Danh Ngôn Cuộc Sống Việt Nam / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Dtdecopark.edu.vn

Danh Ngôn Phụ Nữ Việt Nam

Những Câu Nói Hài Hước Siêu Bựa Nhất Cười Ra Nước Mắt

Châm Ngôn Cười Ra Nước Mắt

Danh Ngôn Hay Nhất Của Ralph Waldo Emerson P I

Những Stt Ý Nghĩa Giúp Bạn Trưởng Thành Hơn Trong Cuộc Sống

Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ

2. Paris By Night 90 – Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam (Part 1)

3. Vào dịp này, chị em phụ nữ được nhiều người bày tỏ sự quan tâm và tôn vinh dưới nhiều hình thức, như tặng hoa, tặng thiệp và kèm theo những lời chúc mừng.

4. Những câu danh ngôn bất hủ về phụ nữ Một người đàn bà xấu mặt nhưng đẹp lòng là người đàn bà đẹp.

9. Tìm hiểu chăm sóc bà bầu, làm đẹp, thời trang, Gia đình, đưa phụ nữ LÊN ĐỈNH.

15. Tổng hợp danh ngôn về tính cách hay nhất, những quan điểm của những người nổi tiếng về tính cách, những câu nói về tính cách hay nhất.

17. Aug 17, 2022 · Phụ nữ luôn muốn bản thân không ngừng đổi mới trong mắt đối phương, còn các chàng trai lại không ngừng tìm hiểu những điều còn chưa biết về họ.

20. Tuyển tập những câu danh ngôn phụ nữ hay nhất, những câu nói hay về phụ nữ, tìm hiểu những điều bạn chưa biết về phụ nữ.

21. Jul 21, 2022 · Là Phụ Nữ có chết cũng cần phải ghi lòng tạc dạ những điều này để cuộc sống sung sướng và yên bình – Duration: 15:46.

22. Phụ nữ Việt Nam là nguồn nhân tố quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam.

24. Danh ngôn Việt Nam “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn.

36. Để nói về vẻ đẹp của người phụ nữ, có lẽ nếu vận dụng mọi ngôn ngữ trên thế giới cũng thật khó để diễn tả ….

38. Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và chẳng có lời chúc mừng nào có thể sánh bằng những câu danh ngôn dành cho phụ nữ nhằm tôn vinh những đóng góp và cống hiến của họ đối với gia đình và xã hội.

40. Báo phụ nữ – Đọc báo tin tức 24h mới nhất trong ngày về phụ nữ Việt Nam và hạnh phúc gia đình,xem báo phụ nữ online để cập nhật bí quyết làm đẹp,giữ gìn hạnh phúc.

42. 4000 năm giữ nước và dựng nước, không kém cạnh các đấng mày râu, ở bất kỳ đời nào thời nào, ở bất cứ công việc nào từ làm khoa học, sáng tác văn thơ, giết giặc, trị nước, cũng có những.

43. 100 Bài Bolero Nhạc Vàng Xưa ĐẶC BIỆT Hay Tê Tái Nhạc Hay Việt Nam 792.

44. Nhân tuần lễ 8/3, Tạp chí Phụ nữ xin dành thời gian chia sẻ tâm sự của người phụ nữ Việt Nam thành danh trên đất Mỹ.

45. Cách đây từ rất nhiều năm, những người phụ nữ Việt Nam đã được dành tặng 8 chữ vàng là “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

47. – PIGAULT LEBRUN -Cái khó khăn chính đối với người đàn bà đức hạnh không phải là chinh phục họ, mà là đưa họ vào một nơi khép kín.

Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Dũng Khí Hay Nhất !!!

Danh Ngôn Về Lòng Can Đảm

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dũng Cảm, Danh Ngôn Hay

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người Thâm Sâu, Khó Đoán

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người ✅

Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

Danh Y Danh Ngôn Tinh Hoa

Những Câu Nói Hay Về Nỗi Sợ: 100+ Danh Ngôn Hay

Danh Ngôn Cuộc Sống Gia Đình

Kho Tàng Danh Ngôn Cuộc Sống

100 Câu Nói Hay Về Nghị Lực Cuộc Sống Giúp Bạn Tự Tin Vượt Lên Chính Mình

Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

1.1. Khái quát về danh ngôn

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn

1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh

1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh”

1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam.

1.3.1. Khái quát về văn hoá

1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam

Chương 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM

2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc

2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa

2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng so sánh không nói về người

2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều nói về con người

2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều không nói về con người

2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối tượng so sánh nói về người

Chương 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI VIỆC LƯU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA

3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc

3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong danh ngôn việt nam

3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật

3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật

3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực

3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng

3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình

Top 6 Bài Văn Hay Viết Về Chân Lý Sống “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng” Của Nhà Văn Lỗ Tấn

Suy Nghĩ Về Câu Nói: “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng”

Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường

Danh Ngôn Phụ Nữ, Hiểu Phụ Nữ Qua Câu Danh Ngôn Về Phụ Nữ

Danh Ngon Chuc Mung Nam Moi

Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

Danh Ngôn Tiếng Anh Về Thời Gian

Những Câu Stt Hay Về Bản Thân Mình Đáng Suy Ngẫm

150+ Stt Hay Về Cuộc Sống Chất Đáng Suy Ngẫm

Những Lời Chúc Ngày Quốc Tế Phụ Nữ Mùng 8/3 Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Stt Thất Bại, Danh Ngôn & 70 Câu Nói Hay Về Sự Thất Bại Ý Nghĩa

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS. Đào Thị Vân

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, em đã được

sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo.

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Boxxyno.com Đào Thị Vân Người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của thầy, cô

giáo trong Viện ngôn ngữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và khoa sau

Đại học – Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đọc và chỉ ra

những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012

Học viên: Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố

trong một công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả

Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục …………………………………………………………………………………………………. i

Danh mục các bảng ……………………………………………………………………………….iii

MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ………………………………………………………………. 10

1.1. Khái quát về danh ngôn …………………………………………………………………… 10

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn ……………………………………………………………. 10

1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn………………………………………… 11

1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh…………………………………… 12

1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh” ……………………. 12

1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ …………………………………. 15

1.2.3. Cấu trúc so sánh ……………………………………………………………………. 17

1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong

danh ngôn Việt Nam. …………………………………………………………………………….. 25

1.3.1. Khái quát về văn hoá……………………………………………………………… 25

1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam 30

1.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 31

Chƣơng 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH

TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM …………………………………………………… 33

2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam ……………………………………………………………………………………………… 33

2.1.1. Số liệu khảo sát …………………………………………………………………….. 33

2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……… 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii

2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc … 42

2.2.1. Nhận xét chung …………………………………………………………………….. 42

2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam …….. 43

2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa …………… 80

2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng

so sánh không nói về người …………………………………………………………….. 80

2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều

nói về con người…………………………………………………………………………….. 82

2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh

đều không nói về con người …………………………………………………………….. 83

2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối

tượng so sánh nói về người ……………………………………………………………… 84

2.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 85

Chƣơng 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI

VIỆC LƢU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA ……………………………………………. 87

3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt

Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc ………………………………………… 87

3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong

danh ngôn việt nam……………………………………………………………………………….. 88

3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật …………………………………………………… 88

3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật ………………………………………………….. 94

3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực ………………………………………………… 101

3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng ………………………………… 103

3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc

gia đình……………………………………………………………………………………….. 105

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Bảng tổng kết so sánh luận lí và so sánh tu từ trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 35

Bảng 2.2: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh đồng nhất trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 38

Bảng 2.3: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh dị biệt trong danh ngôn Việt Nam …. 41

Bảng 2.4: Bảng tổng kết các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……. 43

Bảng 2.5: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong phép so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

Bảng 2.6: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong cấu trúc so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

Bảng 2.7: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố t trong phép so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 69

Bảng 2.8: Bảng tổng kết từ ngữ chỉ phương diện so sánh trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 69

Bảng 2.9: Bảng tổng kết các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong danh

ngôn Việt Nam…………………………………………………………………….. 70

Bảng 2.10: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

Bảng 2.11: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

Bảng 2.12: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh trong danh ngôn Việt Nam

được phân loại theo nội dung A và B. …………………………………….. 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. So sánh là một thao tác được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc

sống hàng ngày nói chung, trong văn chương nghệ thuật nói riêng. Để nhận thức

thế giới khách quan, để nắm được bản chất quy luật của các sự vật hiện tượng

muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, con người thường sử dụng thao tác này.

