Ca Dao Tục Ngữ Bắc Bộ / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Dtdecopark.edu.vn

Bài Giảng D:tục Ngữ Ca Dao Bắc Bộ.doc

Ngày đăng: 25/11/2013, 00:11

TỤC NGỮ : – Ông cúm bà Co, Ông từ trong Nghệ, Ông bò ra đây, Tín chủ tôi nay Có chút quà nầy, Mắm tôm bánh đúc, Ông xơi xong rồi Mời ông đi xa. – Thứ nhất Kinh Kỳ Thứ nhì Phố Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long. Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long – Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. Ơi người gánh nước giếng đình! Còn chăng hay đã trao tình cho ai? – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 1) (Hỏi) Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng? Sông nào bên đục bên trong ? Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh ? Ðền nào thiêng nhất tỉnh Thanh ? Ở đâu lại có cái thành tiên xây ? Ở đâu là chín từng mây ? Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng ? Chùa nào mà lại có hang ? Ở đâu lắm gỗ thời nàng biết không ? Ai mà xin lấy túi đồng ? Ở đâu lại có con sông Ngân-Hà ? Nước nào dệt gấm thêu hoa ? Ai mà sinh ra cửa, ra nhà, nàng ơi ? Kìa ai đội đá vá trời ? Kìa ai trợ thuỷ cho đời được yên ? Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Xin em giảng rõ từng nơi từng người. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 2) (Đáp) -Thành Hà-nội năm cửa, chàng ơi ! Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng. Nước sông Thương bên đục bên trong, Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh. Ðền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh, Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây. Trên trời có chín từng mây, Dưới sông lắm nước, núi nay lắm vàng. Chùa Hương-tích mà lại ở hang ; Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không ? Ông Nguyễn Minh-Không xin được túi đồng, Trên trời lại có con sông Ngân-hà. Nước Tàu dệt gấm thêu hoa; Ông Hữu-Sào sinh ra cửa, ra nhà, chàng ơi ! Bà Nữ-Oa đội đá vá trời ; Vua Ðại-Vũ trị thủy cho đời yên vui. Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Em xin giảng rõ từng nơi từng người. – Hà Nội ba mươi sáu phố phường Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh. Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen. Làm quen chẳng được nên quen Làm bạn mất bạn ai đền công cho. – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Bao giờ lấp ngã ba Tranh Để ta gánh đá xây thành Cổ Loa. – Lênh đênh ba bốn chiếc thuyền kề Chiếc ra Hà Nội, chiếc về sông Dâu. Vì tằm em phải hái dâu Vì người lịch sự em ngồi rầu bên nong. Lênh đênh chiếc bách giữa dòng Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ Ba năm trực tiết còn gì là xuân? – Ổi Quảng Bá, cá Hồ Tây Hàng Ðào tơ lụa làm say lòng người Lụa nầy thật lụa Cố Đô Chính tông lụa cống các cô ưa dùng . – Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn Hỡi ai xây dựng nên non nước này. – Bên Tây có chiếc tàu sang Sinh ra khố đỏ, quần vàng, áo thâm Cho nên anh chịu âm thầm Vai vác khẩu súng, tay cầm bình toong Ra đi sông cạn đá mòn Ra đi thương nhớ vợ con ở nhà Việc Tây anh phải trẩy xa Khi ở Hà Nội khi ra Hải Phòng Nói ra đau đớn trong lòng Vợ con nào biết Vân Mòng là đâu. – Ta lên Hà Nội tìm mình Trầu cau tiếp đãi thân tình biết bao Chân đi miệng lại khấn cầu Lạy Giời phù hộ gặp nhau phen này. – Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi Sông Nhị nước chảy phân đôi một dòng Đôi ta chua ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày. – Con sông chạy tuột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương Nhớ người cố quận tha hương Nhớ ai thì nhớ nhưng đường thời xa. – Thứ nhất là hội Cổ Loa Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Tràm. – Đường về xứ Lạng mù xa Có về Hà Nội với ta thì về Đường thủy thì tiện thuyền bè Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. – Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng. – Hà Nội là trái tim ta Trái tim đất nước, gần xa giữ gìn. Mày mà đụng đến trái tim, Sóng căm thù sẽ nhận chìm mày ngay. Đã chôn hăm mốt máy bay Vẫn còn sẵn hố đợi mày ở đây. – Hà Thành là chốn kinh đô Ngọc Sơn, Tháp Bút, vua Lê tượng đồng Đua nhau ngàn tía muôn hồng Một màu nước biếc soi lồng bóng cây Đêm nào cũng có tích hay Kìa nhà chớp bóng, ta nay rẽ vào Lòng em nghĩ ngợi ra sao? Sán Nhiên, Quảng Lạc ồn ào cả đêm Cải Lương Hý viện kề bên Ngọt ngào tiếng hát cũng nên mất tiền Những khi vui thú giải phiền Dạo chơi Bách thú, quanh miền Hồ Tây Mặt hồ hây hẩy heo may Trong trong gió mát dễ say lòng người Hà thành đẹp lắm ai ơi! – Hà Thành là chốn kinh đô Đứng ở Hàng Mắm mà trông Kìa Ô Quan Chưởng, Cầu Đông đó mà Hàng Đường, Hàng Đậu đâu xa Hàng Nâu rẽ lại thì là Đồng Xuân Hàng Than, Hàng Cót rảo chân Đến phố Hàng Lọng là gần nhà ga Trở lại đến phố Hàng Lờ Rẽ tay phải phố Hỏa Lò chẳng sai Nhằm dốc Cây Thị ta xuôi Chiều tà, Chợ Đuổi thì người mới đông Bán mua vội vã cho xong Nhá nhem thời tối chợ không kéo dài Phố ta tạm kể thế thôi Phố Tây thì phải dạo chơi: Tràng Tiền Thái Hà, Trường Bưởi, Trung Hiền Có tầu điện chạy liên miên cả ngày Tiền đi thì thực rẻ thay Hai xu cái vé lên ngay tha hồ Lại còn cả bến ô tô Chở khách, chở đồ tùy ý người thuê. Bờ hồ cảnh ấy vui ghê . – Hà Thành là chốn kinh đô Vừa đông, vừa đẹp lại vừa rộng thay! Cửa nhà san sát đó đây Gác trên gác dưới bên ngoài, bên trong Ai ơi đứng lại mà trông Nguy nga tráng lệ non bồng nào hơn! Dập dìu xe ngựa bon bon Ban đêm đèn điện sáng hơn ban ngày. Này đây hàng Trống, Hàng Bài