

Ðược tăng trưởng với năm sự tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, một nữ Thánh đệ tử, được tăng trưởng trong Thánh tăng trưởng, nắm giữ được những lõi cây (căn bản, tinh vi), nắm giữ được những tốt đẹp nhất về thân. Thế nào là năm?

Tăng trưởng về lòng tin, tăng trưởng về giới hạnh, tăng trưởng về nghe nhiều (sutena), tăng trưởng về thí xả, tăng trưởng về trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, được tăng trưởng với năm sự tăng trưởng này, này các Tỷ-kheo, một nữ Thánh đệ tử được tăng trưởng trong Thánh tăng trưởng, nắm giữ được những lõi cây (căn bản, tinh vi), nắm giữ được những điểm tốt đẹp nhất về thân. (Tương Ưng Bộ Kinh 4. Tương Ưng Nữ Nhân. Phẩm Các Sức Mạnh. Phần Tăng Trưởng)

Này Visākhā, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời này. Ðời này rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Visākhā, nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc, biết thâu nhiếp các người phục vụ, sở hành vừa ý chồng, biết giữ gìn tài sản cất chứa. Này Visākhā, thế nào là nữ nhân có khả năng khéo làm các công việc?

Này Visākhā, đầy đủ bốn pháp, nữ nhân thành tựu sự chiến thắng ở đời sau. Ðời sau rơi vào tầm tay của nàng. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Visākhā, nữ nhân đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Và này Visākhā, thế nào là nữ nhân đầy đủ lòng tin? (Tăng Chi Bộ Kinh 4. Chương Tám Pháp. Phẩm Ngày Trai Giới. Phần Ở Đời Này)

– Sự gia nhập của người nữ vào Tăng đoàn. (A.IV)

Thân phận người phụ nữ ở xã hội Ấn Độ cách đây 2.500 năm thường được xem như hạ lưu. Họ không được phép đi học để mở mang kiến thức và tham gia vào các hoạt động tôn giáo để phát triển tâm linh.

Nhận biết được tình trạng bất công và không lành mạnh này, Đức Phật đã cho phép họ được tham gia vào những hoạt động tôn giáo. Họ được phép gia nhập vào tăng đoàn Tỳ-khưu ni (bhikkhunī) với điều kiện phải gìn giữ thêm tám giới do Đức Phật chế định ngoài những giới mà Đức Phật đã chế định cho Tỳ-khưu tăng trước đây.

Những giới này không cố ý làm giảm đi nhân cách của họ mà chỉ nhằm vào những khuyết điểm đặc biệt của giới nữ và để hướng dẫn họ hoàn thành tốt đẹp cuộc sống phạm hạnh không bị trở ngại. Đây là cơ hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà người phụ nữ được phép tham dự vào tập thể của tăng chúng.

Tám giới ấy là :

Dầu cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỷ-kheo-ni đối với một Tỷ-kheo mới thọ đại giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Tỷ-kheo-ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỷ-kheo. Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Nửa tháng một lần, Tỷ-kheo-ni cần phải thỉnh chúng Tỷ-kheo hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ-kheo-ni cần phải làm lễ Tự tứ trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được nghe và nghi. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Tỷ-kheo-ni phạm trọng tội phải hành pháp pakkhamānattaṃ (man-na-đọa) cho đến nửa tháng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Sau khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ túc giới trước hai Tăng chúng. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Không vì duyên cớ gì, một Tỷ-kheo-ni có thể mắng nhiếc, chỉ trích một Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

Này Ānanda, bắt đầu từ hôm nay, có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo về Tỷ-kheo-ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-ni về các Tỷ-kheo. Pháp này, sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, cho đến trọn đời không được vượt qua.

