Xu Hướng 3/2024 # Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

     Theo kế hoạch đi nghiên cứu thực tế của chi bộ, sau một thời gian chuẩn bị, đúng 8 giờ 00 ngày 11/6/2024  chuyến xe chở đoàn công tác của chi bộ chúng tôi đã khởi hành đi về Tiền Giang quê hương của những mỹ nữ – anh hùng nổi tiếng Nam bộ. Ngồi trên xe mà trong tôi chợt chợt nhớ những nhân vật nổi bật trong lịch sử dân tộc như: Nam Phương hoàng hậu, bà Từ Dũ, tả quân Lê Văn Duyệt, Anh hùng Dân tộc Trương Định, Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu…

    Tuy sinh ra ở Quảng Ngãi nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Trương Định gắn bó với nhân dân Gò Công. Tại nơi đây, ông đã lập gia đình với hai người phụ nữ, vợ đầu là Lê Thị Thưởng và vợ sau là bà Trần Thị Sanh. Với sự giúp đỡ ít nhiều của cả hai gia đình bên vợ, từ năm 1854, theo chính sách đồn điền của Nguyễn Tri Phương, Trương Định đã chiêu mộ dân chúng, khai khẩn đất hoang, lập ra đồn điền Gia Thuận để khai hoang đất đai phát triển sản xuất, chăm lo cho đời sống của nhân dân địa phương, đồng thời chú ý luyện tập quân sự cho dân binh đồn điền, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước. Chính vì lẽ đó, màTrương Định luôn được nhân dân Gò Công hết lòng tin yêu. Cho nên, năm 1861, khi Trương Định kháng lệnh triều đình, phát động cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược thì nhân dân Gò Công đã tích cực hưởng ứng và tham gia. Có lúc lực lượng nghĩa quân lên đến 6.000 người, bao gồm các tầng lớp nhân dân Gò Công mà đa số là nhân dân lao động và dân binh đồn điền.

     Đền thờ Trương Định tại Tiền Giang. ảnh: Sưu tầm từ internet.

      Nói về đạo quân của Trương Định nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu mô tả đó là những người nông dân:

“. . . Cui cút làm ăn, riêng lo nghèo khó,

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung,

Chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng bộ

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy. . . tay vốn quen làm

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ. . . mắt chưa từng ngó

. . . Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng  ở lính diễn binh.

Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)

     Tháng bảy năm Nhâm Tuất (1862), sau khi ký hòa ước dâng cho thực dân Pháp đảo Côn Lôn và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường, triều đình Tự Đức phong Trương Định làm Lãnh binh tỉnh An Giang và ra lệnh cho ông phải chấm dứt cuộc kháng chiến ở Gò Công. Thế nhưng, trước yêu cầu của nhân dân Gò Công, Trương Định đã quyết định ở lại cùng nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu kể lại:

“. . . Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền.

Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại

Gồm ba tỉnh dựng cờ phấn nghĩa, sĩ phu lắm kẻ vui theo.

Tom muôn dân gầy sổ mộ quân, luật lệnh nào ai dám nhạy.

Văn thời Tham Biện, Thượng Biên, giúp các cơ bàn bạc nhung công.

Võ thời Tổng binh, Đốc binh, coi mấy đạo sửa sang khí giới”

(Văn tế Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu)

      Phải nói đây là quyết định rất đúng đắn của Trương Định trong bối cảnh lúc bấy giờ.  Đứng trước quyền lợi bản thân và nguyện vọng của nhân dân, ông đã dũng cảm đứng về phía nhân dân  quyết định đi cùng với nhân dân chiến đấu: “Bằng son ứng nghĩa thắm lòng dân” (Nguyễn Đình Chiểu)

       Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược của Trương Định chỉ tồn tại được 5 năm (1859 -1864), nhưng đã trở thành cuộc đấu tranh tiêu biểu trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Từ ngày Trương Định hy sinh đến nay đã tròn 155 năm (1864 – 2024), nhưng cuộc khởi nghĩa của anh hùng dân tộc Trương Định mãi mãi là biểu tượng về tinh thần yêu nước và sức mạnh của nhân dân Gò Công nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung trong lịch sử dân tộc.

       Cuộc khởi nghĩa đã để lại cho các thế hệ sau nhiều bài học vô giá: về uy tín, năng lực và phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo; về sự quy tụ sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp dựng nước giữ nước, phát huy tinh thần yêu nước, bất khuất của người Việt  Nam…

       Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay thiết nghĩ nếu Đảng và nhà nước xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự ưu tú có đủ bản lĩnh, có năng lực đạo đức trong sáng thì dứt khoát chúng ta sẽ tiếp tục phát huy được tốt hơn nữa những truyền thống tốt đẹp trong mỗi con người Việt Nam và sự nghiệp đổi mới đất nước sẽ mau chóng đạt được nhiều thành công tốt đẹp.

      Đứng trước khu lăng mộ của Người anh hùng dân tộc, tuy mỗi người có cảm nhận khác nhau nhưng mỗi thành viên của đoàn đều vô cùng tự hào về thế hệ cha anh đi trước. Chúng tôi nguyện rằng sẽ luôn cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ của cơ quan để góp phần công sức của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

Hà Thị Vân Khanh

Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc

Trong quá trình xây dựng đất nước nước ta đã trải qua rất nhiều thời kỳ khác nhau trong mỗi thời kỳ đều có những người tài và cống hiến đóng góp nhiều cho đất nước và sự phát triển chung của xã hội. Có rất nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc được vinh danh và ghi nhận. Công trạng của họ còn được truyền miệng qua rất nhiều các câu ca dao tục ngữ để kể lại cho người đời sau. Ca dao tục ngữ về danh nhân hay và ý nghĩa nhất

Việt Nam là một đất nước có những con người kiên trung, có tinh thần yêu nước sâu sắc và vô cùng đáng quý. Những anh hùng hi sinh trong các cuộc chiến tranh, những người anh hùng đã hi sinh cả tuổi xuân, cả cuộc đời mình vì sự nghiệp độc lập dân tộc. bên cạnh những vị anh hùng ấy còn có những hậu phương vững chắc để họ quyết tâm tham gia chống giặc cứu nước là những người mẹ, người vợ vô cùng kiên trung.

Bà Trưng, Bà Triệu là 1 trong những danh nhân nổi tiếng và được nhiều người biết tới với công trạng chống lại giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước

Những vẻ đẹp của những người anh hùng ta không thể hiểu và thấu hết qua một vài câu chuyện, qua một vài lời giới thiệu. để nói lên vẻ đẹp đó thì các nhà văn nhà thơ đã nói lên những tình cảm của mình dành cho các vị anh hùng ấy qua các tác phẩm văn học, thơ,… bên cạnh đó còn có một thể loại thể hiện vẻ đẹo của các danh nhân, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ nói về danh nhân.

Câu 1:

Ai về Hậu Lộc Phú Điền

Nhớ đây Bà Triệu trận điền xung phong.

Câu ca dao trên nói về một vị nữ tướng là Bà Triệu, bà là một trong những nữ tướng nổi tiếng của Việt Nam ta xưa. Bà Triệu là một nhân vật có tính cách mạnh mẽ, quyết tâm và có tinh thần yêu nước sâu sắc. Bởi thấy những khổ cực mà nhân dân ta chịu bà đã đứng lên để dành lấy độc lập của dân tộc, cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân.

Câu 2:

Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn

Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh.

Câu ca dao trên nói về một vị vua rất nổi tiếng, người có tấm lòng nhân đạo và yêu thương nhân dân sâu sắc đó là vua Lê Thái Tông. Để nói đến công lao của vua Lê Thái Tông thi câu ca dao nhắc đến hai địa danh mà làm nên tên tuổi của vua Lê Thái Tông đó là Biên Thương và Lam Sơn. Hình ảnh oai hùng và kiên cường của vua Lê Thái Tông khi chống giặc ngoại xâm và trị vì đất nước vô cùng được nể phục.

Câu 3:

Có chàng Công Tráng họ Đinh

Dựng luỹ Ba Đình chống đánh giặc Tây

Đinh Công Tráng là một người được biết đến với tính cách trung trực, trật tự, kỉ luật và nghiêm nghị. Ông tham gia rất nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp và giành được nhiều thắng lợi và đặc biệt là thắng lợi của khởi nghĩa Ba Đình chống giặc Pháp.