Trong sáng tạo nghệ thuật, so sánh là thủ pháp hết sức quen thuộc,

được sử dụng thường xuyên. Đây là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc

sắc. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những

cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh

được coi là một trong những phương thức tạo hình gợi cảm hiệu quả nhất, có

tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng

tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người. Mặt khác nó

còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp con

người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn. Nghiên cứu về

phương thức so sánh sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và

giá trị của biện pháp này đối với việc cấu thành và biểu đạt ngôn ngữ nói

chung, văn học nghệ thuật nói riêng.

1.2. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại được lưu giữ dưới

nhiều hình thức. Một trong số những hình thức ấy là các lời danh ngôn. Theo

Từ điển tiếng Việt, (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học, tái bản năm

2010 ; Hoàng Phê chủ biên) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được người

đời truyền tụng” , có tác giả hoặc

khuyết danh. Tuy nhiên, hiếm có ai đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu cách thức sử

dụng từ ngữ, giá trị của các biện pháp tu từ mà cụ thể là phép so sánh trong

danh ngôn. Đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với nhiều bạn đọc. Việc lựa

chọn nghiên cứu “phép so sánh trong danh ngôn của Việt Nam” là một việc

làm cần thiết, phù hợp với nhu cầu hiểu biết, cần khám phá sâu hơn về danh

ngôn của độc giả.

Vì những lí do trên nên trong luận văn này, chúng tôi đã mạnh dạn tìm

hiểu về: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung và nghiên cứu danh

ngôn Việt Nam nói riêng

2.1.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung

Với những bài học sâu sắc và ý nghĩa thiết thực, đã từ lâu danh ngôn

trở thành món ăn mang đến cho nhân loại những hương vị độc đáo, mới mẻ.

Mỗi lời danh ngôn vừa như một trải nghiệm, lại vừa như một phát hiện lý thú,

sáng tạo của con người về công việc, kinh nghiệm sống, quan niệm tình yêu,

hôn nhân, hạnh phúc, gia đình… Hiện nay, có không ít những công trình biên

soạn, sưu tầm các câu danh ngôn: Danh ngôn thế giới đông tây kim cổ (Biên

soạn, biên dịch, sưu tầm, khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang

Năng, Nxb Văn hóa thông tin, 2004); Danh ngôn thế giới (Biên soạn: Ngọc

Khuê, Nxb Trẻ, 2001); 3500 câu danh ngôn nổi tiếng thế giới (Trần Mạnh

Thường tuyển chọn, Nxb Văn hóa thông tin, 1996); Danh ngôn cổ điển; Danh

ngôn hiện đại (Tri thức Việt biên soạn, Nxb Lao động, 2010); Sổ tay danh

ngôn (Nguyễn Huy Giới sưu tầm, biên soạn, Nxb Lao động Xã hội, 2006);

Danh ngôn Trung Hoa (Nguyễn Hữu Trọng biên dịch, Nxb Đồng Nai, 1996);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

Danh ngôn tình yêu (Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Tây phương xử thế (Kiều Văn biên soạn Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa, bổ sung, Nxb. Đồng Nai, 2003); Danh ngôn

thế giới tình bạn – tình yêu (Trường Tân, Trường Khang sưu tầm, tuyển chọn,

Nxb Văn hoá Thông tin, 2004)…

Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn và khảo

cứu một số lượng khổng lồ lời danh ngôn của nhân loại, được đúc rút từ nhiều

nguồn tư liệu khác nhau trên thế giới. Hệ thống những lời danh ngôn ấy dung

nạp từ những câu nói nổi tiếng của các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử loài

người cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, châm

thành nguồn tư liệu quý báu và vô giá cho hậu thế.

2.1.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có

nền văn hóa, văn học mang đậm dấu ấn dân tộc. Có thể nói những lời danh

ngôn Việt Nam chính là cái hồn, là thần thái của con người nơi đây, bởi

chúng được hoài thai, sinh ra và nuôi dưỡng trong lòng dải đất hình chữ S.

Danh ngôn Việt Nam không chỉ là những câu nói hay của các danh nhân

người Việt, mà còn là các câu tục ngữ, ca dao sâu sắc do cha ông từ xưa

truyền đời để lại. Biên soạn sưu tầm các lời danh ngôn này có các công trình

tiêu biểu: Từ điển danh ngôn: Thế giới và Việt Nam (Nguyễn Nhật Hoài, Vũ

Tiến Quỳnh, Nxb Phương Đông, 2006); Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và

biên soạn: Trí Thắng, Kim Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000); Danh ngôn

Đông – Tây: Pháp – Việt (Biên soạn: Vương Trung Hiếu, Trần Đức Tuấn, Nxb

Đà Nẵng, 1994); Tục ngữ Anh – Pháp – Việt (Lê Ngọc Tú, Nxb Khoa học xã

hội, 1996); Danh ngôn tình yêu hôn nhân gia đình: Việt – Anh – Pháp (Vương

Trung Hiếu, Nxb Đồng Nai, 1998); Lời non nước: Danh ngôn Chủ tịch Hồ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

Chí Minh (Đào Thản sưu tầm và chú dẫn, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2005);

Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb Thuận Hóa,

2005); 365câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên soạn,

Nxb Thanh niên, 2010); Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh

niên, 2008)…

Nhìn chung, các công trình trên đã sưu tầm và biên soạn một số lượng

tương đối các lời danh ngôn Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống:

kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, gia đình, ứng xử, quan niệm về hôn

nhân, công việc, xử thế… Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa dân tộc, các lời

danh ngôn đều mang đậm chất Việt Nam, những hình ảnh, từ ngữ, cách thức

diễn đạt… đều lưu giữ dấu ấn văn hóa Việt Nam.

2.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam về phương diện ngôn ngữ

2.2.1. Nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ nói chung

Trên thực tế, có rất nhiều tác giả biên soạn, sưu tầm các lời danh ngôn.

Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì có rất

ít công trình. Tiêu biểu hơn cả trong số đó là bài viết Vận dụng tục ngữ, thành

ngữ và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân, tạp chí ngôn ngữ, số 10,

Tr.1-7, 2004).

Trong bài viết này, tác giả có đề cập tới danh ngôn trong việc vận dụng

danh ngôn trên báo chí. Song, để nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương

diện ngôn ngữ, hình thức biểu đạt, các biện pháp tu từ… thì chưa có tác giả

nào quan tâm đến.

2.2.2. Nghiên cứu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

Trong nghiên cứu văn học, một trong các phương thức biểu hiện của

ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm văn chương là phương thức so sánh. Nhìn từ

góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức biểu đạt hình tượng của

mọi ngôn ngữ. Vì thế đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn

ngữ học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nền văn học thế giới, từ

những buổi đầu, phương thức so sánh đã được nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp

Arisstole quan tâm. Trong cuốn Thi học, ông đã đề cập tới so sánh. Arisstole

xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rộng rãi trong văn

chương, bởi nó mang đến giá trị biểu cảm và tính thẩm mĩ cao.

Với nền văn học Trung Hoa cổ đại, phép so sánh được thể hiện qua

những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thi ca dân gian Trung Quốc. Tỉ

gió trong văn học.

Vấn đề này ở nước ta cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học

đề cập đến. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX khi xuất hiện những

công trình nghiên cứu tiếng Việt thì trong đó phương thức so sánh cũng được

miêu tả trong giáo trình bài giảng Phong cách học. Nghiên cứu về phép so

sánh có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình

Việt ngữ (Nxb Giáo dục, H. 1964), Phong cách học tiếng Việt (Nxb Giáo dục,

H. 1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H.

2005); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt

(Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1973); Nguyễn Thế Lịch với

Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngôn ngữ, số 3, 1991); Hữu Đạt với Phong cách

học Tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001); Hoàng Kim Ngọc với cuốn

So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình (Nxb KHXH, 2009)…

Ở những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đi đến sự hình thành

khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của phương thức so sánh. Đây là cơ sở

lý thuyết vô cùng quý báu giúp chúng ta tham khảo trước khi đi sâu nghiên

cứu, khám phá về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

2.3. Tổng kết về tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

Kết quả khảo sát tư liệu cho thấy, đã có nhiều công trình sưu tầm và

biên soạn danh ngôn Việt Nam, danh ngôn thế giới. Nhưng để đi sâu và tìm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

hiểu đầy đủ, toàn vẹn về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì hiếm có

hoặc có rất ít công trình. Đặc biệt, tìm hiểu về phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam thì chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào. Bởi vậy, trong

khuôn khổ luận văn này, bước đầu chúng tôi đi tìm hiểu về phép so sánh trong

danh ngôn Việt Nam, từ đó thấy được giá trị của chúng trong sáng tạo nghệ

thuật truyền thống.