(Tăng Chi Bộ Kinh 4. Chương Tám Pháp. Phẩm Gotamī. Phần Mahāpajāpatī Gotamī)

– Năm khuyết điểm của phụ nữ. (S.IV.328)

Này các Tỷ-kheo, có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ nhất, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu điều đó khác biệt với đàn ông.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà có kinh nguyệt. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ hai, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải mang thai. Ðây là sự đau khổ riêng biệt thứ ba, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà phải sinh con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ tư, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà hầu hạ đàn ông. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ năm, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

Này các Tỷ-kheo, đây là năm đau khổ riêng biệt, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.

(Tăng Chi Bộ Kinh 4. Tương Ưng Nữ Nhân. Phẩm Đặc Thù. Phần Trung Lực)

– Năm sức mạnh làm cho người phụ nữ tin tưởng. (S.IV.248)

Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của người đàn bà. Thế nào là năm? Sức mạnh nhan sắc, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh.

Này các Tỷ-kheo, người đàn bà không do nhân nhan sắc, không do nhân tài sản, không do nhân bà con hay không do nhân con trai, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

Này các Tỷ-kheo, người đàn bà do nhân giới hạnh, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, đây là năm sức mạnh của người đàn bà.

(Tăng Chi Bộ Kinh 4. Tương Ưng Nữ Nhân. Phẩm Các Sức Mạnh. Phần Nhân)

– Nghiệp làm thành tựu ước nguyện của họ. (S.IV.249)

Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được. Thế nào là năm?

“Mong rằng tôi được sinh vào một gia đình thích đáng!” Này các Tỷ-kheo, đây là sự kiện thứ nhất thật dễ cho người đàn bà làm các công đức có thể thực hiện được.

“Sau khi được sinh vào một gia đình thích đáng, mong rằng tôi được đi đến (làm vợ) một gia đình thích đáng!” Này các Tỷ-kheo, đây là sự kiện thứ hai thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được.

“Sau khi được vào một gia đình thích đáng, sau khi được đi đến (làm vợ) một gia đình thích đáng, mong rằng tôi được sống trong một gia đình không có người vợ địch thủ!” Này các Tỷ-kheo, đây là sự kiện thứ ba thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được.

“Sau khi được sinh vào một gia đình thích đáng, sau khi được đi đến (làm vợ) một gia đình thích đáng, sau khi được sống trong một gia đình không có người vợ địch thủ, mong rằng tôi được sinh con trai!” Này các Tỷ-kheo, đây là sự kiện thứ tư thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được.

“Sau khi được sinh vào một gia đình thích đáng, sau khi được đi đến (làm vợ) một gia đình thích đáng, sau khi được ở trong một gia đình không có người vợ địch thủ, sau khi được sinh con trai, mong rằng tôi chinh phục được người chồng!” Này các Tỷ-kheo, đây là sự kiện thứ năm thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được.

Năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, thật dễ cho người đàn bà có làm các công đức có thể thực hiện được.

(Tăng Chi Bộ Kinh 4. Tương Ưng Nữ Nhân. Phẩm Các Sức Mạnh. Phần Sự Kiện)

– Có vài phụ nữ vẫn tốt hơn nam nhân. (S.I.89)

Một người đi đến vua Pasenadi nước Kosala và báo tin kề bên tai vua Pasenadi nước Kosala: “Thưa Ðại vương, hoàng hậu Mallikà đã sinh hạ được một người con gái”.

Khi được nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala không được hoan hỷ.

Rồi Thế Tôn, sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala không được hoan hỷ, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:

Này Nhân chủ, ở đời, Có một số thiếu nữ, Có thể tốt đẹp hơn, So sánh với con trai, Có trí tuệ, giới đức, Khiến nhạc mẫu thán phục. Rồi sinh được con trai, Là anh hùng, quốc chủ, Người con trai như vậy, Của người vợ hiền đức, Thật xứng là Ðạo sư, Giáo giới cho toàn quốc.

(Tăng Chi Bộ Kinh 1. Tương Ưng Kosala. Phẩm Thứ Hai. Phần Người Con Gái)

1. Sát nhân thê – vaddhakā bhariyā.

2. Đạo tặc thê – corī bhariyā.