Đi thêm mấy bước rẽ ngay Hàng Hòm Hai bên chồng chất tráp son Hàng Gai chỉ bước đường con rõ ràng Hàng Đào rồi đến Hàng Ngang Tập trung khách trú bán hàng vui thay Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Mây Hàng Bút, Thuốc Bắc, tạt ngay Hàng Bồ Hiệu ta, hiệu Khách đổ xô Bán đèn, bán lọ những đồ rất sang Cầu Gỗ trông ra rõ ràng Đi thêm mấy bước thì sang Hàng Bè Dần dần tới chợ Hàng Tre Ngổn ngang nhộn nhịp thuyền bè dưới sông . – Hà Nội như động tiên sa Thơm ngát là chị hàng hương Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng Lôi thôi là chị hàng giang Bán rổ, bán xảo, bán sàng, bán nia Thưỡi môi là chị hàng thìa San sát hàng bát nhiều bề long đong Đỏ đon như chị hàng hồng Hàng cam, hàng quít, bưởi bòng thiếu chi Trống quân, cò lả sót gì Mỗi người một vẻ ai thì kém ai Lại thêm cạo mặt ngoáy tai Lại thêm ngoài chợ có người họa tranh Ngoài ra cải, diếp, răm, hành Thìa là, cải cúc xanh xanh rõ ràng Có người bán lược, bán gương Có người bán cả hòm rương, tủ quầy Có người bán dép, bán giày Có người bán cả ghế mây để ngồi Suốt ngày chợ họp ai ơi Thượng vàng hạ cãm bao người bán mua Hay cắp như chị hàng cua . – Hà Nội như động tiên sa Sáu giờ máy hết đèn xa đèn gần Vui nhất là chợ Đồng Xuân Thức gì cũng có xa gần bán mua Giữa chợ có anh hàng dừa Hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng Ai ơi đứng lại mà trông Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong nượp nà Cổng chợ có chị hàng hoa […]… cành phù dung ĐÔNG BẮC CAO BẰNG ( Hoà An – Trà Lĩnh – Trùng Khánh – Hạ Lang – Phục Hoà – Thạch An Nguyên Bình – Thông Ninh – Hà Quảng – Bảo Lạc – Bảo Lâm – Quảng Yên ) BẮC CẠN ( Bạch Thông – Chợ Đồn – Ba Bể – Ngân Sơn – Na Rì – Chợ Mới – Pắc Nặm) – Bắc Cạn có suối đãi vàng Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh TUYÊN QUANG ( Sơn Dương – Yên Sơn – Hàm Yên – Chiêm Hoá – Nà Hang ) LẠNG SƠN ( Cao Lộc – Văn Lãng… làng Tiếu nấu nước điếu cũng ngon Làng Tiếu ở Sen Hồ,Gia lâm,tỉnh Bắc Ninh nổi tiếng về rau ngon – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày – Trên trời có sông Ngân Hà Tỉnh Nam sông cái, Bắc là sông sâu Bắc Ninh lại có sông Cầu Anh còn tơ tưởng sông Dâu, sông Đào Anh… ươm tơ – Nam Định còn có những giới thiệu những phiên chợ của họ một ca ch thú vị: Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình Mông bốn chơi chợ Quả linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng một năm mới có một phiên Ca i nón em đội cũng tiền anh mua… Vân Mòng là đâu – Bưởi Đại Trà, cam Đồng Dụ, gà Văn Cú VĨNH PHÚC ( Vĩnh Yên – Phúc Yên – Tam Dương – Mê Linh – Yên Lạc- Vĩnh Tường Lập Thạch – Bình Xuyên – Tam Đảo ) HẢI DƯƠNG ( Cẩm Giàng – Bình Giang- Gia Lộc – Thanh Miện – Ninh Giang – Tứ Kỳ Thanh Hà – Kim Thành – NamSách – Kinh Môn – Chí Linh ) HÀ GIANG ( Vị Xuyên – Bắc Mê – Yên Minh – Quản Bạ – Hoàng Su Phì – Xín Mần Bắc Quang – Đồng Vân – Mèo Vạc… sâu Quảng ) Hồng Gai có núi Bài Thơ Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên – – Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già Việc gì mà rủ nhau ra Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân – Cái cân có quỷ có ma Gạo vào một lối, gạo ra một đường Thẻ tôi ba mươi sáu kí rõ ràng Về nhà khảo lại chỉ còn mười lô ( Ca dao vùng mỏ ) ( Cái cân cân gạo… họa đồ Ai vô xứ Nghệ thì vô – Nhút Thanh Chương tương Nam Đàn – Cam Xã Đoài, xoài Bình Định Cổng làng Tò, trâu bò làng Hệ ( xã Đoài thuộc huyện Nghi Lộc ) BẮC GIANG ( Lục Ngạn – Lục Nam – Sơn Động – Yên Thế – Hiệp Hoà – Lạng Giang Tân Yên – Việt Yên – Yên Dũng ) – Gái Xuân Mai, trai Yên Thế – Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ cầu Lim BẮC NINH ( Yên Phong – Quế Võ – Tiên Du – Thuận Thành – Gia Bình… chua Hương thơm xếp để trong bồ Trần bì cam thảo sài hồ hoàng liên Hàng cô đáng giá bao tiền Để ta chung vốn góp tiền buôn chung Buôn chung ta lại bán chung Được bao nhiêu lãi ta cùng chia nhau ( Chợ Vị Hoàng thuộc thành phố Nam Định ) – Em là con gái Phù Long Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu Dù đi buôn đâu bán đâu Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm (cũ nhất nói đến một mảnh đất xưa, địa… phường phố, đủ vành núi sông Nhị Hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này Nùng Sơn, Long Đỗ đâu đây Tam Sơn núi đất cao tầy Khán Sơn Ngọc Sơn nhân tạo bé hơn Bên hồ Hoàn Kiếm ngay đền Văn Xương Trúc Bạch, Mã Cảnh nên tường Xa hồ Bảy Mẫu giáp đường gần nhau Ngoài đường quai có hồ sâu Tây Hồ rộng rãi ngay đầu phía tây Xung quanh bao bọc kín thay Đất cao thành lũy, cửa xây nên tường Mười lăm… – Hữu Lũng – Bắc Sơn – Bình Gia – Tràng Định ) THÁI NGUYÊN ( Sông Công – Phú Bình – Phổ Yên – Đại Từ – Định Hoá – Phú Lương – Đồng Hỷ – Võ Nhai ) ( Chưa có tư liệu ) TÂY BẮC Yên BÁI ( Nghĩa Lộ – Trấn Yên – Văn Chấn – Yên Bình – Văn Yên – Lục Yên – Trạm Tấu – Mù Căng Chải ) ( Chưa có tư liệu ) ĐIỆN BIÊN ( Lai Châu – Điện Biên Đông – Mường Lay – Mường Nhé – Tủa Chùa – Tuần Giáo ) Ở miền Bắc, vùng sông… chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ ngây thơ mình bị báng nước sông Bờ Chém cha cái nước sông Bờ Tưởng rằng báng nước ai ngờ báng con HOÀ BÌNH Kỳ Sơn – Đà Bắc – Mai Châu – Tần Lạc – Lương Sơn – Kim Bôi – Lạc Sơn Lạc Thuỷ – Yên Thuỷ – Cao Phong ) – Ở miền Bắc, vùng sông Bờ thuộc Hòa Bình,Lai Châu nước độc ,khí độc nổi tiếng về bệnh sốt rét đến nổi gái chưa chồng lội qua cũng chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ . Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu

Dự Báo Thời Tiết Qua Ca Dao, Tục Ngữ Của Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ

TS. Nguyễn Thị Phương Anh

Khoa Việt Nam học và tiếng Việt

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Lao động sản xuất ra của cải vật chất bao giờ cũng là một quá trình tương tác với điều kiện tự nhiên. Vì thế con người luôn luôn phải dựa vào tự nhiên để vừa tận dụng, khai thác những mặt thuận lợi đồng thời cũng phải tìm cách thích ứng, hài hoà với tự nhiên. Vi vậy việc khám phá để chinh phục và thích ứng với tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cư dân nông nghiệp. Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, con người chỉ có thể quan sát thực tế để rút ra những quy luật nhằm thích ứng với tự nhiên và vận dụng nó vào đời sống hàng ngày. Chính vì thế ca dao, tục ngữ phản ánh về những hiện tượng khí hậu, thời tiết là một bộ phận quan trọng ra đời sớm nhất thể hiện những chiêm nghiệm và dự báo thời tiết của cha ông ta từ ngàn xưa để lại được lưu truyền trong kho tàng tri thức ca dao, tục ngữ của người Việt.

Để nương nhờ vào tự nhiên nhưng không hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên, con người phải hiểu được các cấu trúc và quy luật của yếu tố tự nhiên để đề phòng và kịp thời ứng phó. Trong ứng xử với tự nhiên, một mặt con người biểu thị sự quy phục, sợ hãi, nương nhờ vào tự nhiên nhưng mặt khác con người lại thể hiện sự vươn lên nắm bắt, làm chủ các quy luật của tự nhiên.

Nhưng thái độ sùng bái, tâm lý nương nhờ thiên nhiên của cư dân nông nghiệp được hiểu ra sao, đến mức độ nào không dễ gì có thể xác định được. Việc thống kê để tìm ra tần xuất những câu có nội dung phản ánh thái độ của cư dân với tự  nhiên có thể giúp chúng ra phần nào hình dung được mức độ đó.

Thực tế thống kê cho thấy, trong số 411 câu ca dao, tục ngữ nói về khí hậu thời tiết thì có 57 câu (chiếm tỉ lệ 14%) phản ánh nội dung con người phụ thuộc, nương nhờ, vào tự nhiên. 354 câu (chiếm 86%) nói về kinh nghiệm dự báo thời tiết. Chúng tôi tạm gọi loại này là con người làm chủ được tự nhiên. Những kinh nghiệm này rút ra thông qua việc quan sát trực tiếp và quan sát các sự vật trung gian.

1. Con người phụ thuộc, nương nhờ vào tự nhiên

Từ buổi bình minh của lịch sử, thiên nhiên là môi trường sống thân thuộc nhưng cũng hết sức khắc nghiệt đối với con người. Rừng rậm hoang vu, đầm lầy biển cả, mưa nắng thất thường… luôn là mối lo âu canh cánh trong lòng người nông dân “Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả”. Nhưng rồi trước thiên nhiên – những đấng siêu nhiên đáng tôn sùng, người nông dân lại tự động viên an ủi mình “Biết sự trời mười đời chẳng khó”. Vì vậy cách khôn khéo nhất của người nông dân là gửi gắm lòng tin vào đấng tối cao là ông Trời để cầu xin Trời đất phù hộ độ trì cho con người và vạn vật tốt tươi, mưa thuận gió hòa. Họ luôn “Trông trời, trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng  trông ngày trông đêm…”,” Ơn trời mưa nắng phải thì// Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu…”, “Nhờ trời mưa thuận gió hoà

Con số thống kê cho thấy trong tổng số 57 câu có nội dung con người phụ thuộc vào Thiên nhiên, Trời đất đều bắt đầu bằng các động từ có ý nghĩa cầu xin, trông mong và tỏ lòng biết ơn như: “Trông trời”, “Ơn trời”, “Lạy trời” để cầu xin trời đất mang đến cho họ những điều tốt lành, mưa thuận gió hòa.