3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát của luận văn là các lời

danh ngôn Việt Nam trong một số công trình sau:

+ Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và biên soạn: Trí Thắng, Kim

Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000);

+ Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb

Thuận Hóa, 2005);

+ 365 câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên

soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

+ Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh niên, 2008);

+ Danh ngôn thế giới Đông Tây kim cổ (Biên soạn, biên dịch, sưu tầm,

khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang Năng, Nxb Văn hóa thông

tin, 2004 )

+ 7500 câu danh ngôn (Nhiều tác giả biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

+ 3600 câu danh ngôn (Mai Ngọc Lan biên soạn, Nxb Văn hóa Thông

tin, 2010);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

+ Danh ngôn hôn nhân và gia đình (Việt Hương sưu tầm, Nxb Thanh

Niên, 2005)

+ Danh ngôn thế giới (Việt Hùng sưu tầm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005).

– Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phép so sánh trong các

câu danh ngôn của người Việt về hai phương diện sau:

(1) Nghiên cứu đặc điểm của phép so sánh được sử dụng trong các câu

danh ngôn của người Việt: (Cấu trúc, ngữ nghĩa; Phương thức so sánh; Hình

thức so sánh…);

(2) Nghiên cứu phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt

với vai trò lưu giữ tri thức văn hoá dân tộc.

4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu:

4.1.1. Về mặt lí luận: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn của

Việt Nam, người viết nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của phép so

sánh và phân loại phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, đồng thời qua đó

thấy được vai trò lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc của phép so sánh trong danh

ngôn người Việt.

4.1.2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn Việt

Nam, người viết hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham

khảo cho những ai muốn nghiên cứu danh ngôn về phương diện ngôn ngữ nói

chung và phép so sánh nói riêng.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:

căn cứ lí luận cho đề tài;

2. Thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí đã

định trước;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

3. Miêu tả, phân tích đối tượng nghiên cứu đã phân loại;

4. Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu được và rút ra kết luận.

5. Các phƣơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên

cứu chủ yếu sau đây:

5.1. Phương pháp thống kê, phân loại

Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại

đối tượng nghiên cứu, cụ thể ở đây là thông kê và phân loại những trường hợp

sử dụng phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt trong nguồn tư

liệu đã chọn.

5.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp

Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích đối tượng

nghiên cứu và tổng kết các kết quả nghiên cứu.

5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh các câu danh ngôn về

một số phương diện cụ thể khi cần.

6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

– Về mặt lí luận:

Đây là lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu

sắc về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam về phương diện cấu trúc và

ngữ nghĩa. Nếu đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm về

vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam nói riêng, trong văn học

nói chung.

– Về mặt thực tiễn

Như đã nói ở phần mục đích của đề tài, luận văn sẽ là tài liệu tham

khảo cho những ai muốn học tập và nghiên cứu về phép so sánh sử dụng

trong danh ngôn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Cơ sở lí luận

Chƣơng 2: Kết quả khảo sát và phân loại phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam

Chƣơng 3: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri

thức văn hóa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Khái quát về danh ngôn

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

1.1.1.1. Định nghĩa danh ngôn trong từ điển

Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học,

Hoàng Phê chủ biên ; H. 2010 ) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được

người đời truyền tụng” .

Cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Đại học quốc gia TPHCM; Nguyễn

Như Ý chủ biên, năm 2009) đưa ra định nghĩa về danh ngôn như sau:

“Danh ngôn là câu nói ngắn gọn, sâu sắc của một nhà tư tưởng, nhà

hoạt động chính trị xã hội hay nhà khoa học, văn nghệ sĩ nổi tiếng về con

người và cuộc sống” ;

Theo Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh (Nxb Văn hóa Thông tin;

Song Dương, Đặng Thông chủ biên; H. 2010) thì so sánh là “xem xét để tìm

ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước,

phẩm chất” .

Ở cuốn giáo trình này, ngoài nghiên cứu những biện pháp tu từ khác,

tác giả còn bàn về hình thức biểu hiện của biện pháp tu từ so sánh. Có thể nói,

đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học ở

Việt Nam nghiên cứu về các biện pháp tu từ nói chung và biện pháp tu từ so

sánh nói riêng.

b) Định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa:

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, hai tác giả này cũng đưa ra định

nghĩa về so sánh:

” So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu

với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi

ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc,

người nghe” [17,190].

Như vậy, trong định nghĩa trên, hai tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về

so sánh tu từ mà còn đề cập đến hiệu quả nghệ thuật khi sử dụng phép so sánh.

c) Định nghĩa của tác giả Nguyễn Thế Lịch:

Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật tiếng

Việt” (đăng trên Số phụ, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1988), tác giả đã đưa ra định

nghĩa về so sánh như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Ngắn Gọn Và Xúc Tích Nhất

Những Câu Nói Vui Về Cuộc Sống Tình Yêu Hài Hước Bá Đạo

Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Bạn Trai Cũ.

Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Em Gái Hay, Ý Nghĩa Nhất

21 Câu Nói Kinh Điển Chỉ Có Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (Phần 3)

Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi

Những Câu Nói Hay Của Bts ❤️ ❤️

Danh Ngôn Về Chờ Đợi

65+ Câu Nói Về Duyên Số, Duyên Nợ, Sự Tình Cờ Trong Cuộc Sống

Danh Ngôn Về Danh Dự Và Dối Trá

Những Câu Nói Tỏ Tình Dễ Thương

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

I. Chuẩn bị :

Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

II. Giờ học :

Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

– Châm ngôn của GĐPT là gì ?

– Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

– Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

– Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

– Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

– Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

– Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

– Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

– Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

– Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

– Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

Bộ Sưu Tập Những Câu Nói Hay Về Bóng Đá Độc Nhất Vô Nhị

Danh Ngôn Tiếng Anh Ý Nghĩa Về Biển Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo

Tuyển Chọn Những Bài Thơ 6 Chữ Hay Nhất,dạt Dào Cảm Xúc

Thải Tập Vạn Giới Chương 430: 6 Chữ Châm Ngôn

15 Câu Châm Ngôn Xử Thế Kinh Điển Nhất Định Phải Biết

100+ Danh Ngôn Hán Việt Về Tình Yêu, Tình Bạn, Cuộc Sống

Danh Ngôn Hay Nhất Của John Adams

20 Câu Nói Nổi Tiếng Của Steve Jobs

Những Câu Danh Ngôn Khổng Tử Hay Nhất Nên Đọc 1 Lần Trong Đời

Danh Ngôn Về Kiên Trì

+555 Câu Nói Hay Về Thành Công, Nỗ Lực Và Kiên Trì

Sự nghiệp chớ nên cầu mong không có chông gai, trắc trở vì không có chúng thì ý chí sẽ không kiên định. – Khổng Tử

Việc đã thành, không nên nói lại. Việc nhất định xảy ra, không nên can ngăn. Việc đã qua, không nên trách. – Khổng Tử

Phú quý mà có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm, phú quý mà không thể cầu được, thì ta cứ theo sở thích của ta. – Khổng Tử

Một mình trông, chẳng bằng cùng nhiều người trông, sáng hơn; một mình nghe, chẳng bằng cùng nhiều người nghe, suốt hơn. – Hàn Thi Ngoại Truyện

Rồng mà thất thế, thì cũng như giun. – Ngỗi Ngao

Giàu sang mà tài đức không xứng, thì tai vạ lớn. – Vương Phù

Phúc đến thì bụng khôn ngoan, họa lại thì thần mê muội. – Sử Chiếu Thông Giám

Người ta soi gương, thấy mặt bẩn, thì lau rửa ngay và khen gương tốt. Sao khi có tội lỗi, gặp được ai chỉ trích, thì lại ghét mà không ơn. – Hoài Nam Tử

Bần tiện sinh ra cần kiệm, cần kiệm sinh ra phú quý, phú quý sinh ra kiêu sa, kiêu sa sinh ra dâm dật, dâm dật lại sinh ra bần tiện. – Sử Điển Nguyện Thể Tập

Trời cho ta giàu sang sung sướng, là chiều chuộng để cho ta dễ làm lành; trời bắt ta nghèo khổ lo buồn, là mài giũa để cho ta kiên gan, bền chí. – Trương Hoành Cừ

Nước quá trong cá chẳng còn, người quá nóng vội trí khôn kém nhiều. – Tăng Quảng Hiền Văn

Thà rằng chính trực mà thiếu thốn, chứ không khuất tất để dư thừa. – Tăng Quảng Hiền Văn

Cùng anh trò chuyện một đêm, còn hơn đọc sách mười năm miệt mài. – Tăng Quảng Hiền Văn

Có ruộng chẳng gắng cấy cày, kho không để chịu tháng ngày thiếu ăn.