3. Chủ nhân thê – ayyā bhariyā.

4. Hiền mẫu thê – mātā bhariyā.

5. Hiền muội thê – bhaginī bhariyā.

6. Bằng hữu thê – sakhī bhariyā.

7. Nô bộc thê – dāsī bhariyā.

(Tăng Chi Bộ Kinh 4. Chương Bảy Pháp. Phẩm Không Tuyên Bố. Phần Các Người Vợ)

– Năm cách để cho người vợ trở thành hoàn hảo. (A.III.36-37)

Đức Phật đã dạy cho những người con gái sắp lấy chồng năm điều để họ suy ngẫm :

Này các thiếu nữ, các Con hãy học tập như sau: “Ðối với những người chồng nào, mẹ cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi ngủ sau cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương.” Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.

Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: “Những ai, chồng ta kính trọng, như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ chỗ ngồi và nước.” Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.

Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: “Phàm có những công nghiệp trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở đây, chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm.” Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.

Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: “Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình”. Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.

Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: “Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, chúng ta cần phải phòng hộ, bảo vệ chúng, và sẽ gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại”. Như vậy, này các Thiếu nữ, các con cần phải học tập.

(Tăng Chi Bộ Kinh 3. Chương Năm Pháp. Phẩm Sumanā. Phần Người Gia Chủ)

Yassa bhariyā tulyavayā samaggā, Anubbatā dhammakāmā pajātā; Koliniyā sīlavatī patibbatā, Dāresu ve sotthānaṃ tadāhu.

Vợ hiền, đồng tuổi, có tình thân, Tận tụy, nhân từ, trẻ lại đông, Ðức hạnh, trung thành, dòng quý tộc, Ấy niềm hạnh phúc giữa hồng quần.

– Của hồi môn tốt đẹp nhất. (DhpA.53)

Của hồi môn tốt đẹp nhất mà cha mẹ có thể dành cho con gái mình là những lời giáo huấn được ghi lại trong chú giải kinh pháp cú qua những lời huấn dụ của cha nói với bà đại thí chủ Visākhā vào ngày bà lấy chồng :

Không đem lửa trong nhà ra ngoài. Không đem lửa ở ngoài vào nhà. Chỉ cho những người đáng được cho. Không cho những người không đáng cho. Cho cả hai hạng người, đáng cho và không đáng cho. Ngồi một cách vui vẻ. Ăn một cách vui vẻ. Ngủ một cách an lạc. Trông nom, gìn giữ lửa. Tôn trọng các vị trời ở trong nhà. Ngụ ý những lời dạy trên như sau :

Lửa ở đây ngụ ý những lời phỉ báng, vu cáo. Một người vợ không nên nói xấu chồng và gia đình chồng cho người khác nghe; cũng như không nên nói những khuyết điểm hay những cuộc cãi cọ ở trong nhà chồng cho người khác nghe.

Không nên nghe ngóng ở ngoài đường hay những người láng giềng nói xấu gia đình bên chồng rồi đem về nhà mà thuật lại cho gia đình bên chồng nghe. Chỉ nên cho người nào mượn mà biết rằng sẽ đem trả lại.

Không nên cho người nào mượn mà biết rằng người ấy thường mượn luôn không bao giờ hoàn trả lại.

Những thân bằng quyến thuộc nghèo khó thì nên giúp đỡ họ, cho dù biết rằng họ không thể trả lại được.

Ngồi một cách vui vẻ có nghĩa là khi thấy cha mẹ chồng, nên đứng dậy để tỏ lòng tôn kính chớ không nên ngồi im lặng. Những lời dạy này dành cho những người vợ biết khiêm nhường, biết lễ độ để biểu hiện sự kính trọng cha mẹ chồng.