Câu 4:

Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần.

Câu ca dao nói đến mảnh đất Vĩnh Long, một mảnh đất sinh ra anh hùng và nuôi dưỡng anh hùng. Một trong hai vị anh hùng nôi tiếng của vùng đất này đó là Bùi Hữu Nghĩa và Phan Tuấn Thuần. ngày nay người dân Vĩnh Long đã lập đền thờ để tưởng niệm hai vị anh hùng này.

Câu 5:

Gò Công anh dũng tuyệt vời

Ông Trương “đám lá tối trời” đánh Tây.

Câu ca nói đến mảnh đất Gò Công, Tiền Giang nói về một vị anh hùng mang tên Trương Quyền. ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp bởi những hình ảnh anh hùng và kiên cường ông đã ghi tên mình trong lòng bao người dân yêu nước.

Câu 6:

Phất cờ chống nạn xâm lăng

Trương Công nghĩa khí lẫy lừng trời nam.

Câu ca dao trên cũng nói về một người con của tỉnh Tiền Giang mang tên Trương Công Định. Trương Công Định đã cùng 25 nghĩa quân hy sinh tại mặt trận Kiểng Phước. Sự hi sinh ấy đã để lại bao nhiêu nể phục danh cho những người dân Việt Nam.

Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về danh nhân:

Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cởi voi đánh cồng.

Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri.

Bao giờ Tự Đức chết đi,

Vỡ đường Thiệu Trị vỡ đôi năm liền

Mong cho thiên hạ lòng thuyền

Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua.

Trách lòng Biện Nhạc chẳng minh

Làm cho con gái thất kinh thất hồn

Trách lòng biện Nhạc làm kiêu

Làm cho con gái nhiều điều phiền lo.

Trăng rằm mây phủ còn lu,

Tấm gương chị Lý nghìn thu sáng ngời.

Bô Bô nói với Phường Chào

Xem tôi với chị bên nào hiền hơn.

Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không?

Thăng Long tấp nập trăm miền khơi thông

Vua Lý đã chọn đất rồng

Ngàn năm bền vững Thăng Long kinh kỳ

Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội

Tuyển tập những câu ca dao tục ngữ hay ca ngợi anh hùng dân tộc, anh bộ đội

Các bài viết liên quan tới chủ đề anh hùng dân tộc, bộ đội đáng chú ý:

Đất nước Việt Nam ta đã trải qua muôn vàng những khó khăn và thử thách, tải qua hàng ngàn năm đô hộ. cuộc sống khó khăn là thế, cuộc kháng chiến khốc liệt là thế mà nhân dân Việt Nam ta vẫn không khuất phục, không từ bỏ mà họ đã đứng lên, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Những hình ảnh ấy chúng ta không thể không nhắc đến hình ảnh các vị anh hùng dân tộc, các chú bộ đội đã hi sinh bản thân để mang lại độc lập dân tộc.

Để nói lên những khó khăn gian khổ, những khổ cực mà các anh hùng, các anh bộ đội đã chịu đựng thì những nhà văn, nhà thơ,… đã có những tác phẩm nổi tiếng để nói lên các hình ảnh ấy. bên cạnh thơ và văn thì trong nhân dân ta đã lưu truyền các câu ca dao tục ngữ về các vị anh hùng, các anh bộ đội để thể hiện tình cảm của mình với những nhân vật ấy. chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về anh hùng dân tộc, anh bộ đội.

Những câu thơ văn, ca dao tục ngữ về anh dùng dân tộc, anh bộ đội

Câu 1:

Đây là hình ảnh về những lần hành quân của các anh bộ đội ngoài chiến trường, công việc của các anh là lái xe. Dù công việc có hiểm nguy, khó khăn đến thế nhưng các anh vẫn luôn luôn vui tươi, vui vẻ hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Câu 2:

Những hình ảnh anh hùng, anh bộ đội là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc ở chiến trường, nhưng hình ảnh những cô gái, nữ chiến sĩ mới trở nên nổi bật. những câu ca dao trên nói về hình ảnh những cô gái Paco, dù chiến trường khó khăn, nguy hiểm nhưng các cô vẫn không ngần ngại hi sinh bản thân để bảo vệ dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước.

Câu 3:

Ai về Biện Thượng, Lam Sơn

Nhớ về Lê Thái tổ chặn đường quân Minh

Câu thơ trên nói về hình ảnh oai hùng và lẫy lững của vua Lê Thái Tổ, ông đã chặn đường quân Minh sang xâm lược nước ta, có những thắng lợi vẻ vang, những kì tích đáng có trong lịch sử nước ta.

Câu 4:

Anh đi theo chúa Tây Sơn

Em về cày cấy mà thương mẹ già

Câu thơ trên nói về hình ảnh vua Quang Trung, hình ảnh oai hùng và lẫm liệt chiến thắng giặc ngoại xâm. Câu thơ không chỉ nói về hình ảnh oai hùng mà còn nói về hình ảnh vợ con và mẹ gia chờ đợi khi những người lính lên đường kháng chiến chống giặc ngoại xâm, những hình ảnh hết sức thân thương.

Câu 5: Câu 6:

Bần Gie đốm đậu sáng ngời

Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai linh

Câu 7: Câu 8:

Đua nhau xới, tranh nhau đơm

Cà chua nấu muối cũng thơm, cũng lành

Câu 9:

Ăn thật chóng, và thật nhanh

Chỉ loáng một cái sạch sành sanh cả nồi!

Câu 10:

Tháng Năm ngày Tết Đoan Dương,

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.

Câu 11:

Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra dòng liu điu

Câu 12:

Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.

Câu 13: Câu 14:

Cổ Loa là đất đế kinh

Trông ra lại thấy tòa thành tiên xây.

Câu 15: Câu 16:

Có chồng phải khổ vì con

Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng.

Câu 17: Câu 18:

Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh

Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.

Câu 19:

Ai về Hậu Lộc, Phú Điền,

Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.

Câu 20: Câu 21:

Đường đi cống vải từ đây dứt

Dân nước đời đời hưởng lộc chung.

Câu 22:

Sa nam trên chợ dưới đò

Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh.

Câu 23: Câu 24:

Ở đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Câu 25:

Trống chùa ai đánh thì thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

Câu 26: Câu 27: Câu 28: Câu 29: Câu 30: Câu 31: Câu 32: Câu 33: Câu 34: Câu 35: Câu 36: Câu 37:

Ban ngày khoác lá ngụy trang

Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo

Ban đêm gùi đạn vượt đèo

Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng

Dừng chân mắc võng giữa rừng

Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon

Ơi người trẩy hội nước non

Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.

Câu 38: Câu 39:

Binh trạm đóng giữa rừng sâu

Quanh năm chẳng thấy trăng sao mây trời

Ngày đêm con suối đưa lời

Con chim đưa tiếng, mua rơi đều đều

Quê hương gợi nhớ bao điều

Cây đa giếng nước nắng chiều mênh mang

Bóng tre mát rượi quanh làng

Câu hò giã gạo rộn ràng đêm trăng

Bao giờ quét sạch xâm lăng

Quê hương chín nhớ mười thương lại về

Câu 40:

Mưu mô thằng Mỹ cuồng điên

Bắn ngày rồi lại bắn đêm giở trò

Bắn ngày, mày vụn ra tro

Bắn đêm, mày cũng gãy giò nát xương

Lòng ta đã cháy căm hờn

Lưới ta đã khép mày chuồn đi đâu

Mưu sâu thì họa càng sâu

Bảo cho giặc Mỹ một câu nhớ đời

Câu 41:

Ngoài ra còn có một số câu ca dao, tục ngữ về anh hùng, bộ đội ngắn gọn khác như

1. Anh hùng đa nạnHồng nhan đa truân!2. Anh hùng chí để bốn phươngKhi gấp thì ngắn, khi vươn thì dài3. Anh hùng gặp vận4. Anh hùng gì mà anh hùng rơmTôi cho nắm (mớ) lửa hết cơn anh hùng5. Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay6. Anh hùng mạt lộ (vận)7. Anh hùng nào (đâu) phải khúc lươnKhi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài8. Anh hùng nào giang sơn nấy9. Anh hùng rơm10. Anh hùng xó bếp11. Anh hùng tử, khí hùng nào tử12. Anh hùng thức anh hùng13. Ai lên A Lưới Dốc Mèo14. Bò lên rồi lại bò lênBò đi bò lại cho quên nhọc nhằn

Trên đây là Ca dao, tục ngữ về anh hùng dân tộc, anh bộ đội, hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà bạn cần. xin chân thành cảm ơn.

Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc

Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

Con ơi, con ngủ cho ngoan,

Mẹ còn cày cấy tập đoàn đồng sâu.

Con ơi, hãy ngủ cho lâu,

Mẹ đi vận tải, bắc cầu, khai mương.

Mẹ còn đi học ở trường trưa nay.

Con ơi, cứ ngủ cho say,

Đã có mẹ gác máy bay quân thù.

Ngày mai thống nhất, bố về,

Gia đình hạnh phúc, tràn trề niềm vui.

Em yêu, em quý quê hương,

Yêu anh bộ đội lên đường hành quân.

Đông Xuân anh thắng vang lừng,

Quê em sôi nổi đón mừng công anh.

Đánh cho Mỹ ngụy tan tành,

Lời thơ tiếng hát em dành tặng anh.

Cấy cày, sản xuất, đấu tranh,

Anh ơi! Em quyết cùng anh diệt thù.

Ngày nào bộ đội về làng,

Em chạy vào làng tặng một rổ khoai.

Khoai em tuy ít mà bùi,

Ăn vào một miếng cũng vui cả đoàn.

Hôm nay bộ đội về làng,

Em chạy vào hàng xin được tòng quân.

Thằng Tây chớ cậy xác dài,

Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày!

Thằng Tây chớ cậy béo quay,

Mày thức hai buổi là mày dở hơi.

Chúng tao thức bốn đêm rồi.

Ăn cháo ba bữa, chạy mười chín cây.

Bây giờ mới gặp mày đây,

Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao.

Trên trời có đám mây vàng

Em đi tiếp vận cho chàng giết Tây

Thằng Tây tiếp tế máy bay,

Không bằng tiếp vận chân tay chúng mình.

Xuân về, hoa cúc nở hoa,

Trên cành chim sáo hát ca rộn ràng,

Chào anh, anh Giải phóng quân!

Anh đem nắng ấm mùa xuân đến nhà.

Con ơi, con ngủ cho mùi,

Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.

Chông này gìn giữ non sông,

Chông này góp sức diệt quân bạo tàn.

Chông này xóa sạch tóc tang,

Chông này đem lại tiếng đàn lời ca.

Cho con gần mẹ gần cha,

Cho nước độc lập, cho nhà yên vui.

Con ơi, con ngủ cho mùi,

Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.

Thằng Tây đánh trận Điện Biên

Mặt mày nhếch nhác, van xin đầu hàng

Một bầy quân tướng huênh hoang

Giỏi đánh giặc mồm lại giỏi giơ tay

Thằng Tây nuôi lính thật tài

Cái bệnh chạy dài dễ chẳng ai hơn!

Bên sông thưa thớt tiếng gà

Mây trôi xuống bến, trăng tà về tây

Đò em đợi bến sông này

Đưa đoàn chiến sĩ đêm nay lên đường

Đò em chở bạn tình thương

Chở lòng yêu nước can trường qua sông.

Ai ơi, chớ dại chớ lầm

Lương tâm bán rẻ, đi cầm súng Tây

Máu người thân vấy đầy tay

Hại dân hại nước, tội này ai tha?

Ngủ đi, con ngủ cho say,

Mẹ còn tay súng tay cày giương cao.

Đổ mồ hôi, đổ máu đào,

Giữ quê, biển rộng, trời cao trong lành.

Giữ nhà máy, giữ đồng xanh,

Chặn tay giặc Mỹ đang rình hại ta.

Cha đi cứu nước cứu nhà.

Mẹ “ba đảm nhiệm” thay cha mọi bề.

Mướp ơi, mướp cứ leo giàn,

Cứ xanh sắc lá, cứ vàng màu hoa.

Xới vun công của mẹ già,

Bát canh nhớ vị đậm đà quê hương.

Bữa cơm ở giữa chiến trường,

Thoảng mùi canh mướp càng thương mẹ già.

Cụ ông bàn với cụ bà:

Bà nó ở nhà giữ cháu hôm nay.

Để tôi ra bắn máy bay,

Mai tôi lại bế cháu thay phiên bà.

Bà rằng: “Ông khéo khéo là!

Để tôi ra bắn máy bay,

Tối qua tập bắn, cái tay đang thèm.

Ông ơi! Ông ngẫm mà xem,

Tóc ông cũng đã bạc trên mái đầu”.

Ông rằng “Già tóc, già râu,

Còn chuyện đánh Mỹ, tôi đâu có già!”.

Hỡi thuyền đưa khách sang sông,

Chở chông chở súng, chở chồng em sang.

Chồng em du kích giữ làng,

Giữ yên bến nước đò ngang sớm chiều.

Lòng Bác rộng khắp bao la,

Lòng dân, lòng Bác chan hòa nước non.

Chúng cháu ghi nhớ công ơn,

Quyết giết giặc Pháp rửa hờn cho dân.

Toàn dân dốc một lòng thành,

Làm tròn nhiệm vụ đáp tấm tình Cụ thương dân.

Chồng em vì nước hy sinh,

Cánh tay mất nửa, mối tình còn nguyên.

Gió to, sóng cả, sông sâu,

Dưới chân nước chảy, trên cầu mưa rơi.

Gió mưa, sông nước, mặt trời.

“Nhanh tay ơi chị em ơi! ta chèo”.

Áo em vai đã ướt đều,

Vì mưa, hay đã thấm nhiều mồ hôi?

Ướt em, em thấy vẫn vui,

Chỉ lo ướt súng, ướt người chiến binh.

Mưa rơi thêm lạnh rừng khuya,

Nghe không gian ngỡ bốn bề mênh mông.

Hành quân nhớ bếp lửa hồng,

Nhớ xưa Bác sống giữa rừng ấm vui.

Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Thăm quân du kích, xem thành Bắc Sơn.

Suối trong in bóng trăng tròn,

Hai cô gái Thổ, trèo non đi tuần.

Chị em du kích Thái Bình,

Ca – lô đội lệch vừa xinh vừa giòn.

Người ta nhắc chuyện chồng con,

Lắc đầu nguây nguẩy: “Em còn giết Tây!”.

Hy sinh trả nghĩa giang san

Đoàn quân Nam tiến vượt ngàn gian lao

Tình ruột thịt, nghĩa đồng bào

Bát cơm chung, giọt máu đào giúp nhau.

Thằng Tây ở đất Điện Biên

Bị ta vây chặt suốt đêm suốt ngày

Điện Biên Phủ sắp lung lay

Thành “Điện Âm Phủ” vùi Tây xuống mồ

Anh em ta gắng thi đua

Đào hào cho vững, khoét mồ chôn Tây!

Anh đi gìn giữ nước non,

Tóc xanh em đợi, lòng son em chờ.

Anh đi ra lính Cụ Hồ,

Con sông, con hói, con đò đưa anh.

Đói lòng cơm nắm giở ra,

Chia nhau lót dạ, ngủ qua đêm dài.

Nhìn nhau lặng tiếng im hơi,

Cành cây gió động, mưa rơi ướt đầu.

Nằm đây bố trí bên nhau,

Súng ơi! Có rét chui đầu vào chăn!

Ai qua phố Phủ Đoan Hùng,

Hẳn rằng còn nhớ voi gầm sông Lô.

Rừng xanh khói lửa mịt mù.

Nước sông đỏ máu quân thù chưa phai.

Luyện quân voi luyện cho tài,

Lập công voi xé một vài ca nô.

Dòng sông nước đục lờ đờ,

Bên kia sông cát: nấm mồ thực dân!

Con đò trong bãi nằm dài,

Em là du kích đợi hoài các anh.

Quân về mình biếc lá xanh,

Ngậm tăm lựa bóng trăng thanh xuống đò.