Có sách chẳng cố học chăm, con cháu ngu dốt có gì sai đâu. – Tăng Quảng Hiền Văn

Núi rừng còn có cây mọc thẳng, ngay thẳng trên đời chẳng có ai. – Tăng Quảng Hiền Văn

Ngay trong ngay cũng đừng tin vội, mà hãy nên phòng người bất nhân. – Tăng Quảng Hiền Văn

Mờ sáng dậy ngay, rảy nước quét sân, để trong ngoài gọn sạch.

Đêm đến đi ngủ , đóng rào khóa cửa, tất phải tự kiểm tra. – Chu Tử Gia Huấn

Nén được cơn giận nhất thời, bớt đi được nỗi sầu lo trăm ngày. – Tăng Quảng Hiền Văn

Thuốc chữa được bệnh chưa sâu, rượu sao khuây nổi nỗi sầu thấm xương. – Tăng Quảng Hiền Văn

Cháu con có phúc cháu con, chớ vì con cháu mà làm ngựa trâu. – Tăng Quảng Hiền Văn

Người đến trước được làm vua, người đến sau phải nhận thua làm thần. Chớ nói anh đi sớm, còn người đi sớm hơn. – Tăng Quảng Hiền Văn

Chỉ ai không cầu lợi mới không hại, chỉ ai không cầu phúc mới không họa. – Hoài Nam Tử

Thân dê mà lốt cọp, thấy cỏ thì thích, thấy chó sói thì run, quên mất cả bộ da khoác là lốt cọp. – Dương Tử

Lửa bốc lên cao, nước chảy xuống thấp, thế mà lửa bao giờ cũng thua nước. – Văn Trung Tử

Chứa lành gặp lành, chứa dữ gặp dữ. Xét kỹ mà coi, trời đất chẳng lầm việc báo ứng đâu. Làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác. Nếu không thấy gặp, là vì chưa đến lúc mà thôi. – Minh Tâm Bảo Giám

Làm ơn không mong trả ơn, cho người ta rồi chớ có cầu người ta trả ơn. – Tố Thư

Không biết mệnh trời thì không thể làm người quân tử. Không biết lễ thì không thể tự lập thân. Không biết chữ tín thì không hiểu được người. – Khổng Tử

Giữ được đức mà không biết phát huy, tin phục đạo lý mà không kiên định làm theo. Có người ấy thì ích lợi gì? Không có người ấy thì hại gì? – Tử Trương

Loại người làm bộ cao thượng, giả vờ thật thà chất phác, kì thực là kẻ hại đạo đức. – Khổng Tử

Nghe thiên lệch thì sinh hoạ, chuyên quyền độc đoán thì thành loạn. – Trâu Dương

Học tập phải như đuổi không kịp, dù có đuổi kịp còn sợ mất mát điều đã học. – Khổng Tử

Biết được mục đích cần đạt đến sau đó mới có thể kiên định. Định rồi sau mới yên ổn. Yên ồn rồi sau mới có thể an tâm. An tâm rồi sau mới có thể suy nghĩ. Suy nghĩ rồi sau mới đạt thành. – Lễ Ký

Vào tuổi tráng niên, khí huyết cương cường, nên răn về tranh đấu. – Luận Ngữ

Càng học càng hay, cũng như khát mà ra sông, ra bể uống, uống nhiều thì được nhiều, uống ít thì được ít. – Thận Tử

Phàm lúc nguy cấp, chỉ nên trông cậy những điều của mình, không nên trông cậy những điều của người. – Tăng Quốc Phiên

Chim đến lúc cùng thời mổ, muông đến lúc cùng thời cào, người ta đến lúc cùng thời dối giá. – Nhan Hồi

Không đáng cho mà cho, thì không phải là ơn. – Diêm Thiết Luận

Người quân tử, ta nên thân, song không nên quá chiều mà phụ họa; kẻ tiểu nhân, ta nên tránh, song không nên ruồng rẫy như hằn thù. – Thân Hàm Quang

Không có đức mà phúc nhiều, thì cũng như không có nền, mà tường cao, chả bao lâu thế nào cũng đổ. – Phạm Văn Tử

Mắt không theo người trông, tai không theo người nghe, miệng không theo người nói, mũi không theo người ngửi. – Nguyên Kết

Những thứ hổ báo ăn thừa, là thứ chuột bọ tranh nhau chí chết. – Bão Phác Tử

Gấm vóc mà xé rách từng mảnh, không bằng vải thường mà còn nguyên. – Bão Phác Tử

Cái bóng không vật gì cong mà thẳng được, cái vang không vì tiếng xấu mà tốt được. – Quản Tử

Mặt trời mặt trăng làm sáng sủa cho thiên hạ mà không ai ơn; đất nước núi sông, làm no ấm cho thiên hạ, mà không ai quý. – Nhâm Tử

Mõ vì kêu mà chóng thủng, dầu vì sáng mà chóng hao. – Cổ Ngạn

Nói rằng muốn tu thân sửa mình trước hết cần phải làm cho mình ngay thẳng: Thân có uất giận, lòng không ngay thẳng được; có sự sợ hãi, lòng không ngay thẳng được; có điều ham muốn, lòng không ngay thẳng được; có sự lo lắng, lòng không ngay thẳng được. – Lễ Ký

Vì thế người quân tử có đạo lớn, ắt phải có được bằng lòng trung tín, và sẽ mất đạo ấy bởi lòng kiêu ngạo và thói xa hoa. – Lễ Ký

Đạo đức chẳng trau giồi, học vấn chẳng chú trọng, nghe điều nghĩa mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi, đó là những mối lo của ta. – Luận Ngữ

Hùm thiêng ở núi, oai vệ vô cùng, đến lúc sa cơ, cũng hèn, cũng nhục. – Tư Mã Thiên

Tâm chẳng được điều ‘nghĩa’ thì chẳng vui, thân chẳng được chút ‘lợi’ thì chẳng yên. – Phồn Lộ

Cổng thành bị cháy một khi, ao cá bỗng bị vạ lây bất ngờ. – Tăng Quảng Hiền Văn

Người ở nhờ lâu thành rẻ rúng, nghèo đến nhà thân cũng hóa sơ. – Tăng Quảng Hiền Văn

Cầu người chọn mặt anh hùng, giúp người giúp lúc bần cùng khốn nguy. – Tăng Quảng Hiền Văn

Tất cả do số mệnh, chút đỉnh chẳng do người. – Tăng Quảng Hiền Văn

Kẻ tiểu nhân nhàn rỗi thì làm điều bất thiện, không gì không làm. Khi nhìn thấy người quân tử thì cố gắng che đậy, giấu cái ác mà trưng điều thiện ra, nhưng vẫn bị nhìn thấu rõ cả gan ruột, đâu có ích lợi gì! Cho nên nói: sự thật bên trong tất sẽ thể hiện ra ngoài hình dáng. Bởi vậy, người quân tử cần phải cẩn trọng khi chỉ có một mình. – Lễ Ký

Người quân tử trước hết cẩn thận về đức, có đức là có người, có người là có đất, có đất là có của cải, có của cải là có sử dụng. – Lễ Ký

Tiếng người không cánh mà bay xa, tình người không rễ mà bám chặt. – Quản Tử

Đồ dùng bẩn thì biết rửa, tâm địa bẩn sao lại để yên. – Ý Lâm

Giàu có làm đẹp nhà, đức làm đẹp thân, lòng rộng rãi thì thân thể thư thái, cho nên người quân tử phải giữ được ý niệm chân thành. – Lễ Ký