Ăn một cách vui vẻ nghĩa là trước khi ăn cơm, hãy quan sát xem có những gì thiếu xót mà cha mẹ chồng cần khi ăn không; nếu có nên đi lấy mang đến dâng cho họ rồi mới được ngồi ăn. Và cũng nên chăm sóc miếng ăn cho tôi tớ trong nhà chu đáo nữa.

Ngủ một cách an lạc không có nghĩa là người vợ muốn ngủ bao lâu hay giờ giấc nào tùy thích mà ngụ ý là trước khi đi ngủ phải nên đi quan sát xem tất cả cửa nẻo đã đóng lại hết chưa, đồ đạc trong nhà được an toàn chưa, tôi tớ đã làm xong phận sự trong nhà chưa, cha mẹ chồng và chồng đã lên giường ngủ chưa, xong rồi mới nên đi ngủ. Một người vợ hiền phải nên thức dậy sớm trừ khi bị đau ốm hay không được khỏe và cũng không nên ngủ ban ngày.

Lửa ở đây ám chỉ cho cha mẹ chồng và chồng. Hãy đối xử với họ hết sức cẩn trọng như thể sử dụng lửa vậy, nếu vô ý sẽ bị phỏng hoặc nhiều tai hại khác nữa. Các vị trời trong nhà ở đây ý muốn nói đến cha mẹ chồng và chồng. Phải tỏ ra hết sức kính trọng họ. Chính ngay như Đức Phật khi đề cập đến cha mẹ bên vợ lúc Ngài còn là bồ tát thì Ngài vẫn xem họ như là chư thiên tại thế (sassudeva).

Theo phong tục phương Đông, người vợ xem chồng mình như ông vua. Theo lời dạy của Đức Phật thì người vợ được xem như là một người bạn tốt của chồng. Nhiệm vụ của người chồng là phải nên đối xử với vợ như một người thân cận mang đến lợi ích to lớn nhất và nên xem vợ như là tấm thân thứ hai của mình. Một người vợ đảm đang và chung thủy hết sức coi trọng chồng như là nơi nương tựa, che chở lý tưởng của mình.

Người vợ cũng không quên lo lắng đến nhữngbản phận trong đời sống đạo hạnh. Các vị Sa môn, Bà-la-môn đến nhà lúc hợp thời phải nên đối xử với họ một cách tôn kính. Phải tỏ ra niềm nở với các vị ấy.

– Sức mạnh tinh thần của người phụ nữ. (Apa.11.535)

Người nam luôn thể hiện sự ngờ vực về tinh thần của người nữ là không tin tưởng, ngay như sau khi biết được sự thành tựu của giáo hội Tỳ-khưu Ni là một minh chứng tốt đẹp được Đức Phật tán thán khi bà Gotamī viếng thăm và đảnh lễ Ngài vào thời điểm bà sắp Níp-bàn :

“Này Tỳ-khưu ni Gotamī, bà đã thực hiện tốt đẹp một cách kỳ diệu trong việc xóa tan mọi quan điểm sai lầm của những người nam ngu muội mà trong tâm trí của họ đầy sự hoài nghi về những tiềm lực tâm kinh của người phụ nữ”.

– Vật hấp dẫn ở thế gian. (A.I.1)

Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

Ta không thấy một hương nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, hương người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

Ta không thấy một vị nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như vị người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, vị người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

Ta không thấy một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như xúc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.

(Tăng Chi Bộ Kinh 1. Chương Một Pháp. Phẩm Sắc. Phần Nữ Sắc)

– Các đức hạnh mà người phụ nữ nên trau dồi. (S.IV.143)

Những đức hạnh làm cho người phụ nữ trở nên tốt đẹp cả hai đời, đời này và đời sau đã được Đức Phật tuyên bố như sau: 1. Có tâm đạo nhiệt thành. 2. Có tâm hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. 3. Không nuôi dưỡng tâm địa ác độc, oán thù và sân hận. 4. Không ghen tuông bóng gió. 5. Không cãi vả mà nên có lòng rộng lượng. 6. Nhã nhặn trong mọi hành vi. 7. Đầy đủ đức hạnh. 8. Học hỏi để nâng cao kiến thức, nhất là sự hiểu biết. 9. Nhiệt tình và sốt sắng trong công việc. 10. Luôn phòng hộ tâm và khôn khéo trong xử sự. 11. Có trí tuệ hiểu biết.