Biểu đồ 1: Biểu thị hành động và đối tượng con người nương nhờ vào thiên nhiên

Hành động cầu xin của con người Đối tượng cầu xin của con người

Người nông dân chân lấm tay bùn, hồn hậu chất phác luôn tin rằng “cứ xin là Trời cho”, “cứ cầu là được”. Vì thế con người luôn cầu xin Trời ban cho Mưa – Nắng – Gió (nước, ánh sáng và không khí) để cuộc sống con người và mùa màng bội thu. Đặc biệt với nền sản xuất chính của người Việt là canh tác  lúa nước, mưa là một trong những yếu tố thời tiết có ý nghĩa quyết định trong nông nghiệp. Cho nên bà con nông dân đã nhận thức được từ rất lâu có mưa mới có nước để cày, bừa, cấy, gặt… “Không nước không phân

2. Con người làm chủ tự nhiên

Miền Bắc là nơi có bốn mùa, mùa nào cũng có những thử thách khắc nghiệt đi kèm với những thuận lợi. Mùa xuân ấm áp cây cối tốt tươi cũng là mùa của sâu bệnh. Mùa hè nắng nhiều sinh hạn hán, mưa lắm hay gây ra lụt lội, mùa đông gió rét, sương muối tác hại đến vật nuôi, cây trồng… Bằng những chiêm nghiệm, quan sát trực tiếp các hiện tượng thiên nhiên và những biểu hiện của các vật trung gian người ta đã rút ra những kinh nghiệm có tính quy luật của các hiện tượng làm biến đổi thời tiết, khí hậu giúp người nông dân biết trước để góp phần hạn chế những tác hại của thiên tai và rủi ro trong sản xuất.

Qua số liệu thống kê cho thấy có 354 câu trên tổng số 411 câu nói về khí hậu, thời tiết, chiếm 86% có nội dung về thời tiết với đầy đủ các khía cạnh thể hiện con người đã cố gắng tìm cách để chinh phục và làm chủ thiên nhiên. Trong đó, 76 câu (chiếm 21%) qua quan sát những biểu hiện của động vật, 51câu (chiếm 15%) qua quan sát những biểu hiện của thực vật, 227 câu (chiếm 64%) nói về các hiện tượng tự nhiên khác cùng tham gia vào dự báo thời tiết.

2.1 Quan sát các hiện tượng tự nhiên

Theo các chuyên gia về khí tượng, thủy văn các hiện tượng về khí hậu thời tiết có thể chia thành 3 loại[1]: Hiện tượng xảy ra trong tầng khí quyển gần mặt đất như: mây, mưa, gió, sương… Những hiện diện trong khí quyển như dông, sấm, chớp… Những hiện tượng quang học trong khí quyển như cầu vồng, quầng, tán… Tất cả những hiện tượng thiên nhiên đó đã được phản ánh với mật độ khá dày trong kho tàng ca dao, tục ngữ về khí hậu thời tiết .

Bảng 1: Các hiện tượng tự nhiên tham gia vào dự đoán thời tiết

Hiện tượng tự nhiên Số lượng (câu) Tỉ lệ (%) Tổng

(số lượng/ %)

Các hiện tượng tự nhiên tham gia vào dự báo thời tiết Hiện tượng ở tầng khí quyển gần mặt đất Mưa 29 12.8  

77/33.9%

Nắng 22 9.7

Mây 8 3.3

Gió 11 4.9

Sương 7 3.0

Hiện tượng trong khí quyển Dông 7 3.0  

27/12.0%

Sấm 5 2.2

Chớp 15 6.6

Hiện tượng quang học trong khí quyển Cầu vồng 6 2.6  

43/ 19.0%

Quầng 5 2.2

Tán 3 1.3

Trăng 12 5.3

Sao 6 2.6

Ráng 4 1.8

Mống 7 3.0

Thời gian nông lịch Tháng 29 12.8 29/13.0%

Các hiện tượng khác 51 22.1 51/22.0%

Tổng 227

100 227/100

Con số thống kê ở bảng 1 cho thấy người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm làm căn cứ dự báo hết sức phong phú về tình hình thời tiết qua mối quan hệ giữa các hiện tượng của tự nhiên. Con người có thể căn cứ vào các hiện tượng trong khí quyển, hiện tượng khí quyển gần mặt đất, hiện tượng quang học, thời gian nông lịch như “tháng”:  và các hiện tượng xung quanh khác để nhận biết được thời tiết sắp diễn ra như thế nào. Từ kết quả phân tích tư liệu cho biết các hiện tượng khí quyển gần mặt đất như: mưa, nắng, mây, gió, sương tham gia vào dự báo thời tiết, chiếm tỷ lệ cao nhất (33.9%) so với thời gian nông lịch và các hiện tượng tự nhiên khác tham gia vào dự báo thời tiết (22%). Chẳng hạn: Mặt trời có quầng thì hạn, mặt trăng có tán thì mưa, Mặt trăng úa đỏ trời sắp có mưa, Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa, Nắng lắm thì mưa nhiều, Sấm động gió ta;; Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm… Hay căn cứ vào các hiện tượng quang học trong khí quyển như: “quầng, tán, ráng, vồng, trăng, sao…” Ví dụ: Ráng mỡ gà ai có nhà thì chống; Nắng chóng trưa, mưa chóng tối; Mống đông, vồng tây, không mưa dây cũng bão giật”; Trăng quầng thì cạn (hạn hán), trăng tán thì mưa… Hiện tượng trong khí quyển như “Dông, sấm, chớp”; chẳng hạn như: “Chớp đàng đông nước đồng tràn ngập, Chớp Đông nhay nháy gà gáy thì mưa, Sấm ra cà trổ, Sấm tháng chín, nhịn ăn rau, Chớp bể chớ mừng, chớp rừng chớ lo”. Người nông dân có thể xem các hiện tượng của thiên nhiên cũng có thể dự báo được kết quả của mùa vụ, cây trồng “Cày ruộng tháng năm, xem trăng rằm tháng tám”.