Học cho rộng, hỏi cho kỹ, suy nghĩ cho cẩn thận, phân xét cho sáng suốt, làm cho tận lực. – Lễ Ký

Bậc quân tử có ba cái lo: lo rằng mình không nghe biết nhiều. Lo rằng mình đã biết nhiều nhưng không học được những điều đã biết. Lo rằng mình đã học được nhưng không thực hành được những điều đã học. – Lễ Ký

Gia đình chứa trữ điều tốt lành, ắt có thừa phúc lành; gia đình chứa trữ điều chẳng tốt lành, ắt có thừa tai vạ. Bầy tôi giết vua, con giết cha, không phải là nguyên cớ một sớm một chiều, nguyên do dần dần đã lâu mà thành ra vậy, vì người lo liệu phòng bị những việc ấy không biết lo liệu phòng bị sớm. – Khổng Tử

Ra khỏi nhà thì trang trọng như đón khách quý; tiếp xúc người thì kính cẩn như đang hành lễ. – Luận Ngữ

Ăn ở hết lòng, không có mảy may gian tà gọi là trung. Suy mình ra người để mọi người được đúng địa vị, được những điều mong muốn đó là thứ. – Trung Dung

Làm điều nhân là do mình, chứ đâu có do người? – Khổng Tử

Con người phụ bạc, còn mặt mũi nào nhìn nhau nữa? – Liêu Trai Chí Dị

Quân tử cử động có thể đời đời làm đạo cho thiên hạ, hành vi có thể đời đời làm khuôn phép cho thiên hạ, nói năng có thể đời đời làm chuẩn tắc cho thiên hạ, người ở xa có trông mong, người ở gần không bao giờ chán. – Trung Dung

Lương tri thấy được lúc độc tri,

Ngoài biết ấy ra há biết gì?

Ai mà chẳng có lương tri sẵn?

Hồ dễ mấy ai biết lương tri? – Vương Dương Minh

Đạo luôn gần gũi người đời,

Những ai lập đạo xa vời chúng nhân,

Hiếu kỳ, lập dị, là nhầm. – Khổng Tử

Trời sinh ra khắp muôn dân,

Vật nào phép nấy định phân rành rành.

Lòng dân chứa sẵn căn lành,

Nên ưa những cái tinh thành tốt tươi. – Kinh Thi

Muốn tìm phú quý lâu dài, phải chịu gian khổ miệt mài công phu. – Tăng Quảng Hiền Văn

Nuôi trai chẳng dạy, nuôi lừa; nuôi gái chẳng dạy chẳng thà nuôi heo. – Tăng Quảng Hiền Văn

Rượu say không nói là quân tử, tiền của phân minh ấy trượng phu. – Tăng Quảng Hiền Văn

Sức hèn chớ vác nặng nhiều, nói không trọng lượng chớ điều khuyên ai. – Tăng Quảng Hiền Văn

Trong nhà cờ bạc chớ hề

Gái trai ham bạc cả bề hư thân

Trong nhà đàn hát phải ngăn

Gái trai dâm loạn lấy răn đạo thường

Trong nhà cờ thế đủ phương

Gái trai suy bại chẳng đường làm ăn

Trong nhà có nắp có ngăn

Gái trai trọng lễ giữ răn đủ điều. – Minh Đạo Gia Huấn

Muốn cho trên dưới hòa thân

Nết quý là nhẫn muôn phần nhớ ghi

Vua tôi mà nhịn chút đi

Thế nước vững trọn làm gì chuyển lay

Cha con nhẫn được càng hay

Tự toàn gia đạo sau này ấm êm

Vợ chồng càng phải nhẫn thêm

Thì bày con trẻ khỏi điềm bơ vơ

An hem nhẫn thì được nhờ

Gia trung khỏi sự thờ ơ nhạt nhòa

Nhịn bằng hữu sống hài hòa

Thì tình chẳng nhạt nghĩa xa hóa gần

Mỗi mỗi sự nhẫn tự thân

Người người yêu kính nhân nhân theo về. – Minh Đạo Gia Huấn

Đạo phụng dưỡng phải lễ nghi

Chớ hiềm ô uế chớ vì bẩn hôi

Mẹ cha còn ở trên đời

Làm con chớ có chơi bời đi xa

Là thân thể là tóc da

Đều của từ mẹ từ cha cho mình

Chăm nom gìn giữ dáng hình

Cái gốc của hiếu từ mình chứ đâu

Lập thân hành đạo là sau

Tiếng nêu đời trước truyền sau rỡ ràng

Mẹ cha nhờ tiếng mà sang

Là ngọn của hiếu hai đàng đều cân. – Minh Đạo Gia Huấn

Tích thóc gạo phòng thất thời

Tích quần tích áo phòng trời chuyển cơn

Người tiết kiệm thì đủ hơn

Điềm tĩnh trọn đạo thì an mọi bề

Biết dự bị phòng gian phi

Nuôi con dạy dỗ phòng khi về già

Hiếu với mẹ thảo với cha

Thì con hiếu lại với ta khác gì. – Minh Đạo Gia Huấn

Tu thân bớt dục mọi bề

Siêng năng cần kiệm gia tề đến nơi

Đừng xa hoa, cấm ăn chơi

Để dành để dụm để ngơi lúc cần

Hiển vinh với nhục cũng gần

Yên vui phải nhớ những lần nguy nan

Đạo cao đức trọng mới sang

Áo rách mà sạch hơn vàng tanh hôi. – Minh Đạo Gia Huấn

Nơi trang trọng phải xuống xe

Những nơi miếu mạo xuống hè nhanh chân

Ra vào ngồi đứng càng thuần

Nếu không hợp lễ phải cẩn sửa ngay

Nói năng ăn uống cả ngày

Nếu không đúng lễ chữa ngay đừng nề. – Minh Đạo Gia Huấn

Không tiền chớ đến chỗ đông, gặp nạn chớ đến cậy trông thân tình. – Tăng Quảng Hiền Văn

Nước xa khó chữa cháy gần, người thân xa kém hương lân gần kề. – Tăng Quảng Hiền Văn

Những người đến nói điều kia nọ, chính ấy con người thích nọ kia. – Tăng Quảng Hiền Văn

Giữ miệng như giữ lục bình, sảy tay rơi vỡ tan tành còn chi.

Giữ ý như giữ thành trì, để giặc vào lọt còn chi là thành. – Tăng Quảng Hiền Văn

Danh ngôn hán việt về tình yêu

Nhiều người yêu thành ra phúc; nhiều người ghét thành ra họa. – Hoài Nam Tử

Đạo ở gần lại tìm ở xa, việc thiện dễ lại tìm cái khó. Nếu ai cũng thương yêu họ hàng, trọng kính người trên thì thiên hạ thái bình. – Mạnh Tử

Yêu người mà yêu vô lý, thành ra làm hại cho người; ghét người mà ghét vô lý, thành ra làm hại cho thân. – Ngụy Tế Thụy

Danh ngôn hán việt về tình bạn

Rượu ngon thiết bạn tâm đầu, vàng mười tiêu hết mong mua sách về. – Tăng Quảng Hiền Văn

Kết bạn chọn kẻ hơn ta, nếu như ta cũng chẳng thà bằng không. – Tăng Quảng Hiền Văn

Những việc nghĩa, nên làm, sức đủ làm, bụng muốn làm; vì bè bạn, vợ con gàn trở, mà thôi không làm, thế là người vô chí. – Lã Khôn

Ta có tai, mắt, ta nghe, ta trông; ta có tâm tư, ta suy, ta nghĩ; ta đối với người đời xưa, có lúc ta thờ như thầy, có lúc ta kính như bạn, cũng có lúc ta kình địch không chịu. Ta theo công lý, nhất quyết ta không làm tôi tớ cổ nhân. – Lương Khải Siêu

Câu khen quá đáng của người bạn, lại hại hơn câu chê quá đáng của kẻ thù. – Ly Mã Bão

Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm với bạn hiền. – Tăng Quảng Hiền Văn

Danh ngôn hán việt về cuộc sống

Con người sinh sống một đời, cỏ cây nảy nở một thời tiết xuân. – Tăng Quảng Hiền Văn

Người sĩ có chí và người có đức nhân không cầu sống mà làm hại điều nhân, mà có khi hi sinh tính mạng để thành điều nhân. – Khổng Tử