Mặc dù, thực sự Đức Phật nâng cao thân phận người phụ nữ, Ngài đã thể hiện qua sự giữ giới của Ngài và khuyên dạy các để tử từ thời này sang thời khác, nhưng Ngài vẫn nhận biết được sự khác biệt về vấn đề xã hội và sinh lý giữa người nam và người nữ vẫn còn tồn tại.

Những điều này đã được miêu tả trong Aṅguttara Nikāya và Saṃyutta Nikāya. Mặc dù trong một vài đoạn kinh, có một vài nguyên do nói lên tai hại về tư cách và sự quyến rũ của người nữ đáng bị chỉ trích đã được ghi lại.

Trong Saṃyutta Nikāya, Đức Phật đã có ý đưa ra nhiều yếu tố để xóa bỏ thành kiến này. Trong một vài trường hợp, người nữ được xem như sáng suốt và thông minh hơn người nam, và người nữ cũng có khả năng chứng đắc quả giải thoát hay đắc được các quả vị Thánh sau khi họ tu tập Bát chính đạo.

Đối với những người phụ nữ đã bị xúc động thái quá và đau khổ cùng tột khi bị mất đi người thân yêu, Đức Phật đã dạy về cái chết không thể nào tránh được của chúng sinh như đã được trình bày trong tứ diệu đế và nhiều dẫn vụ khác nhau được trích giảng về vấn đề này. Đối với và Visākhā, bị quá xúc động vì lòng thương yêu của bà ngoại khi bị mất đi đứa cháu gái, Đức Phật đã an ủi bà như sau :

Do ái sinh sầu ưu, Do ái sinh sợ hãi, Ai thoát khỏi tham ái, Không sầu, đâu sợ hãi? (Dhp.212)

Tác giả bài viết: Samadhi Punno

Sưu tầm và hình ảnh: chúng tôi

10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh

Ngầu như trái bầu”, “Đẹp như cái kẹp”…. là những câu thành ngữ quá quen thuộc và được teen Việt Nam dùng nhiều. Còn thành ngữ tiếng Anh thì sao? Có giống như Tiếng Việt? Đây là bài viết bạn không thể bỏ qua. Tìm hiểu ngay thôi!

Các bạn trẻ Việt Nam thường hay nói “lạnh lùng con thạch sùng”, còn trong tiếng Anh, người ta dùng câu “ngầu như quả dưa chuột”. Từ “cool” không chỉ có nghĩa “mát mẻ” để nói về thời tiết. Khi dùng để mô tả người, nghĩa “bóng” của nó ám chỉ một ai đó rất “thời trang, cuốn hút hoặc ấn tượng, có thể mang vẻ ngoài lạnh lùng, điềm tĩnh.”

► Thành ngữ “As cool as a cucumber” có nghĩa là “điềm tĩnh, không bị ảnh hưởng bởi sức nóng hay căng thẳng bên ngoài”.

Xuất xứ của thành ngữ này đến từ thời xa xưa khi mọi người di chuyển bằng xe ngựa. Khi muốn ai đó dừng lại chốc lát, họ nói “hold your horses” – dừng con ngựa của bạn lại.

► Ngày nay, “Hold your houses” trở thành thành ngữ mang nghĩa “chờ một chút”.

► Tại sao “kick the bucket” (đá cái xô) lại ám chỉ việc chết chóc? Cho đến nay nguồn gốc của thành ngữ vẫn không rõ ràng. Có người cho rằng thời xa xưa khi hành hình, treo cổ ai đó hoặc một người cố tình treo cổ tự tử, họ luồn dây thừng vào cổ và đứng trên một cái xô. Khi xô bị đá ra, người đó tắt thở mà chết.