Hôm đi thuyền bến nặng chờ,

Hôm về thằng trận câu hò lại vang.

“Cách sông nên phải lụy đò”,

Câu ca thuở trước bây giờ còn đâu!

Bây giờ mưa gió đêm thâu,

Em đây vẫn cứ chống chèo đò ngang.

Đò đưa mấy chuyến quân sang,

Lòng em như sóng tràng giang reo mừng.

Anh đi ra tận chiến trường,

Ngày về xin hẹn sông Thương dừng chèo.

Ngày xưa bưng lấy bát cơm,

Nhớ thầy nhớ mẹ phong sương cấy cày.

Ngày nay bưng bát cơm đầy,

Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

Em về sửa lại đôi quang,

Còn em đem cuốc, sẵn sàng làm đê.

Mai kia nước lũ kéo về,

Quyết tâm chống lụt, đê kè làm thêm.

Giữ cho đẹp lúa đồng chiêm,

Cho khoai nhiều củ, ngô thêm óng vàng.

Mặc quân giặc Mỹ “leo thang”,

Quyết tâm sản xuất, Mỹ càng thua to.

Lời kết: Những câu ca dao ấy tựa như chứng cớ lịch sử đầy đanh thép, ghi lại khí thế quyết tâm và những cột mốc hào hùng của dân tộc. Ca dao kháng chiến đã cho thấy hình ảnh con người Việt Nam sáng rực lòng yêu nước và lòng nhân ái dân tộc sâu xa, kết tinh từ truyền thống ngàn đời của dân tộc.

Câu Nói Bất Hủ Của 15 Vị Anh Hùng Dân Tộc Qua Các Thời Đại

Nước ta qua các triều đại, từ thịnh tới suy, luôn có các bậc anh tài, dù hy sinh cũng nguyện được chết trên mảnh đất nghìn năm. Dân ta phải biết sử ta, cùng xem qua những câu nói cùng tinh thần yêu nước mà cha ông để lại cho chúng ta nhé! Bà Triệu – Triệu Thị Trinh (225 – 248) “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân.”

“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”

Khai quốc công Lý Thường Kiệt – Ngô Tuấn (1019 – 1105)

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư, t

iệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, n hữ đẳng hành khan thủ bại hư.” – Nam quốc sơn hà

Lý thái úy Tô Hiến Thành (1102 – 1179)

“Nếu chọn người hầu hạ thần xin cử Vũ Tán Đường, còn nếu chọn người giúp việc nước thần xin chọn Trần Trung Tá.”

Trần Thủ Độ (1194 – 1264) “Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương”

“Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”

Quốc công tiết chế Hưng đạo đại vương Trần Hưng Tuấn (1232 – 1300)

“Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”

Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng (1259 – 1285)

“Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.”

Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản (1267 – 1285)

“Phá cường địch, báo hoàng ân”

Xem thêm: Khai phá lịch sử, tìm về nguồn cội hay phá vỡ giá trị nhân văn?

Phật hoàng Trần Nhân Tông ( 1258 – 1308) pháp hiệu Đầu đà Giác Hoàng Điều ngự

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, n

on sông nghìn thuở vững âu vàng.”

Đặng Dung (1373 – 1414)

“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, k

ỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma. (Bạc đầu thù nước còn chưa trả, M ấy độ mài gươm bóng nguyệt tà)” – Cảm hoài

Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Ứng Long (1335 – 1428)

“Chưa trả thù nhà, đền nợ nước. Làm sao cho xứng mặt nam nhi?”

Quan phục hầu Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu Ức Trai

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo.” —

Bình Ngô Đại Cáo

Bắc Bình vương – Quang Trung hoàng đế Nguyễn Huệ (1753 – 1792)

“Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.”

Tây Sơn ngũ phụng thư Bùi Thị Xuân (1771 – 1802)

“Con nhà tướng không được khiếp nhược trước quân thù.”

Thượng Ðẳng linh thần Nguyễn Trung Trực (1837 – 1868)

“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây.”

Chiến sĩ cách mạng, chủ tích nước Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Xem thêm

Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM

KỲ THỨ 5

NGUYỄN TRÃI

– NGƯỜI CON TOÀN THIỆN CỦA DÂN TỘC,

DANH NHÂN VĂN HOÁ NHÂN LOẠI

                                Kiều Văn

Trong thế kỉ XV, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra một con người toàn thiện: Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Nếu lấy sự toàn thiện làm tiêu chí thì Nguyễn Trãi xứng đáng là con người ưu tú nhất của dân tộc ta kể từ khi lập quốc (thời đại Hùng Vương) đến nay.

Ông chính là mẫu người mà thi hào Anh Shakespeare đã ca ngợi trong vở kịch Hamlet:

Đây con người, một con người toàn vẹn Chẳng bao giờ tôi thấy kẻ sánh ngang.

Lê Thánh Tông, ông vua anh minh, có câu thơ ca ngợi Nguyễn Trãi:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo.

(Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê).

Tiên nho Nguyễn Năng Tĩnh ở nửa cuối thế kỉ XIX đã viết một câu nổi tiếng trong lời tựa sách Ức Trai di tập (do ông cùng Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh sưu tầm lại những tác phẩm của Nguyễn Trãi đã bị tán thất, rồi đem in thành sách năm 1868): “Những người có tài trí lỗi lạc, đức độ bao la, khi đem tài đức ấy thi thố ra việc làm thì đó là sự nghiệp, khi thổ lộ ra lời nói thì đó là văn chương”.

Nhận định ấy đã được chính sử Việt Nam và sự nghiệp văn chương trác tuyệt của Nguyễn Trãi xác nhận.

Chúng tôi xin phân tích những phương diện đã làm nên sự toàn thiện của Nguyễn Trãi như sau:

NGUYỄN TRÃI – NHÀ ÁI QUỐC VĨ ĐẠI, ANH HÙNG DÂN TỘC

Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn của một sự nghiệp anh hùng.

Trong những năm bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã kí thác niềm u uất và chí vọng của mình trong những bài thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian No nước uống, thiếu cơm ăn… Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian.

(Thủ vĩ ngâm)

… Một thân lẩn quất đường khoa mục, Hai chữ mơ màng việc quốc gia. Quân thân chưa báo, lòng canh cánh Tình phụ cơm trời, áo cha.

(Vô đề)

Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến. Một mình ông đảm trách cả một mặt trận quan trọng: mặt trận chính trị ngoại giao. Với sở học uyên bác, trí tuệ sắc bén, ông đã liên tiếp gửi thư cho bọn tướng giặc, đánh những đòn cân não làm tan rã tinh thần của chúng.

Cuối cùng Nguyễn Trãi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của ông: đánh đuổi được giặc Minh, mang lại độc lập cho đất nước. Chính ông đã thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo tổng kết chiến thắng oanh liệt của dân tộc:

Chẳng những mưu kế cực kì sâu xa Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy. Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới. Trời đất bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt mờ rồi lại trong. Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toán thư)

Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông.

(Thuật hứng)

Làm quan dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, ông đã ra sức chèo lái con thuyền của triều đình nhà Lê đi đúng con đường chính đạo mà tinh thần căn bản là thực hành nhân nghĩa để yên dân. Điều đặc sắc ở vị đại quan Nguyễn Trãi là khái niệm ái quốc luôn được cụ thể hoá bằng khái niệm ái dân, cận dân. Nói cách khác, với ông, chính lòng ái dân là thước đo tuyệt đối của lòng ái quốc! Có lẽ chỉ trừ một người thứ hai là vua Lê Thánh Tông, không một vị vua quan nào của triều Lê đạt tới ý niệm tuyệt vời đó. Và cũng chính vì tư tưởng khuynh dân đó mà Nguyễn Trãi trở thành thù địch của bọn quan lại triều Lê – những kẻ ít nhiều đều mắc căn bệnh vị kỉ và viễn dân. Có thể nói Nguyễn Trãi đã tử vì… tinh thần khuynh dân đó!

Trọn cả cuộc đời cống hiến cho nước, cho dân, lập được những kì tích sáng chói, Nguyễn Trãi trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại, kế tục truyền thống của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… đời trước, sát cánh với người anh hùng cứu nước Lê Lợi đương thời.