Núi có cây sống ngàn năm, trên đời ít gặp cụ trăm tuổi già. – Tăng Quảng Hiền Văn

Nghèo không là xấu, nghèo mà không có chí mới là xấu; hèn không đáng ghét, hèn mà không có tài mới đáng ghét; già không nên than thở, già mà sống thừa mới đáng than thở; chết không nên bi ai, chết mà vô bổ mới đáng bi ai. – Lã Khôn

Ai cũng muốn sống lâu, mà không biết cách dưỡng sinh. Ai cũng biết ăn uống quá độ thì ốm đau, mà không biết giữ miệng. Ai cũng biết tình dục quá độ thì khô héo mà không biết phòng thân. – Lương Khải Siêu

Sống chết có mạng, giàu sang tại trời. – Tử Hạ

Ngày nào nghe được một câu nói thiện, làm được một việc thiện, ngày đó không sống uổng. – Minh Tâm Bảo Giám

Người quân tử phi nhân nghĩa, thì không sống được; kẻ tiểu nhân phi thị dục, cũng không sống được. – Hoài Nam Tử

Người ta sống ở trên đời

Ba điều ân nghĩa ta thời phải ghi

Một lòng tâm niệm như y

Không cha hồ dễ có chi thân mình

Không vua mình chẳng nên vinh

Không thày há dễ gì mình làm nên. – Minh Đạo Gia Huấn

Danh Ngôn Về Ghen Tị

45 Câu Danh Ngôn Về Giao Tiếp Quan Hệ Của Người Xưa

Những Câu Nói Hay Về Giàu Nghèo: 100+ Danh Ngôn Hay

Những Câu Nói Hay Của Henry Ford: 30+ Danh Ngôn Hay

5 Danh Ngôn Để Đời Của Benjamin Franklin

Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi – Trí – Dũng

Bi – Trí – Dũng Trong Cuộc Sống

Những Câu Châm Ngôn Trong Tiếng Đức

100 Câu Danh Ngôn Hay Trong Tiếng Đức

Học Tiếng Đức Giao Tiếp Với Một Số Câu Danh Ngôn

Sức Mạnh Của Mục Tiêu

( Tài liệu Tu học Ngành Đồng Bậc Cánh Mềm

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

  

I. Chuẩn bị :

Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

II. Giờ học :

1.  Giới thiệu :

Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

2.  Em suy nghĩ :

–   Châm ngôn của GĐPT là gì ?

–   Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

–   Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

–   Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

3.  Em cần nhớ :

Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

–   Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

–   Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

–  Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

–   Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

4.  Em thực hành :

–   Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

–   Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

–   Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

Châm Ngôn : Bi – Trí – Dũng

Những Câu Nói Vui Về Tết ❤️ Mà Ít Ai Biết ❤️

Danh Tiếng Tốt (Châm Ngôn 22:1

Châm Ngôn 3:5, 6​—“Chớ Nương Cậy Nơi Sự Sáng Suốt Của Con”

Chú Giải Châm Ngôn 30:01

Những Câu Danh Ngôn 20/11 Ý Nghĩa Trong Ngày Nhà Giáo Việt Nam

20 Câu Nói Hay Muôn Đời Giá Trị Của Các Vĩ Nhân Thế Giới

49+ Câu Danh Ngôn Cuộc Sống Hay Nhất Mọi Thời Đại

Danh Ngôn Tiếng Anh Về Thành Công

Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Thương Mại Buôn Bán

Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Cái Chết Hay Nhất !!!

Hình ảnh người thầy cô thầm lặng đưa những chuyến đò theo năm tháng đến bến bờ tri thức là hình ảnh đẹp, không bao giờ quên. Nhân ngày 20/11 sắp đến gần, đây chính là dịp để các thế hệ học sinh, sinh viên bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến những người đã dạy dỗ, chỉ bảo mình.

1. Thầy cô là ai? Đó không phải là những người sẽ dạy dỗ mà chính là người truyền cảm hứng để sinh viên có thể nỗ lực hết mình khám phá những điều chưa biết – Paulo Coelho, The Witch of Portobello.

Những câu danh ngôn 20/11 ý nghĩa gửi tặng các thầy cô giáo. Ảnh: Phunutoday

2. Một người thầy bình thường sẽ chỉ nói. Một người thầy giỏi sẽ giải thích. Một người thầy xuất sắc sẽ chứng minh điều mình nói còn người thầy vĩ đại sẽ là người truyền cảm hứng – William Arthur Ward.

3. Thầy cô là người truyền cảm hứng, là người làm ta vui và dạy ta rất nhiều điều mà ta chưa biết – Nicholas Sparks, Dear John.

4. Khi được làm học trò của một giáo viên tuyệt vời, ta sẽ học được nhiều điều nhờ sự quan tâm và chỉ bảo tận tình của thầy cô – William Glasser.

5. Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng và cũng không thể nuôi dạy trẻ nếu thiếu sự nhiệt tình – Carl Jung.

7. Với nghề dạy học không thể nhìn thấy kết quả của một ngày làm việc. Kết quả ấy vô hình và có lẽ vẫn còn đó đến 20 năm sau – Jacques Bazun.

8. Bất cứ ai khi nhớ đến hồi đi học đều nhớ đến các thầy cô giáo chứ không phải là các phương pháp hãy kỹ thuật giảng dạy. Thầy cô chính là trái tim của hệ thống giáo dục – Sidney Hook.

9. Một thầy giáo tuyệt vời cũng chính là một nghệ sĩ tuyệt vời và trên thế giới chỉ có số ít những người như vậy. Dạy học là nghệ thuật vĩ đại nhất vì đó là sự kết hợp giữa lý trí và tinh thần – John Steinbeck.

10. Mỗi đứa trẻ đều cần có một người lớn dạy dỗ và kèm cặp. Đó không nhất thiết phải là cha mẹ hay anh chị em – những người có chung huyết thống mà đó có thể là một người bạn, một người hàng xóm, thường thì đó là thầy, cô giáo – Joe Manchin.

11. Những người nuôi dạy trẻ thậm chí còn được tôn vinh hơn bậc cha mẹ bởi những hy sinh của họ cho thế hệ tương lai – Aristotle.

12. Khi chúng ta lìa cõi đời này thì chỉ có 5, 6 người nhớ đến chúng ta. Nhưng các thầy, cô giáo thì có cả hàng ngàn người nhớ tới họ trong suốt phần còn lại của cuộc đời – Andy Rooney.

13. Một giáo viên giỏi là người biết khơi gợi hy vọng, thổi bùng trí tưởng tượng và thấm nhuần niềm đam mê học hỏi – Brad Henry.

Tôn vinh những nhà giáo Việt Nam bằng những câu danh ngôn 20/11 ý nghĩa. Ảnh: Phunutoday

14. Những thầy cô giỏi nhất dạy bằng trái tim, chứ không từ sách vở – Không rõ tác giả.

15. Nghệ thuật dạy học chính là nghệ thuật giúp ai đó khám phá – Mark van Doren.

16. Một giáo viên bình thường giải thích các vấn đề phức tạp còn một giáo viên tài năng lại hé lộ những điều đơn giản – Robert Brault.

17. Một người thầy giỏi giống như ngọn nến – nó đốt cháy chính mình để soi sáng đường cho những người khác – Không rõ tác giả.

19. Giáo viên là những người truyền cảm hứng, họ biết rằng việc giảng dạy cũng giống như làm vườn, và sẽ không thể hái được những bông hoa nếu không chạm vào gai – Không rõ tác giả.

20. Dạy học không phải là làm đầy một thùng nước mà là thắp sáng một ngọn lửa – William Butler Yeats.

21. Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý.

22. Dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học – Comenxki.

23. Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác – Usinxki.

24. Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên – Gôlôbôlin.