Khi một người mệt mỏi, kiệt sức, mặt họ thường được mô tả là “xanh lè”. ► Do đó, thành ngữ“blue in the face” ám chỉ sự mệt mỏi, yếu ớt sau khi đã làm lụng quá nhiều hoặc quá cố gắng làm gì đó.

“Cơn bão trong cái chén” tạo cảm giác một cơn thịnh nộ của thời tiết nhưng quy mô lại rất bé nhỏ.

► Người Anh dùng câu này để ám chỉ một cơn giận dữ của ai đó dù sự việc thực ra không đáng phải cáu giận như thế.

Nguồn gốc câu nói này đến từ Vương quốc Anh và các nước thuộc địa. Người ta kể rằng một vị Thủ tướng của Anh tên Robert “Bob” Cecil từng bổ nhiệm cháu mình là Arthur Balfour làm Tổng thư ký Ireland năm 1887 trong sự ngạc nhiên, thậm chí phẫn nộ của nhiều người. Từ đó, người ta nói “bác là Bob ấy mà”, “Bác là người ai cũng biết ấy mà” để nói về một sự việc ai cũng hiểu, không có gì khó hiểu.

► “Bob’s your uncle” (Bob là bác của bạn/của con) nhằm mô tả một sự việc đơn giản, dễ hiểu, ai cũng hiểu, ví dụ như “left over right; right over left, and Bob’s your uncle” (Bên trái nằm trái bên phải, bên phải nằm phải bên trái, và Bob là bác của bạn). Câu này có thể dịch nôm sang tiếng Việt thành “như thế đó”, “đơn giản như đan rổ” theo cách nói của giới trẻ hiện nay.

► Tương tự như khi người Việt nói “đầu óc để trên mây”, người Anh có một câu y hệt là “head in the clouds” để mô tả một người có những suy nghĩ viển vông, phi thực tế.

Thành ngữ này được dùng đầu tiên trong một bài thơ của nhà thơ Anh thuộc thế kỷ 15 William Langland. Người ta dùng câu này dựa vào việc khi một cái đinh cửa được đóng vào cửa, người ta “đóng chết” nó luôn ở đó để gắn các bộ phận lại với nhau và không dễ gì tháo ra.

► Từ đó, khi muốn nhấn mạnh ai hay cái gì “chết thẳng cẳng” hoặc không dùng được nữa, người ta nói “as dead as a doornail”.

10. HEART IN THE MOUTH Hẳn khi một người – dù thuộc bất cứ ngôn ngữ nào – khi quá sợ hãi, quá hồi hộp hoặc bị sốc đều có cảm giác tim nhảy đi đâu đó. Đó là lý do khiến người Việt và người Anh đều có những cụm từ tương tự nhau để mô tả cảm giác này. ► Người Việt nói“tim bắn ra ngoài lồng ngực” còn người Anh nói “tim nhảy lên miệng” – “Heart in your mouth”.

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.

Trong giao tiếp hằng ngày những câu ca dao tục ngữ góp phần thêm phong phú và đa dạng cho ngôn ngữ.Ở Việt Nam có vô vàn những thành ngữ tục ngữ ca dao được ông bà ta đúc kết từ những kinh nghiệm quý báu .

                                          Câu ca dao tục ngữ tiếng Anh

1.Những câu thành ngữ-tục ngữ thông dụng.

Money make the mare go: Có tiền mua tiên cũng được

– Like father, like son: Con nhà tông không giống lông thì cũng giống cánh

– Beauty is in the eye of the beholder: Giai nhân chỉ đẹp trong mắt người hùng.