Chủ nghĩa anh hùng yêu nước của ông thể hiện rất rõ nét trong nhiều trước tác văn chương của ông như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, thơ nôm và thơ chữ Hán mà sau đây là một bài tiêu biểu:

ĐỀ GƯƠM

Rồng ẩn Lam Sơn lúc đợi thời, Trong tay thế sự rõ mười mươi. Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài. Hận nước nghìn năm vừa rửa sạch, Hòm vàng muôn thuở chắc không phai. Giang sơn đổi mới từ đây nhỉ, Thử đếm anh hùng được mấy ai?

Xuân Thủy dịch

NGUYỄN TRÃI – NHÀ CHÍNH TRỊ KIỆT XUẤT, BẬC HIỀN TÀI QUỐC GIA.

Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cộng sự với triều đình nhà Lê với tư cách một nhà chính trị, một nhà mưu lược. Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế trên các mục tiêu chiến lược: đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh. Bên cạnh đó ông xây dựng một sự nghiệp văn chương kì vĩ.

Suốt cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ ông là một nhà chính trị kiệt xuất có tầm tư tuởng cao nhất của thời đại bấy giờ. Đánh giặc đương nhiên phải dùng tới vũ dũng. Nhưng đối lập với những kẻ hữu dũng nhưng vô mưu, vô trí, vô nhân, Nguyễn Trãi, với tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị quân sư của Lê Lợi, đã cống hiến và đặt nền móng tinh thần, tư tưởng cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng nhân nghĩa mà ông rút từ học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử nhưng được áp dụng một cách đầy sinh động và sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta lúc đó. Cao kiến ấy của Nguyễn Trãi, nhà Hồ cũng như nhà Hậu Trần trước đó đều không có được. Nó đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta đương thời, khiến cho tất cả mọi người Việt Nam từ bậc hào kiệt, giới sĩ phu, dân cày cuốc đến kẻ cùng đinh đều hướng về và quây quanh vị chủ tướng Lê Lợi. Muôn người cùng có chung một suy nghĩ lớn: NGHĨA, và một tình cảm lớn: NHÂN. Chính sự thống nhất cao độ về lí trí và tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh “chở thuyền lật thuyền”, khiến giặc Minh không thể nào chống lại nổi!

Tư tưởng nhân nghĩa trác việt ấy luôn luôn được Nguyễn Trãi triệt để cổ súy, nhấn mạnh ở mọi nơi, mọi lúc, trên chính trường, trên nghị luận và trong văn chương. Mở đầu Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam thế kỉ XV – ông viết:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Chỉ với hai câu văn, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng mục tiêu quang minh chính đại của cuộc kháng chiến chống Minh: đó chính là việc thực thi tư tưởng nhân nghĩa trong hoàn cảnh chống ngoại xâm. “Cẩm nang” nhân nghĩa là vũ khí tinh thần tối quan trọng cho nghĩa quân và nhân dân Đại Việt, đồng thời là độc tố làm rệu rã tinh thần của bọn giặc Minh xâm lược. Có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử… đúc kết mà bọn tướng Minh đều đã học thuộc nằm lòng, để quật lại chúng. Giặc Minh kéo sang An Nam với chiêu bài “chính nghĩa” là diệt nhà Hồ để khôi phục ngôi nhà Trần đã bị nhà Hồ thoán đoạt. Nhưng Nguyễn Trãi đã vạch rõ bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng chỉ bằng một từ duy nhất: “bạo”! Chiêu bài “chính nghĩa” bị xé toạc, bộ mặt bạo ngược, bất nhân phi nghĩa của giặc bị phơi bày trước trời đất, trước toàn thể sĩ phu và nhân dân ta: chỉ riêng điều đó cũng đã đủ khiến chúng vô cùng hoảng sợ. Đòn cân não ấy xuất phát từ một khối óc thiên tài: Nguyễn Trãi.

Khác với rất nhiều vị vua và các tướng lĩnh giỏi của các thời đại, trong nước và trên thế giới, Nguyễn Trãi – xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa – hiểu thấu hơn ai hết cái chân lí lớn máu người không phải nước lã. Chính vì vậy, ông ra sức dùng đòn bút, đòn cân não để đánh giặc, nhằm làm giảm bớt tối đa xương máu của nghĩa quân Lam Sơn. Việc quân ta chủ trương trường kì vây hãm Đông Quan mà không ồ ạt tiến công hạ thành cũng chính nhằm bảo toàn lực lượng của ta, và kết quả thật kì diệu: giặc Minh rốt cuộc phải đầu hàng, còn nghĩa quân Lam Sơn hầu như không mất một mũi tên, một mạng người!

Ở phần cuối Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức”. Tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với quân và dân ta nồng đượm biết chừng nào!

Là nhà tư tuởng tầm vóc nhân loại, Nguyễn Trãi chủ trương áp dụng nhân nghĩa cho tất cả những ai là con người chứ không riêng gì người An Nam. Một sáng kiến vĩ đại của ông là mang nhân nghĩa áp dụng ngay cả với kẻ thù! Ông chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng”. Ông chỉ muốn đánh vào tâm vào trí giặc khiến chúng bại vong rút về nước chứ không thích giết nhiều người. Ngay cả khi tính mạng giặc hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân, các lãnh tụ Lam Sơn đã hành động theo tinh thần “oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh”.

Khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng nhờ có tư tưởng nhân nghĩa làm kim chỉ nam, phần cuối của cuộc kháng chiến chống Minh đã diễn ra bằng hình thức “đàm phán hoà bình”. Giặc Minh ở các lộ được tự do đến các chợ mua “đồ lưu niệm”, rồi tất cả lục tục kéo về Đông Quan để rút hết về nước. Không ai khác, chính Nguyễn Trãi là tác giả của hình thức kết thúc chiến tranh hiếm thấy đó trong lịch sử chiến tranh phương Đông.

Hiệu quả của hành động kết thúc chiến tranh bằng tư tưởng nhân nghĩa ấy thật vô cùng to lớn: một trang sử mới hoà hiếu đã mở ra giữa hai nước An Nam – Trung Hoa và duy trì suốt hơn bốn trăm năm cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX (trừ một giai đoạn rất ngắn quân Thanh kéo sang nước ta theo lời kêu gọi của Lê Chiêu Thống nhưng lập tức bị vua Quang Trung tiêu diệt).

Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Họ chủ trương giải quyết những vấn nạn của nhân loại trên cơ sở lương tri cao cả của con người. Đối lập với họ là bọn bạo chúa của các thời đại (như phái pháp gia đời Tần hoặc Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt thời Nguyên Mông…) – những kẻ chủ trương xây dựng sự nghiệp trên xương máu và thảm hoạ của muôn dân mà thi hào Nguyễn Du đã mô tả bằng một câu “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Con đường nào đúng? Đó là một câu hỏi hóc búa đòi hỏi phải có những kiến giải tối ưu đặt ra cho những người muốn đi tìm chân lí của môn lịch sử.

Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tư tưởng nhân nghĩa trong thời bình, khi ông phụng sự dưới hai triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thông qua việc tổ chức triều chính, ban hành các chính sách kinh tế xã hội… Đằng sau các lệnh chỉ của vua, của triều đình, người đọc sử có thể thấy rõ mồn một cái hạt nhân trí tuệ và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Ví dụ các lệnh chỉ sau đây: tiến cử và tự tiến cử hiền tài; sát hạch trình độ của các quan văn võ trong toàn quốc; cấm rượu chè cờ bạc; đào tạo các con quan văn võ tại Trường quốc học; phân chia ruộng đất cho tất cả mọi người, từ quan đại thần đến người cùng đinh, đàn bà goá, trẻ mồ côi; cho phép các ngôn quan được dâng sớ vạch rõ những sai lầm khiếm khuyết của vua, đàn hặc những sai trái của các quan; cấm quan lại không được mở rộng đất đai ngoài mức triều đình qui định v.v…

Trong sớ tâu với vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã viết một câu bất hủ: “Xin bệ hạ yêu muôn dân để cho tận chốn thôn cùng xóm vắng không còn nghe thấy tiếng ta thán, thế mới là không mất cái gốc của nhạc”.