25. Thầy cô chính là người cầm tay, mở ra trí óc và chạm đến trái tim – Không rõ tác giả.

Những Câu Nói Hay Khi Chia Tay Người Yêu Xúc Động Nhất

Học Tiếng Anh Qua Các Câu Danh Ngôn Hay Về Tình Bạn Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo

Những Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Về Tình Bạn Bằng Tiếng Anh

Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Tị: 30+ Danh Ngôn Hay

Những Câu Status Hay Và Ý Nghĩa Cho Mùa Đông

69 Câu Danh Ngôn Cuộc Sống, Danh Ngôn Hay Cuộc Sống Hàng Ngày

Những Lời Chào Ngày Mới Hay Nhất, Nhiều Người Dùng

Tổng Hợp Những Stt Chào Ngày Mới Hay Nhất Dành Cho Một Nửa Yêu Thương

Stt Mưa Buồn Cực Hay Hợp Với Tâm Trạng Buồn Vui Tháng 8/2020

Những Câu Nói Hay Của Giới Trẻ

301 Câu Nói Hay Bá Đạo Của Giới Trẻ Đang Hot Rần Rần Trên Facebook Zalo

Danh ngôn là nguồn tri thức sống để mọi người xem và cảm nhận về mọi thứ xung quanh ta. Cuộc sống và tình yêu là hai chủ đề đang được khắc họa rõ nét nhất qua từng câu danh ngôn châm ngôn hàng ngày. Và hôm nay chúng tôi chia sẻ đến các bạn những câu danh ngôn cuộc sống hàng ngày ý nghĩa nhất.

Danh ngôn cuộc sống là kho báu có giá trị vô giá cho tâm hồn nhân loại, những người thích đọc sách hay xem những trích dẫn và những câu danh ngôn luôn có một tấm lòng bao dung hơn trong cuộc sống, góc nhìn thoáng hơn và không tính toán. Do vậy họ thường nhận xét cuộc đời xung quanh và cuộc sống hàng ngày qua những câu danh ngôn ý nghĩa, cùng xem những câu danh ngôn cuộc sống hay ý nghĩa bên dưới đây nhé.

Danh Ngôn Cuộc Sống – Lời Hay Ý Đẹp

Qua từng câu danh ngôn mang theo những đặc thù riêng nhưng vẫn đúc tích ngắn gọn nhưng vẫn chứa đủ ý nghĩa, các bạn có thể xem những bài viết danh ngôn về phụ nữ những câu danh ngôn hay về tình yêu và danh ngôn nói về sự thành công mà chúng tôi gửi đến các bạn trước đó. Một lần nữa những câu danh ngôn về cuộc sống hàng ngày dưới đây sẽ giúp bạn nhìn lại gần nửa cuộc đời mình nhé.

1. Gia đình hạnh phúc như là một câu chuyện cổ tích với cái kết có hậu dành cho mọi thành viên trong gia đình sau khi đã nỗ lực làm mọi điều có thể hoặc không mong muốn để cho mọi người biết rằng gia đình chúng tôi đang hạnh phúc!

2. Dù bạn nghĩ cuộc sống tốt đẹp hay tồi tệ như thế nào đi nữa, hãy thức dậy mỗi ngày và cảm ơn cuộc sống. Ở những nơi khác, nhiều người vẫn đang đấu tranh để tồn tại.

3. Tình yêu tôi dành cho anh là duy nhất nhưng một khi đã mất đi rồi thì khó mà tìm lại được, đừng nghĩ yêu nhiều sẽ không từ bỏ được, đôi khi im lặng lại còn đáng sợ hơn bất cứ hành động nào, cho nên đừng bao giờ nghĩ tôi không nói là tôi ngu, tôi không biết gì hết, lầm rồi đó anh ơi.

4. Mọi việc xảy ra trong cuộc sống đều mang một phần nào ý nghĩa cho cuộc đời bạn,nên hãy trân trọng mọi thứ,và dù đánh mất tất cả cũng đừng bao giờ đánh mất niềm tin và nụ cười trên gương mặt.

5. “Thành công là một hành trình, chứ không phải là điểm đến.”

Bạn có đang đi trên hành trình này không? Hành trình của chúng ta sẽ có rất nhiều điểm đến. Hãy cùng nhìn lại chặng đường đã qua và cùng nhau cố gắng hơn nữa bạn nhé!

Mỗi câu danh ngôn hay về cuộc sống đều mang đến những lời hay ý đẹp, những bài học quý giá, những giá trị khang hiếm trong cuộc sống mỗi chúng ta. Những câu danh ngôn sẽ dậy cho chúng ta một cuộc sống đẹp hơn khi biết mỉm cuời, biết khen người khác và nhẫn nhịn, tức giận ít đi, luôn biết cảm ơn, sức mạnh của tâm niệm… tất cả giúp chúng ta có cuộc sống hàng ngày đẹp không chỉ chúng ta mà mọi người xung quanh.

Cuộc sống luôn có nhiều điều trắc trở, không chỉ có áp lực, sự tha hóa và mệt mỏi khi phải cố gắng kím sống nới đất chật người đông này. Mà còn đến ngay từ bản thân chúng ta, khi mà lòng kiên trì và sự nhẫn nại là không có, khi mà niềm tin lạc mất nơi chính bản thân mình… những cái đó rất là đáng sợ. Cùng xem những câu danh ngôn về cuộc sống dưới đây và xem thêm: danh ngôn về cuộc sống gia đình và những câu danh ngôn ý nghĩa về mẹ nhé.

6. Nếu như bạn dám ước mơ và cố gắng theo đuổi nó,thì cả vũ trụ này sẽ mang những điều tốt đẹp nhất đến với bạn.

7. Trong cuộc sống, người hạnh phúc và người không hạnh phúc đôi khi chỉ khác nhau ở Thái Độ Sống.

8. Đừng bao giờ lo sợ trước tương lai, nếu sống trọn vẹn cho ngày hôm nay, thì một ngày mai tốt đẹp chắc chắn sẽ đến với bạn…

9. Có những điều không biết trân trọng thì sẽ mất đi. Nhưng đôi khi có những chuyện rất quan trọng, chúng ta vẫn không tài nào giữ được .

10. Con người ta có ba cái đầu: một cái do bẩm sinh, một cái có được từ trong sách, một cái có được từ trong cuộc sống.

11. Người khôn ngoan là người biết lắng nghe ,tiếp thu,thực hiện những điều tốt, điều hay và chối bỏ những điều xấu, điều dở.

12. Đáng chê trách lớn nhất là sự hèn nhát, đáng khinh bỉ lớn nhất là sự hèn hạ, đáng khen ngợi lớn nhất là sự dũng cảm xả thân vì nghĩa, sự cống hiến, biết hi sinh vì người khác, mình vì mọi người.

13. Không ai phục nhau ở học vị, bằng cấp mà phục nhau ở chí khí, phục nhau ở tài đức vẹn toàn.

14. Cuộc sống đâu đâu cũng đều có cạm bẫy, nếu chưa từng va chạm, bạn sẽ mãi không bao giờ hiểu được cuộc sống là gì…

15. Hãy khép lại quá khứ u buồn, đau khổ nhưng đừng quên quá khứ tội lỗi, lỗi lầm( nếu có) để còn biết mà sửa chữa lỗi lầm.

16. Đừng ngồi một chỗ mà ân hận, sám hối tội lỗi, lỗi lầm mà hãy làm những việc thiện, tốt để chuộc lại tội lỗi, lỗi lầm của mình.

17. Đọc kinh mà vẫn làm điều xấu thì phật chẳng thương. Sám hối tội lỗi mà vẫn tái phạm làm trời tức giận.

18. Anh hùng không kể công nhiều hay ít. Tài trí không kể mưu ít hay nhiều.

19. Nhỏ nhen (nhỏ nhoi) là kẻ hay nói xấu, mách lẻo chuyện của người khác. Cao thượng là người biết bao dung, tha thứ và làm nhiều việc tốt cho mọi người,mình vì mọi người.

20. Làm điều ác, trời không dung,

người oán hận. Làm điều tốt, trời không phụ, phật thương tình.16. Hãy luôn là chính mình và biết vượt lên chính mình.

21. Tội lỗi sớm hay muộn sẽ bị trừng phạt. Có tội phải bị trừng phạt, pháp luật phải nghiêm, quan phải thanh liêm thì dân chúng mới phục, mới trị được thiên hạ.

22. Bao che, dung túng cho tội lỗi là muốn xấu cho người khác, là ghét, là điều đáng chê trách. Bảo vệ cho công lý, lẽ phải là làm điều tốt cho người khác, là thương, là điều được mọi người hoan nghênh, khen ngợi.

23. Đôi khi bạn xây nên bức tường, không phải vì để tránh người ngoài, mà để xem ai đủ khả năng để bạn gỡ bỏ bức tường đó.