– The die is cast: Bút sa gà chết

– Two can play that game: Ăn miếng trả miếng

– Love is blind: Tình yêu mù quáng

– So far so good: Mọi thứ vẫn tốt đẹp

– Practice makes perfect: Có công mài sắt có ngày nên kim

– Silence is gold: Im lặng là vàng

– The more the merrier: Càng đông càng vui

Time is money: Thời gian là tiền bạc

– The truth will out: Cái kim trong bọc có ngày lòi ra

A wolf won’t eat wolf: Chó sói không bao giờ ăn thịt đồng loại

– Walls have ear: Tường có vách

– Everyone has their price: Con người cũng có giá của nó

– It’s a small world: Quả đất tròn

– You’re only young once: Miệng còn hôi sữa

– Ignorance is bliss: Không biết thì dựa cột mà nghe

– No pain, no gain: Có làm thì mới có ăn

Câu ca dao tục ngữ tiến Anh

– A swallow cant make a summer: Một con én ko làm nổi mùa xuân

– A bad beginning makes a bad ending: Đầu xuôi đuôi lọt.

– A clean fast is better than a dirty breakfast: Giấy rách phải giữ lấy lề. Kết quả hình ảnh cho những câu ca dao tục ngữ tiếng anh

– Barking dogs seldom bite: Chó sủa chó không cắn.

Money is the good servant but a bad master: Khôn lấy của che thân, dại lấy thân che của

– The grass are allways green on the other side of the fence: Đứng núi này trông núi nọ

– One bitten, twice shy: Chim phải đạn sợ cành cong

– In rome do as Romans do: Nhập gia tùy tục

– Honesty is the best policy: Thật thà là thượng sách

– A woman gives and forgives, a man gets and forgets: Đàn bà cho và tha thứ, đàn ông nhận và quên

– No roses without a thorn: Hồng nào mà chẳng có gai, việc nào mà chẳng có vài khó khăn!

– It never rains but it pours: Phúc bất trùng lai ( họa vô đơn chí )

– Save for the rainny day: Làm khi lành để dành khi đau

– It’s an ill bird that fouls its own nest: Vạch áo cho người xem lưng / Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại.

– Don’t trouble trouble till trouble troubles you: Tránh voi chẳng xấu mặt nào.

– Still water run deep: Tâm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi

– Men make house, women make home: Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm

– East or west – home is best: Ta về ta tắm ao ta ( Không đâu tốt bằng ở nhà )

– Many a little makes a mickle: Kiến tha lâu đầy tổ

– Penny wise pound foolish: Tham bát bỏ mâm

2. Những câu cao dao Anh – Việt phổ biến nhất

– Flat wine can cause drunkenness with large consumption Great speakers can create boredom with lengthy orations : Rượu nhạt uống lắm cũng say. Người hay nói lắm dẩu hay cũng nhàm

– True gold is to be tested with coal and fire Good bells by how they reverberate, good people by how they verbalize: Vàng thì thử lửa thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời

– Compliments to whoever built this leaden bell Wonderfully shaped like a real one except for being mute: Khen ai khéo đúc chuông chì. Dạng thì có dạng, đánh thì không kêu.

– If a cockatiel chose a pelican to mess with, He will beg for mercy when starting to get hit: Chim chích mà ghẹo bồ nông. Đến khi nó mổ, lạy ông tôi chừa.

– East or west-home is best: Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

Don’t postpone until tomorrow what you can do today: Đừng để những việc cho ngày mai mà bạn có thể làm hôm nay

Trung tâm Anh ngữ Du học Việt Úc-đến với trung tâm để chạm tới ước mơ Liên hệ : 334-336 Tân Sơn Nhì _ Điện thoại: (028) 62 676 345 145 Nguyễn Hồng Đào _ Điện thoại: (028) 38 494 245 Email: hotro@vietaus.edu.vn Facebook: AnhNguDuHocVietUc

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Like

Loading…

Related

Cập nhật thông tin chi tiết về Thành Ngữ Tiếng Anh Liên Quan Tới Mùa Đông trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!