Trong số các hiện tượng tự nhiên tham gia vào dự báo thời tiết thì mưa, nắng có tần số xuất hiện cao nhất so với các hiện tượng ở tầng khí quyển gần mặt đất, chiếm 33.9%. Vì vậy người dân rất chú trọng quan sát đến hai kiểu thời tiết này dưới nhiều góc độ. Tiếp đến là tần số xuất hiện của hiện tượng chớp, gió, mây. Bởi vì tất cả những hiện tượng này có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và nó xuất hiện thường xuyên trong thế giới tự nhiên nên đã được ông cha ta quan sát để rút ra kinh nghiệm và đưa vào lời ăn tiếng nói hàng ngày, gần gũi với đời sống của người dân. Những hiện tượng đó có thể quan sát ở nhiều góc độ, nhiều biểu hiện khác nhau. Và điều đó cũng chứng tỏ những biểu hiện báo hiệu trời mưa, nắng, gió được quan sát qua các kiểu hiện tượng báo trước như: chớp, gió mây, mống, ráng, trăng, sao… luôn là đối tượng tìm hiểu của người bình dân.

Thời gian nông lịch trong năm của người Việt từ ngàn xưa cho đến nay được chia thành 12 tháng: từ tháng giêng đến tháng mười hai hay còn được chia thành mùa: xuân, hạ, thu, đông. Theo đó, tất cả các hiện tượng thiên nhiên diễn ra hàng ngày đều được đề cập tương đối đầy đủ trong đó. Điều này đã được người nông dân đúc kết: “Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng”. Căn cứ vào thời gian mà người nông dân quan sát, chiêm nghiệm thời tiết trong ngày và trong năm “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối”, “Tháng bảy nước nhảy lên bờ”, “Tháng chín mưa rươi, tháng mười mưa cũ”, “Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn”, “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân…Người dân Việt từ xa xưa đã quan sát hiện tượng để đưa ra những nhận xét tinh tế trước sự biến đổi của thời tiết. Không chỉ có sự khác biệt giữa mùa này, mùa kia mà còn có sự thay đổi rõ nét trong một mùa. Các tháng trong năm được nhắc đến nhiều nhất đó là tháng giêng, tháng bảy, tháng ba, tháng chin, tháng mười. Những hiện tượng thời tiết được cha ông ta quan sát cụ thể, tỉ mỉ và phải chăng ngày nay có một nền chiêm tinh học về dự báo thời tiết được kế thừa từ những tri thức dân gian của ông cha. Để rồi từ đó mới phát minh ra những công cụ đo nắng, đo mưa, tính gió, tính mây để dự báo thời tiết từng ngày cho con người như ngày nay.

Trong bảng thống kê các thực thể trong tự nhiên và các vật dụng trong nhà cũng tham gia vào dự báo thời tiết. Những đối tượng được quan sát chúng tôi xếp vào cột các hiện tượng khác có số lượng gồm 51 câu (chiếm 22.1%). Những thực thể ngoài thiên nhiên và đồ vật hiện hữu xung quanh đời sống hàng ngày của con người cũng đã có những biểu hiện ra bên ngoài mà con người quan sát được như:”Ao tù vẩn đục và hôi, bọt nổi lên nước thì trời sắp mưa”; “Chĩnh đổ mồ hôi mưa trôi đầy đồng”;”Đá đổ mồ hôi, mưa trôi đầy đồng”…

Dù có biểu hiện ở mặt này hay mặt khác nhưng tất cả các sự vật, hiện tượng tham gia vào dự báo thời tiết đều có những biểu hiện nhạy cảm và gần gũi với đời sống con người.

2.2 Dự báo thời tiết qua quan sát động vật

Việc quan sát động vật làm căn cứ cho dự báo thời tiết là một trong những nội dung quan trọng được người Việt đề cập trong kho tàng ca dao, tục ngữ. Tuy số lượng câu ca dao, tục ngữ không nhiều, chỉ với 76 câu, nhưng những chỉ báo thu nhận được qua biểu hiện của động vật là rất quan trọng vì đó là những đối tượng nhạy cảm với những giác quan có liên hệ chặt chẽ với tự nhiên. Các loài động vật báo hiệu thời tiết được phản ánh qua ca dao, tục ngữ có thể phân ra thành 5 nhóm như sau: Nhóm các loài chim, nhóm côn trùng, nhóm động vật lưỡng cư, nhóm động vật dưới nước và nhóm bò sát.

Bảng 2: Động vật tham gia vào dự báo thời tiết

Động vật Số lượng (câu) Tỉ lệ (%) Tổng

(số lượng/ tỉ lệ%)

Động vật tham gia vào dự báo thời tiết  

Nhóm các loài chim

Én 17 23.0  

30/37.4

Cò 6 8.0

Sếu 1 1.3

Ác 1 1.3

Bồ câu/Cu cu 3 4.0

Nhóm côn trùng Kiến 10 13.1  

21/ 27.7

Chuồn chuồn 5 6.5

Ong 2 2.6

Đom đóm 2 2.7

Mối 1 1.3

Tò vò 1 1.3

Nhóm động vật dưới nước Cá 13 17.1 17/24.1

Ốc 3 4.0

Cua 1 1.3  

Nhóm động vật lưỡng cư Cóc 3 3.9 5/6.6

Ếch 2 2.7

Nhóm bò  sát Tắc kè 1 1.3 3/3.9

Rắn 2 2.7

Tổng 76 100 76/100

Những loài vật gắn bó với đồng ruộng thường có những biểu hiện dự báo về thời tiết. Hàng ngày trên cánh đồng của mình, người nông dân nhìn vào những loài vật để cảm nhận sự thay đổi của thời tiết. Từ đó, họ có cách ứng dụng thời tiết vào trong công việc canh tác của nhà nông cho phù hợp và kịp mùa vụ.