Những đóng góp của Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất, bậc hiền tài quốc gia – đã giúp cho triều đại Hậu Lê tiến bộ vượt bậc và đạt tới cực thịnh vào đời Lê Thánh Tông. Nguyễn Trãi xứng đáng sánh ngang với các nhà chính trị lỗi lạc của mọi thời đại.

NGUYỄN TRÃI – MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

Ngoài những cống hiến vô cùng lớn lao cho đất nước, Nguyễn Trãi được toàn thể dân tộc tôn vinh còn vì nhân cách cao cả của ông.

Con người có nhân cách là người biết tự trọng, quyết chí tu thân, có lí tưởng sống cao đẹp và suốt đời hành động theo lí tưởng đó.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời. Thiên tài của ông đã may mắn gặp được bậc minh quân, được trọng dụng trong công cuộc vĩ đại: đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Ông đã hào hứng viết:

Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.

(Đề gươm)

Tài năng và nhân cách của ông đã làm nên hình tượng người anh hùng của thời đại chống ngoại xâm.

Nhưng nhân cách ông càng thực sự sáng ngời trong những nghịch cảnh của đời ông diễn ra giữa thời bình nhưng đầy dẫy phiền lụy của một triều đại phong kiến. Ngay dưới triều Lê Thái Tổ, do những lời sàm tấu của lũ quan lại trong triều (vu cho ông tội âm mưu nổi loạn, cướp ngôi!), ông đã bị nhà vua hạ ngục. Trong nghịch cảnh ấy, ông đã nén lòng uất hận, đã đặt bi kịch cá nhân mình xuống dưới sự nghiệp lớn lao của nhà Hậu Lê, dưới nền thái bình của xã tắc:

Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười. … Trong lao “độc bối” cam mang nhục, Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

(Than nỗi oan) – Thạch Can dịch

Mang cốt cách đại trượng phu, Nguyễn Trãi không bao giờ thoả hiệp, về hùa với những tà kiến của một số triều thần. Vì vậy, ông trở thành cái gai trước mắt họ. Bị họ bài xích, cuối cùng ông đành phải xin vua Lê Thái Tông cho về trí sĩ ở Côn Sơn (những năm 1437 – 1438). Lâm vào một nghịch cảnh mới, ông đã xử sự như thế nào?

Trước hết, ông nhận thức được “trong cái rủi có cái may”! Vì bị xua đuổi mà ông có được một dịp tốt nhất để chính mình chiêm nghiệm cuộc sống ẩn cư, từng được coi là điều tuyệt thú của bao hiền sĩ đời xưa, trong đó có ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán. Không chịu để cho bi kịch của cuộc sống thế tục đè bẹp, ông vươn lên tầm cao, hoà nhập vào đại tự nhiên cực kì diễm lệ. Hình ảnh của ông khác nào một tiên ông, một thánh nhân giữa núi non, mây nước, cây cỏ, chim muông:

Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay…

hoặc:

Thiêu hương đọc sách quét con am Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm. Ánh cửa trăng mai lớp lớp, Kề song gió trúc nồm nồm…

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ẩn sĩ quay lưng lại với cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cá nhân của mình. Xét theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản, đó là một biểu hiện không những hợp lí mà còn tuyệt đẹp nữa. Vì vậy mà những ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Sào Phủ, Hứa Do, Lã Vọng, Khổng Minh, Nghiêm Quang hay bọn “bát tiên”, “lục dật” ở Trung Hoa, hoặc Trần Nguyên Đán, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam… đã đi vào huyền thoại và trở thành điển cố.

Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải quyết xong bài toán hành – tàng, xuất – xử:

Ngán vòng thế tục thân danh hão, Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ. Tính khí một đời nguyên nếp cũ, Lênh đênh há giảm chí hào xưa!

(Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)

– Ngô Linh Ngọc dịch

Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

hoặc:

Non lạ nước thanh làm náu, Đất phàm cõi tục cách xa. Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá (không chịu đổi).

Vận dụng triết lí Lão – Trang, sống thoát tục, Nguyễn Trãi càng nhận thức sâu sắc một chân lí của muôn đời:

Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầu dãi có phong lưu.

Và ông hướng tới một lí tưởng mới: nếu không còn điều kiện để làm một quốc sĩ thì hãy làm một con người thật sự trong sạch và thánh thiện. Đó không phải là điều đáng mơ ước cho chúng sinh trong vòng ô trọc sao:

Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước.

Tuy nhiên, đặc tính của một nhân cách lớn là tối kị lối sống “hư sinh” (sống thừa). nguyễn Trãi chính là biểu hiện rực rỡ của cái chân lí về người quân tử mà Kinh Dịch đã nói: “Trời chuyển vần mãnh liệt, quân tử cũng tự tạo sức mạnh mà không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Trong thời gian ở ẩn tại Côn Sơn, ông đã làm bao nhiêu việc lớn lao vĩ đại, không hề thua kém việc ông tham gia kháng chiến chống Minh trước đó: tu thân, tìm ra triết lí sống mới, tổng kết những bài học về thế sự và nhân sinh, viết sách giáo khoa luân lí đạo đức, và sáng tạo cả một công trình vĩ đại về thi ca Hán – Nôm.

Ông hiểu thấu rằng luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục… là nền tảng cho đời sống hạnh phúc lâu dài của con người. Vì vậy, ông đã trước tác một tác phẩm chuyên về luân lí đạo đức mang tên Bảo kính cảnh giới (Gương quí răn mình) trong đó ông đúc kết nên những khuôn vàng thước ngọc của nền đạo đức dân tộc. Những bài “đức dục” ấy của ông, trải qua năm sáu trăm năm, đến nay dường như vẫn còn nóng hổi và sát thực với chúng ta:

– Kết bạn, mạ (chớ) quên người cố cựu, Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang? – Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, Có nhân có trí có anh hùng. – Cơm ăn miễn có, dầu thô bạc, Áo mặc âu chi quản cũ đen. – Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, Cành bắc cành nam một cỗi nên. Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp… – Của thết người là của còn, Khó khăn, phải đạo cháo càng ngon. – Bất nhân vô số nhà hào phú, Của ấy nào ai từng được chầy (lâu)? – Sắc là giặc, đam làm chi? Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi…

Không hề giáo điều với chủ nghĩa ẩn cư, khi được ông vua trẻ Lê Thái Tông mới lên ngôi mời ra giúp việc triều đình, Nguyễn Trãi lại vui vẻ “nhập thế”. Ông lại lao vào một cuộc chiến đấu mới hết sức gay go. Khi ấy nhà vua còn trẻ, lười học hành, ham chơi bời, sớm vướng víu chuyện thê nhi… Triều chính lục đục, nhất là chuyện phế lập thái tử, chuyện rắc rối giữa các bà phi… Với trách nhiệm của một bậc lương thần, ông ra sức chèo chống để hạn chế những hành động sai quấy của cả vua lẫn bọn quan lại trong triều. Chính vì vậy, ông trở thành tảng đá cản dòng đối với bọn gian thần. Cuối cùng, chúng lợi dụng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, vu cáo ông âm mưu giết vua và khép ông vào cái án tru di tam tộc!

Thảm hoạ và cái chết của Nguyễn Trãi phải được nhìn nhận như một hành vi tuẫn đạo của một bậc đại hùng đại đức, của một nhân cách vĩ đại. Nhân cách ấy vượt lên trên tầm của thời đại nhiễu nhương bấy giờ và hướng tới sự tất thắng của chân lí, đúng như những câu thơ ông viết:

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Văn không tàn lụi cũng do trời)

Là một khai quốc công thần và đại thần của triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi có thể dễ dàng đạt được tột đỉnh của vinh hoa phú quí, vậy mà ông đã khước từ tất cả và cuối cùng phải hi sinh đến ba họ chỉ vì chân lí, vì nhân nghĩa, vì nhân dân. Nhân cách cao thượng, trong sáng của ông quả có thể sánh với mặt trăng mặt trời.