Trong tổng số 16 loài vật tham gia vào dự báo thời tiết, sau con chim én với tần số nhiều nhất là 17 lần là con cò, xuất hiện 6 lần (tỉ lệ 8.0%), con ác, con sếu xuất hiện ít nhất là 1 lần (1.3%). Con én là một loài chim nhỏ trong tự nhiên, lông màu đen, cánh dài và nhọn, chân ngắn để có thể đậu được nhưng không thể đi lại được trên mặt đất. Chim én bay nhanh (35m/s), thường gặp nhiều vào mùa xuân. Vào những ngày cuối đông sang xuân, những đàn chim én di trú để tránh cái lạnh của mùa đông. Để rồi khi xuân về, én cùng gió bay về quê hương của mình và bắt đầu bước vào một cuộc sống mới. Ở Việt Nam, chim én được coi là sứ giả của mùa xuân, mùa xuân và chim én là hai biểu tượng có quan hệ mật thiết với nhau, nhất là ở nơi có khí hậu nhiệt đới như nước ta. Ở châu Âu, chim én trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự hồi quy vĩnh cửu và bố cáo về sự phục sinh. Trong thần thoại thế giới Celtic, chim én lại biểu trưng cho sự phì nhiêu, sự luân phiên và sự đổi mới. Còn trong Đạo Hồi, chim én biểu trưng cho đức lương thiện và là loài chim của thiên đường. Với khả năng nhạy cảm và tinh tế của loài chim én, người Việt đã quan sát chim én để biết được diễn biến của thời tiết sắp xẩy ra. Chim én đã được lưu truyền trong kho tàng ca dao, tục ngữ người Việt về nội dung dự đoán thời tiết khá đậm nét.

Tần số xuất hiện đứng thứ hai sau nhóm các loài chim là nhóm các con vật sống dưới nước: cá, ốc, cua xuất hiện 17 lần chiếm 24.1%. Trong số đó cá (nói chung) là một con vật được nhắc đến nhiều nhất 13 lần (tỉ lệ 17.1%). Trong đời sống người Việt, cá là sinh vật quen thuộc và gợi liên tưởng mạnh hơn cả. Với đặc điểm bản thể cá là một sinh vật mà đời sống gắn với không gian nước rộng lớn, cá có khả năng báo hiệu sự thay đổi của thời tiết “Cá ngoi mặt nước là trời sắp mưa, Gió bấc cá thu, sương mù cá đục, Mồng bốn cá đi ăn thề, mồng tám cá về cá vượt vũ môn”…

Nhóm côn trùng gồm có 5 loài vật: kiến, chuồn chuồn, ong, mối, tò vò tham gia vào dự báo thời tiết với tổng số xuất hiện 14 lần (chiếm tỉ lệ 18.6%) đứng thứ 3 trong nhóm thực vật tham gia vào dự báo thời tiết. Trong nhóm đó có chuồn chuồn xuất hiện nhiều nhất là chuồn chuồn 5 lần, kiến 3, ong 2, đom đóm 2, mối và tò vò 1 lần. Chuồn chuồn trong thiên nhiên là một trong những loài côn trùng có khả năng thể hiện giá trị thẩm mỹ cao của lớp sâu bọ do có đôi cánh chập chờn với các loài hoa, với thiên nhiên khoáng đạt. Vì vậy chuồn chuồn là loài vật rất nhạy cảm với thời tiết. “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm”

Nhóm động vật lưỡng cư chỉ có 2 loại (cóc, ếch) và nhóm bò sát (tắc kè, rắn) tham gia vào dự báo thời tiết. Đây là loại động vật rất nhạy với thời tiết, nhưng tính dự báo của chúng khá đơn điệu nên cũng chỉ được nhắc đến trong một số trường hợp.

2.3 Dự báo thời tiết qua quan sát thực vật

Bảng 3: Thực vật tham gia vào dự báo thời tiết

Thực vật Số lượng (câu) Tỉ lệ (%) Tổng

(số lượng, %)

Thực vật tham gia vào dự báo thời tiết Cây trồng Cây lương thực Lúa 18 35.0 22/42.7

Khoai 4 7.9

Cây ăn quả Nhãn 3 5.9  

12/23.8

Bưởi 2 4.0

Ổi 1 2.0

Dâu 2 4.0

Chuối 1 2.0

Sim 1 2.0

Trám 1 2.0

Cau 1 2.0

Cây hoa màu Dưa 3 5.9 6/11.7

Cà 2 3.9

Mía 1 2.0

Cỏ cây (có trong tự nhiên) Cây (Rễ) si 4 8.0 7/14.0

Tre 1 2.0

Xoan 1 2.0

Bàng 1 2.0

Cỏ Cỏ gà 3 5.9 4/7.8

Rêu 1 2.0

Tổng 51 100 51/100

Trong số các loài thực vật tham gia vào dự báo thời tiết, có thể chia ra thành 5 nhóm: Nhóm cây lương thực (lúa, khoai), nhóm cây hoa màu (dưa, cà, mía), nhóm cây ăn quả (nhãn, bưởi, ổi, dâu, chuối sim, trám, cau) nhóm cỏ cây (có trong tự nhiên) (cỏ gà, rêu, (rễ) si, tre, xoan, bàng). Nhóm cây lương thực tuy chỉ có mặt 2 loại lúa và khoai nhưng có tần số xuất hiện cao hơn cả 22/51 lần (chiếm tỉ lệ 42.7%), lúa xuất hiện 18 lần, khoai xuất hiện 4 lần. Điều này cũng dễ hiểu vì nền sản xuất của Việt Nam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trong đó cây lúa chiếm một vị trí rất quan trọng. Cây lúa rất gần gũi với người nông dân, lúa được coi là món ăn chính để nuôi sống con người. Vì vậy ngoài việc xuất hiện tên chính là lúa, chúng tôi còn thống kê được 23 lần xuất hiện với các tên của biến thể như: mạ, đòng đòng, thóc, gạo “Chớp đàng đông mưa dông mạ tốt; Trông mưa cho tốt lúa đòng