NGUYỄN TRÃI – NHÀ VĂN HÓA VĨ ĐẠI

Từ xưa, loài người đã từng sản sinh ra một mẫu người vô cùng hiếm hoi: mẫu nhân tài bách khoa như Léonard de Vinci (1452 – 1519). Nguyễn Trãi của Việt Nam thuộc mẫu người đó. Ông đồng thời là nhà chính trị lỗi lạc, nhà bác học và nhà thơ vĩ đại. Ông nghiên cứu và có nhiều trước tác thuộc nhiều lĩnh vực của tự nhiên và xã hội như: quân sự (Quân trung từ mệnh tập), địa lí (Ức Trai dư địa chí), lịch sử (Lam Sơn thực lục), điển phạm của triều đình (Giao từ đại lễ), pháp luật của quốc gia (Luật thư – tác phẩm sau này được Lê Thánh Tông sử dụng làm nội dung căn bản của bộ luật vĩ đại: Bộ luật Hồng Đức), âm nhạc (ông là người tổng kết âm luật nhạc dân tộc để soạn ra quốc nhạc, chế định các nhạc cụ của ban nhạc triều đình, là tác giả chế tạo khánh đá), văn học (gồm cả văn và thơ chữ Hán và chữ Nôm).

Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu trình bày về sự nghiệp thơ văn Hán và Nôm kì vĩ của ông.

Nguyễn Trãi là cây đại thụ toả bóng rợp ngàn năm cho hậu thế. Trước ông, thơ nôm đã xuất hiện và còn để lại chứng tích ở đời Trần với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Trần Quí Khoáng, Nguyễn Biểu… (hầu hết tác phẩm của họ đã thất truyền). Những tác phẩm còn sót lại được viết khá bóng bẩy nhưng vẫn còn mang nặng khuôn sáo thơ cổ điển Trung Hoa.

Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là di sản quí báu nhất của thời kì sơ khai nền văn học dân tộc. Ông chính là một trong những “ông tổ thơ nôm” đã đặt nền móng cho nền thơ ca thành văn của dân tộc sẽ phát triển không ngừng ở các thời đại sau.

Kì tích đầu tiên của Nguyễn Trãi với thơ nôm là việc ông nhận thức được giá trị và chú tâm khai thác vốn từ ngữ của Tiếng Việt, một ngôn ngữ có đặc tính đẹp đẽ, tinh tế, biểu cảm, giàu tính tượng hình và thượng thanh, giàu âm điệu… Ông đã chọn lọc, sáng tạo thêm và sử dụng chúng trong thơ với tư cách là những từ ngữ văn học nôm đích thực như: quẩy trăng, ngại bước, thu lành lạnh, nguyệt chênh chênh, cây rợp, dửng dưng ca, hớp nguyệt, nguyệt hiện, thanh tựa nước, chim kêu cá lội, hoa xảy động, nguyệt đeo về, tổ ong tàng, núi láng giềng, mây khách khứa, say mùi đạo, đầy qua nóc, nặng với then, nắng quáng, cây im thưa thớt, gió khoan khoan đến, tơ vết, mồ hoang cỏ lục, cài lướt then, chân đi đủng đỉnh, vận xênh xang, nước biếc non xanh, đêm chờ hương quế, ngày lệ bóng hoa, nguyệt một vầng, thu vàng, tuyết bạc, ngàn núi xanh, nguyệt ba canh, lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve, phơ phơ đầu bạc, leo lẻo doành xanh …

Ông cũng mạnh dạn chuyển ngữ sang tiếng Việt nhiều từ ngữ, thành ngữ gốc tiếng Hán để cho người Việt dễ hiểu như: tường đào ngõ mận, câu quạnh cày nhàn, đạp áng mây, tấc lòng ưu ái, câu mầu, non lạ nước thanh, biển hiểm, ẩn cả, ba thân, hỏi trăng, cả dùng, cởi buồn, dưỡng dỗ, đi nghỉ, lòng thế…

Một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi là việc thay thế những câu 7 âm tiết trong thơ Đường Trung Hoa thành những câu 6 âm tiết trong thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian, No nước uống thiếu cơm ăn. Con đòi trốn dường ai quyến, Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…

Không chỉ là bậc thầy sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ nôm, Nguyễn Trãi còn tỏ rõ ông là nhà thơ nôm thiên tài của dân tộc. Những nhà thơ lớn nhất của các thời đại sau, xét theo quan điểm lịch sử, không ai có thể vượt nổi ông.

Hầu hết thơ tả cảnh của ông đều là những kiệt tác. Có những câu thơ cực kì tài tình khiến những nhà thơ hiện đại phải kinh ngạc, khâm phục như:

– Tà dương bóng ngả áp giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu. – Cửa song dãi xâm hơi nắng, Tiếng vượn vang kêu cách non. Cây rợp tán che am mát, Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn. Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn Ủ ấp cùng ta làm cái con. – Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay. – Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt, Mai rụng hoa đeo bóng cách song. Gió nhặt đưa qua ổ trúc, Mây tuôn phủ rợp thư phòng. – Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, Leo lẻo doành xanh con mắt mèo. – Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Những câu thơ như vậy đâu có thua kém những câu tuyệt tác nhất của thơ Đường Trung Hoa hay của bất kì một nền thơ ưu tú nào trên thế giới? Phải chăng đây đích thực là thứ thơ mà người đời gọi là thơ tiên?

Thơ tả tình của Nguyễn Trãi cũng tài hoa không kém: những rung động tinh tế nhất của tâm hồn nhà thơ thời xưa được diễn tả một cách thần tình:

– Loàn đơn (liều lĩnh) ướm hỏi khách lầu hồng: Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng! Ngoài ấy dù (nếu) còn áo lẻ, Cả lòng (rộng lòng) mượn đắp lấy hơi cùng! – Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. – Vì ai cho cái đỗ quyên kêu? Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. Lại có hoè hoa chen bóng lục, Thức xuân một điểm não lòng nhau…

Bằng thơ nôm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt được một cách sắc sảo và đầy rung cảm thế giới tâm tư phong phú, phức tạp, nhiều uẩn khúc của ông: những khát vọng, tâm sự ưu thời mẫn thế, những nỗi đắng cay và cả nỗi buồn được chế ngự bởi cốt cách của một bậc đại trượng phu, một vị đại ẩn sĩ:

– Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian. – Quân thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời, áo cha! – Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách, Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai? – Liệu cửa nhà xem bằng quán khách, Đem công danh đổi lấy cần câu. – Lòng một tấc son còn nhớ chúa, Tóc hai phần bạc bởi thương thu. – Cội cây là đá lấy làm nhà, Lân các, ai hầu mạc (vẽ) đến ta? – Say mùi đạo, trà ba chén, Tả lòng phiền, thơ bốn câu. – Giang sơn cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba. – Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt (nghèo) đèn xanh con mắt xanh. – Lòng người một sự yêm (chán) chưng một, Đèn khách mười thu lạnh hết mười! – Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông…

Thật diệu kì: những dòng tâm sự hàm chứa những nỗi đau buồn sâu xa ấy, đã sáu trăm năm rồi mà nay đọc lại, những kẻ hậu sinh nặng lòng thương xót vĩ nhân vẫn còn sa lệ!

Bằng khối óc mẫn tuệ của nhà hiền triết và sự trải đời ít ai sánh được, Nguyễn Trãi đã đúc kết trong thơ nôm rất nhiều triết lí thâm thúy. Một điều đặc sắc là thơ triết lí của ông không khô khan mà giàu cảm xúc nghệ thuật, khi đọc lên nghe tựa như những lời cảm thán với nhân tình thế thái:

– Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầy dãi có phong lưu. – Có thân chớ phải (bị) lợi danh vây. – Nếu có ăn thì có lo, Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. – Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co! – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, Lòng người quanh nữa nước non quanh. – Sang cùng khó bởi chưng giời, Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi? – Con cháu chớ hiềm (ngại) song viết (cơ nghiệp) ngặt (nghèo) Thi thư thực ấy báu ngàn đời. – Chỉn sá (rất nên) lui mà thủ phận. – Ngựa ngựa xe xe la ỷ (lụa là) tốt, Dập dìu là ấy chiêm bao. – Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn, Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi. – Mã (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc, Thế gian đạm bạc, đấy lòng thường!

Mang tầm vóc của một bậc thánh sư, Nguyễn Trãi đã dùng thơ nôm để truyền đạt đến đồng bào của ông những triết lí sống có giá trị nhất, đã góp phần đắc lực xây dựng nền đạo đức và nếp sống văn hoá của dân tộc ta trong thế kỉ XV mà ý nghĩa của nó sẽ được các thời đại sau kế tục.