Các nhóm cây có tần số xuất hiện tiếp theo lần lượt là nhóm cây ăn quả 12 lần với 8 loài cây khác nhau, chiếm 23,8%, Nhóm cỏ cây (nói chung) xuất hiện 11 lần với 6 loại cây chiếm tỉ lệ 21.8%. Cuối cùng là loại cây hoa màu với số lần xuất hiện là 6 với 3 loại cây trồng chiếm tỉ lệ 11.7%. Trong nhóm thực vật, ngoài việc quan sát sự thay đổi của cây lúa, người nông dân còn rất chú ý đến những biểu hiện của cây nhãn, cỏ gà, rễ si, dưa, cà, chuối, tre… để dự báo thời tiết.

KẾT LUẬN

Con người phụ thuộc vào Thiên nhiên, Trời đất đều bắt đầu bằng các động từ “Trông trời”, “Ơn trời”, “Lạy trời” để cầu xin trời đất mang đến cho họ những điều tốt lành. Trong đó: Mưa, nắng là hai hiện tượng có tần số xuất hiện cao nhất so với các hiện tượng tự nhiên tham gia vào dự báo thời tiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Thúy Anh (2009), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

Nguyễn Duy Cách (2001), Tri thức về lao động sản xuất qua ca dao, tục ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4, tr.15.

Nguyễn Nghĩa Dân (1987), Đạo lý trong tục ngữ, Tạp chí Văn học, số 5, tr.57-66.

Chu Xuân Diên (2004), mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TPHCM, tr.282.

Vũ Dung, Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

Vũ Minh Giang (2009), Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Giáo dục.

Diệp Đình Hoa (2000), Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, HN

Phan Huy Lê (chủ biên), (1997), Cuộc sống nông thôn ở châu thổ sông Hồng, Nxb Thế giới, Hà Nội.

Đỗ Kim Liên (2006), Trường ngữ nghĩa về cây lúa và các sản phẩm từ lúa phản ánh đặc trưng văn hóa lúa nước trong tục ngữ người Việt, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4 tr.34-39.

Nguyễn Trọng Lực (1949), Tiếng nói của đồng ruộng (hay là nghề nông Việt Nam qua ca dao, tục ngữ), Nxb Khoa học Xã hội.H

Hoàng Hữu Triết, (1973), Bước đầu tìm hiểu về khí tượng dân gian Việt Nam , Nxb Giáo dục, H, tr.5

Trần Quốc Vượng (2005), Môi trường con người và văn hoá, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

[1]  Hoàng Hữu Triết, (1973), Bước đầu tìm hiểu về khí tượng dân gian Việt Nam , Nxb Giáo dục, H, tr.5

Share this:

Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

‘Bình Định nón Gò Găng

Bún Song thần An Thái

Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

Xoài Tượng chín Hưng Long

Mặc ai mơ táo ước hồng

Tình quê em giữ một lòng trước sau.

Bình Định có hòn Vọng Phu

Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

Em về Bình Định cùng anh

Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

1.Muốn ăn bánh ít lá gai

Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

Ba Trò Ba đi học trường xa

Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

.Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

.Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

Anh về dưới vạn thăm nhà

Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

30.Khéo khen con tạo trớ trêu

Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

32.Ai về thăm cảnh An Khê

Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

2. Ca dao và dân ca: – Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao vàdân ca không rõ. Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm. Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao. Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng. Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương, còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào, thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

“Đồng đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Hay:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga. Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được.. Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh. Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh, tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

B. Thời kỳ xuất hiện: So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người. Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ… Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

1. Nội dung của tục ngữ: Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả. Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người. VD:

Quá mù ra mưa Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa Vỏ quýt dày có móng tay nhọn Cái sảy nảy cái ung Cõng rắn cắn gà nhà …

2. Hình thức của tục ngữ: Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

Làm phúc phải tội Gà què ăn quẩn cối xay Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm …

Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

No nên bụt, đói nên ma Bút sa, gà chết Có tật giật mình

Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

May tay hơn hay thuốc Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

Hoặc thể lục bát

Cá tươi thì xem lấy mang Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

3. Nội dung của ca dao: Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương Tuyệt mù khói toả ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội. Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

4. Hình thức nghệ thuật của ca dao: Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú. Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao. Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc. Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

Mặt nạc đóm dày Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn[/cente] Ca dao ngoài nghệ thuật cụ thể hoá, còn có nghệ thuật nhân cách hoá, dùng vật vô tri để gán cho những tâm tư, tình cảm con người.

Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thời một dạ khăng khăng đợi thuyền

Một số thể cổ điển của ca dao: Thể phú: Là trình bày, diễn tả…

Đường lên xứ lạng bao xa Cách một trái núi với ba quãng đồng Ai ơi đứng lại mà trông Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ Bụng anh vẫn phẳng như tờ giấy phong…

Thể tỉ: là so sánh, người ta thường mượn một cái khác để ngụ ý, so sánh, hay gửi gắm tâm sự của mình. Đây là phương pháp nghệ thuật chủ yếu trong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm. So sánh cũng là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết. So sánh trực tiếp:

Gối mền, gối chiếu không êm Gối lụa không mềm bằng gối tay em

Lối tỉ gián tiếp, tức nghệ thuật ẩn dụ, một phương pháp nghệ thuật tế nhị hơn:

Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa, bến cũ, con đò khác đưa

…. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng – Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? – Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng? ………. Ca dao còn một phương pháp nghệ thuật độc đáo nữa là cách biểu lộ cảm xúc đối với ngoại cảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình. Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui, cũng có thể là buồn [center] Cơm trắng ăn với chả chim Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

Trên trời có đám mây vàng Bên sông nước chảy có nàng quay tơ Nàng buồn nàng bỏ quay tơ Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm. Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến. Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời: vd:Tôi lấy chân khoả lại Tôi lấy bàn khoả lại hay:Thấy những lời kêu trách Nghe những lời kêu trách Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài. Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt. Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi VD:Trai: Tiết thanh nhàn thong thả Muốn thăm hỏi vài câu Cuốc thánh thót kêu sầu Gió phảng phất mùa sâu Nhớ trong sách đã lâu: Chuyện “Tư mã phượng cầu” Thương thì mũi tìm trâu Trâu đâu tìm chạc mũi Gái: Trời mở rộng phong quang Giã ơn trời mở rộng phong quang Em đánh tiếng đua sang Đêm tàn canh vò võ Tay em cầm con bấc đỏ Mong bỏ đĩa dầu đầy Mời bạn ở lại đây Đôi ta giở lời rày Tình đó với nghĩa đây Trai: Giống như đọi nác đầy Bưng nhẩn nhẩn trên tay Không khuy sơ một hột Gió nỏ triềng một hột Công đôi ta thề thốt Kể đã mấy niên rồi Lòng đã quyết lứa đôi Ngãi đã quyết thề bồi Nhất ngôn nói hẳn lời Đừng bốn chốn ba nơi Đừng trăn gió chào mời Trăng nhiều trăng rạng rỡ Trăn nhiều đèn rạng rỡ Gái: Em đã có chồng rồi Em đã có lứa rồi Vung úp đã vừa nồi Đũa ghép đã thành đôi Bạn đừng có ỡm ờ với tôi! Tôi lấy chân khoả lại Tôi lấy bàn khoả lại Trai: Têm một quả trầu không Bỏ vô hộp con rồng Đi băng nội băng đồng Qua năm bảy khúc sông Qua chín mười đỗi đồng Nghe tin em đã có chồng Anh quăng lắc vô bụi Bạn gạt tùa vô bụi.

Anh thương em một tháng hai kỳ Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày Năm rộn mà chầy Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ) Xuân qua rồi hè /đến Thu đã muộn, đông rồi Nhớ bạn cũ chưa nguôi, Sang lập xuân vũ thuỷ Đêm em nằm em nghĩ Nghĩ kinh trập, xuân phân, Lòng tưởng sự ái ân Sang thanh minh, cốc vũ Đêm dêm nằm nỏ ngủ Nhớ bạn mãi thường thường Tiết lập hạ nhớ thương Bước sang tuần tiểu mãn Trông ra ngoài chán chán Tiết mang hiện lại gần Người đập đất, gánh phân Để mùa màng gặt hái Anh thương em mãi mãi Sang hạ chí tiết hè Em nghe tiếng sầu ve Em buồn trong gia sự Bạn buồn trong gia sự *** Tiết tiểu thử, đại thử Trời nắng sốt lắm thay! Ra ngồi tựa cột cây Anh với em than thở Bạn với mình than thở *** Tiết lập thu, xử thử Ai diều sáo mặc ai Vàng lác đác giếng tây Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ) Nhớ mãi người bạn cộ *** Vừa đến tiết bạch lộ Bầy chim trắng bay sang Cây heo hắt lá vàng Sang thu phân hàn lộ. *** Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy) Tiết sương giáng lại kề Trông bạn cũ ta về Sang lập đông giá rét Tiết tiểu tuyết, đại tuyết Trời giá rét lắm thay Sang đông chí cấy cày Dạ bồi hồi nhớ bạn Tiết tiểu hàn chưa dạn Đã bước sang đại hàn Dạ tưởng nhớ người ngoan Vừa năm cùng tháng tận Vừa cuối mùa cuối tận. *** Phận lại ngồi trách phận Phận nỏ giám trách phận Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

6. Hát ví Nghệ Tĩnh: Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

1. Hát phường vải:Giai đoạn 1: Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng. Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

Hát dạo

Bấy lâu thức nhắp mơ màng Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng * Bấy lâu nghe hết tiếng nàng Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng Nghe tin anh cũng vội mừng Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang * Bấy lâu anh mức chi nhà Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu * Đồn rằng cá uốn thân vây Đồn em hay hát, hát hay anh tìm * Chốn này vui vẻ, tưng bừng Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi * Đêm khuya trời tạnh sương im Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần. * Dừng xa, khoan kéo, ơi phường! Hình như có khách viễn phương tới nhà * Đi qua nghe tiếng em reo, Nghe xa em kéo, muốn đeo em về. * Đi ngang trước cửa nàng Kiều, Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu * Đi ngang thấy búp hoa đa`o Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai * Đồn đây là chốn Đao` Nguyên Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi * Lạ lùng anh mới tới đây, Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng * Đến đây vàng cũng như son Ai ai thời cũng như con một nhà

Khi nháy mắt, khi nhện sa Khi chuột rích trong nhà Khi khách kêu ngoài ngõ Tay em đưa go đủng đỉnh Tay em chìa khoá động đào Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen * Mừng rằng bạn đến chơi nhà Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

Hát hỏi

Em có chồng rồi, em nói rằng chưa Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh * Em chưa có chồng, em mới đến đây Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng. Em về đục núi lòn qua, Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng * Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc, Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây Hai ta tình nặng nghĩa dày, Đối ra đáp được, lúc này tính sao? * – Đến đây hỏi khác tương phùng Chim chi một cánh bay cùng nước non? -Tương phùng nhắn với tương tri, Lá buồm một cánh bay đi khắp trời * – Lá gì không nhánh, không ngành? Lá gì chỉ có tay mình trao tay? – Lá thư không nhánh, không ngành, Lá thư chỉ có tay mình trao tay. * – Nghe tin anh hoc có tài Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng? – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày! * – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi? – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa? * Nghe anh bôn tẩu bấy lâu Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh? – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi Cầu danh, cầu lợi, cầu tài Cầu cho đây đó làm hai giao hoà * Nhớ em nhất nhật một ngày Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông – Chờ em nửa tháng ni rồi Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng * – Nghe tin anh giỏi, anh tài Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng? – Thiên thai là của nàng Kiều Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012 Số lượt xem: 21143