Nguyễn Trãi là một trong những người khai sáng nền thơ nôm thành văn của dân tộc ta. Đồng thời, với thiên tài thi ca, ông trở thành nhà thơ tiếng Việt (thơ nôm) vĩ đại hàng đầu trong làng thơ Việt Nam kim cổ, là bậc thầy thơ nôm của tất cả nhà thơ các thời đại sau.

Không những là thi hào thơ nôm, Nguyễn Trãi đồng thời là văn thi hào chữ Hán lỗi lạc, để lại uy danh muôn thuở.

Bình Ngô đại cáo của ông đuợc coi là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài “Nam quốc sơn hà…” của Lí Thường Kiệt, đã làm phấn chấn tâm hồn người Việt suốt hơn 5 thế kỉ rưỡi qua.

Bài cáo nêu bật lí tưởng cứu nước cứu dân, tinh thần nhân nghĩa, trí tuệ, khí phách và ý chí dời non lấp biển của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bằng lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn chương cổ điển, bằng giọng văn khi lâm li khi hùng tráng, tác giả đã trình bày cặn kẽ lịch trình của cuộc kháng chiến, ca ngợi chiến thắng vô cùng hiển hách của dân tộc ta:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Từ Triệu – Đinh – Lí – Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán – Đường – Tống – Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt không bao giờ thiếu. … Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay… Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay, Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng. … Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hoà, Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức. … Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới…

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toàn thư)

                                     Thư lại dụ hàng Vương Thông

… Nay các ông kế cùng sức tận, quân sĩ mỏi mệt, trong thiếu lương thực, ngoài thiếu viện binh, bám hờ khu đất nhỏ mọn, nghỉ tạm ở cái thành trơ trọi, chẳng phải như thịt trên thớt, như cá trong nồi đó sao? … Nay ta tính hộ các ông có sáu điều phải thua: – Nước lụt chảy, tường rào đổ sập, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất. – Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi ta đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, mà viện binh đã thua thì các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai. – Nước các ông quân mạnh ngựa tốt đều đóng cả ở đất Bắc phòng bị quân Nguyên, không rỗi ngó đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba. – Nước các ông luôn động can qua, liên tiếp gây sự đánh dẹp làm cho người ta sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư. – Nước các ông gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, mối hoạ bùng ra từ trong nhà. Đó là điều phải thua thứ năm. – Chúng ta dấy nghĩa binh trên dưới cùng lòng, anh hùng dốc sức, quân sĩ ngày càng luyện, khí giới ngày càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Đó là điều phải thua thứ sáu. Nay các ông giữ một cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là thơ ở đỉnh cao, không thua thơ Đường, Tống. Cùng với những cây bút thơ chữ Hán cự phách của Việt nam như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…, thơ của ông đã góp phần quan trọng tạo dựng một nền thơ chữ Hán kì vĩ trong quá khứ trên đất nước ta.

Vì sao tổ tiên ta lại dùng chữ Hán để viết văn, làm thơ về những đề tài hoàn toàn thuộc đất nước và dân tộc ta? Theo thiển ý của chúng tôi, đó không phải một điều đáng mừng, đáng hoan nghênh như quan điểm của những đầu óc thiếu khả năng phán đoán và nắm bắt chân lí. Bởi còn gì tuyệt diệu hơn là dùng chính Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ – để viết tác phẩm cho tất cả người Việt cùng nghe, cùng hiểu, không phải thông dịch? Do đó, việc phải tiếp tục dùng chữ Hán để trước tác văn chương cũng như dùng làm văn tự chính thức trong bộ máy hành chính quốc gia suốt bao nhiêu thế kỉ tự chủ (sau thời Bắc thuộc), chỉ là việc “không thể nào khác được” của dân tộc ta mà thôi. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, bọn thống trị phương Bắc muốn biến nước ta thành quận huyện của Trung Hoa. Vì vậy mà chữ Việt cổ bị tiêu diệt, tiếng Việt bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài, Tiếng Hán (dưới dạng âm Hán – Việt) và chữ Hán đương nhiên giữ địa vị độc tôn. Phải mất vài thế kỉ của thời đại tự chủ, người Việt mới chế tác ra chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, bổ khuyết một lỗ hổng lớn của nền văn hóa dân tộc.

Trong hoàn cảnh “bất khả kháng” đó, Nguyễn Trãi cũng như các trí thức phong kiến khác, đã nhạy bén dùng chính chữ Hán để trước tác nên những tác phẩm thuộc đủ mọi lĩnh vực mang nội dung hoàn toàn Việt Nam. Và điều vô cùng đáng tự hào là những trước tác đó đã đạt tới trình độ tương đương với những trước tác chính cống của Trung Hoa. Chúng tôi xin trích dẫn một kiệt tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi:

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng. Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng. Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng. Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ý cánh nan thăng.

Cửa biển Bạch Đằng

Biển rung gió bấc thế bừng bừng, Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng. Kình ngạc băm vằm non mấy khúc, Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng. Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng. Việc trước quay đầu ôi đã vắng, Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.]

Nguyễn Đình Hổ dịch

Nội dung thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng phong phú như thơ nôm của ông: Có bài hùng hồn giống như Bình Ngô đại cáo (ví dụ bài thơ trên), có bài mô tả thiên nhiên tuyệt mĩ:

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nguyệt chính hồng. Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung…

(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)

[Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời, Đầu canh năm đã sáng trưng rồi. Mắt ngoài biển cả ôm trời đất, Người giữa mây xanh vẳng nói cười…]

Khương Hữu Dụng dịch

Có nhiều bài hàm chứa những tâm sự thẳm sâu, những nỗi đau đời của một con người vô cùng cao thượng nhưng lại phải trải qua bao cảnh thăng trầm giữa cuộc đời điên đảo:

Phù trục thăng trầm ngũ thập niên, Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên. Hư danh thực hoạ thù kham tiếu, Chúng báng cô trung tuyệt khả liên!

(Oan thán)

[Biển tục thăng trầm nửa cuộc đời, Non xưa suối đá phụ duyên rồi. Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười!]

Thạch Can dịch

Nguyễn Trãi từng có một nhận định sâu sắc: “Nước ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh, nhưng từ xưa đã nổi tiếng là một nước thi thư”. Ở thời đại ông, những tinh hoa của cái thi thư ấy kết tinh nơi ông, và ông có niềm tin sắt đá vào sự bất diệt của nó. Chính vì vậy mà khi lâm nạn, bị Lê Thái Tổ hạ ngục năm 1429, ông viết:

Số hữu nan đào tri thị mệnh,

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Số khó lọt vành âu bởi mệnh, Văn chưa tàn lụi cũng do trời)

Nguyễn Trãi đã mang niềm tin ấy để ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Thiên ở đây là gì? Là chân lí vĩnh cửu.

Lịch sử đã chứng minh hùng hồn chân lí vĩnh cửu mà ông hằng ôm ấp. Sự nghiệp vĩ đại của ông về chính trị, quân sự, văn chương, và phẩm cách cao cả, danh hiệu “anh hùng dân tộc” của ông ngày nay đã được toàn dân tộc ta xác nhận, tôn thờ. Không chỉ thế, vào năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông, ông đã được cả loài người tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới.

Dân tộc ta xiết bao tự hào đã sản sinh ra một con người toàn thiện làm vẻ vang cho đất nước và dân tộc!

Ở Trung Hoa, những tác phẩm văn hoá lớn của các bậc thánh hiền được gọi là những bộ KINH như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Thiết nghĩ toàn bộ trước tác bất hủ của Nguyễn Trãi rất xứng đáng với tầm vóc và danh hiệu một bộ KINH của người Việt để toàn dân tộc học tập, nghiền ngẫm trên con đường đi tới tương lai. Đó cũng chính là sự trả lời của hậu thế với câu hỏi da diết của ông:

Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng? (Mực thước người sau học nữa chăng?)

Nguồn: http://newvietart.com

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Anh Hùng Dân Tộc Trương Định Nhân Chuyến Đi Nghiên Cứu Thực Tế Của Chi Bộ Giảng Viên 3 trên website Dtdecopark.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!