24. Tội lỗi nào sớm hay muộn cũng bị trừng phạt, cũng được đưa ra ánh sáng, không thoát được tội lỗi cho dù có chức quyền to đến đâu và tiền nhiều đến mấy cũng không thoát khỏi bàn tay công lý ( đừng có chạy án mà làm gì). Thiên võng khôi khôi ( Lưới trời lồng lộng). Tuy thưa bất lậu(Tuy thưa mà khó lọt:khó lọt trôi, thoát tội).

25. Điều quan trọng nhất trong cuộc đời không phải là sự thắng lợi mà là sự cố gắng nỗ lực. Điều cơ bản nhất không phải là giành được chiến thắng mà là chiến đấu hết mình.

26. Lá lành dùm lá rách, lá rách dùm lá tả tơi, có chi đâu phải phủ phàn, giúp được người là công Đức của ta… Hãy mở rộng vòng tay . Một miếng khi đối bằng một gói khi no đó các bạn.

27. Nhìn lại cuộc đời cho ta thấy chúng ta rất may mắn khi sinh ra và lớn lên tại quê hương mình. Hãy mang những may mắn này giúp đỡ va chia sẽ cho những người bất hạnh và không may mắn!!!

28. Đồng tiền chi phối hoàn toàn nhận thức và cách hành sử của con người, nó luôn thách thức áp đặt lương tâm của nhân loại, của con người, và sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là tình thương đồng loại đâu, đến anh em ruột thit còn chưa chak đã có tình thương huống chi là những đồng loại sung quanh.

29. Trong một xã hội mà lòng ích kỷ và sự tự tôn thường được đặt cao hơn những giá trị còn lại, không có mấy người kỳ vọng vào lòng tốt của người khác. Vì sau tất cả, công bằng mà nói thì đời vốn không bằng.

30. Khi ta bóc trần họ, nhiều người nhảy vào ném đá ta tơi tả. Rồi khi họ tự lộ bản chất ra, nhiều người quay ra ném đá họ và khi đó ta chỉ là quá khứ chẳng ai còn nhớ.

Vòng xoáy của cuộc đời đưa chúng ta đên muôn vàn khó khăn, trắc trở và sai lầm trong cuộc sống, nhưng rồi mỗi nguời lại thể hiện một thái độ khác nhau. Cùng xem những câu danh ngôn cuộc sống ở trên để tìm ra chân lý của cuộc sống hàng ngày các bạn nhé.

[Bst] Những Câu Nói Hay Về Thuốc Lá Chất Phát Ngất

1000+ Câu Nói Hay Về Biển Dạt Dào Bao Cảm Xúc Yêu Đương

Những Câu Chúc Ngủ Ngon Hay Nhất Dành Cho Người Yêu

Những Câu Nói Chia Tay Người Yêu Đầy Xúc Động, Buồn Tận Cõi Lòng

Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Đau Khổ Hay Nhất !!!

4 Danh Nhân Kiệt Xuất Của Việt Nam Được Unesco Vinh Danh

30 Danh Ngôn Về Trí Tuệ Cảm Xúc

Những Câu Nói Hay Bất Hủ Của Đại Văn Hào Victor Hugo

Những Châm Ngôn Để Đời

Cùng Suy Ngẫm Về 10 Câu Danh Ngôn Của Gia Cát Lượng

Danh Ngôn Hay Về Lòng Vị Tha

UNESCO đã từng vinh danh các danh nhân kiệt xuất của Việt Nam trước đây nhân các dịp kỷ niệm: 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi (1980), 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) và 250 năm ngày sinh Nguyễn Du (2015).

Chủ tịch Hồ Chí Minh Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất

Đối với nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi nguồn cho niềm tin vào sự tất thắng của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phồn vinh của nhân dân. Cuộc đời Người, tên Người đã trở thành biểu tượng toàn vẹn của một chiến sĩ cách mạng kiên trung, hết lòng tận tụy vì nước, vì dân. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho mục đích cao cả nhất: Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Và thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với bạn bè quốc tế, Người là biểu tượng của khát vọng hoà bình, đấu tranh chống áp bức, bất công. Trái tim và khối óc của Người luôn đồng lòng với nhân dân thế giới. Với khát vọng “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, bằng những cống hiến về tư tưởng cũng như về thực tiễn chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần giải phóng các dân tộc bị áp bức, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã góp phần đặt nền tảng quan trọng cho sự hình thành tư tưởng về sự bình đẳng giữa các dân tộc và đồng thời là hiện thân sinh động về sự bình đẳng ấy.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn hóa kiệt xuất, nhà giáo dục lớn của nhân dân Việt Nam với những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và giáo dục các thế hệ con người Việt Nam mới, giúp cho mọi người Việt Nam ai cũng được học hành, từng bước nâng cao trình độ văn hóa của cả dân tộc. Sự nghiệp đó gắn liền với sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, luôn hướng về con người, hướng về dân tộc, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Tầm vóc của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự coi trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hoá lâu dài của mỗi dân tộc, mỗi gia đình, mỗi con người. Đó là sự dung hoà giữa việc khẳng định bản sắc mỗi dân tộc cũng như thúc đẩy hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trong những sự khác biệt, đa dạng, là lòng nhân ái, vị tha, bao dung. Đó là sự đề cao việc rèn giũa, tôi luyện những đức tính trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân, từ những điều giản dị nhất cho tới những tri thức văn hoá tinh tế.

Vì đó, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh người ta thấy “toát ra một nền văn hoá của tương lai, toát ra sự kết tinh những giá trị văn hoá cao đẹp của cả phương Đông và phương Tây”.

Nguyễn Trãi Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai sinh, quê ở Hải Dương. Ông là con cháu của một dòng tộc nhiều đời là võ quan cao cấp dưới nhiều triều đại. Trong đó, ông ngoại ông là Tư Đồ Trần Nguyên Đán – tôn thất nhà Trần, cha ông là danh sĩ Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh.

Những đóng góp của Nguyễn Trãi vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc. Ông là vị anh hùng, một nhà quân sự, chính trị và nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc. Tài năng của ông trải đều trên các lĩnh vực, được hậu thế kính phục.

Trước hết là ở sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã góp phần quan trọng giúp cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Nét nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc giữa tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo (trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ yếu), có sự kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, nhưng nổi bật hơn cả là tư tưởng anh hùng, yêu nước, thương dân.

Nguyễn Trãi là một trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Trãi còn là một nhà văn hóa kiệt xuất. Ông để lại rất nhiều trước tác văn chương, cả bằng chữ Hán, chữ Nôm và phong phú về thể loại, bao gồm nhiều lĩnh vực như: văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi… Những tác phẩm của ông được đánh giá là có cách lập luận sắc sảo, khúc triết, thấu tình đạt lý, có nhu có cương của một nghệ thuật viết chính luận bậc thầy. Ông cũng là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm của Việt Nam.

Các tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm: Chính luận: Quân trung từ mệnh tập, Bình ngô đại cáo (được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam sau “Nam quốc sơn hà”), Bài phú Chí Linh sơn…; Thơ: Ức trai thi tập (tiếng Hán), Quốc âm thi tập (tiếng Nôm)…; Lịch sử: Vĩnh lăng thần đạo bi…; Về địa lý: Dư địa chí – bộ sách về địa lý học cổ nhất còn lại của Việt Nam trong đó ghi chép lại những sản vật và con người nước ta thế kỷ XV…

Với những công lao và đóng góp vô cùng to lớn của ông trong lịch sử nước nhà, Nguyễn Trãi được xem như nguồn tư liệu quý cho các công trình nghiên cứu, các tác phẩm hội họa, văn học và nghệ thuật…

Danh nhân Nguyễn Du  Đại thi hào dân tộc

Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh tại Kinh thành Thăng Long (nay là thủ đô Hà Nội). Cha ông là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đã từng làm đến chức Tham Tụng (Tể tướng) dưới triều Lê.

Danh nhân Nguyễn Du.

Năm 1783, ông thi đỗ Tam trường. Ông từng giữ chức vụ như: Đông Các đại học sĩ, Cần Chánh Đại học sĩ (trong thời gian này ông được cử đi sứ Trung Quốc), Hữu Tam Tri Bộ Lễ…

Không chỉ là một “ngôi sao sáng” trên bầu trời văn học cổ Việt Nam, Đại thi hào Nguyễn Du còn được cả thế giới biết đến và công nhận. Tác phẩm “Truyện Kiều” của ông đã trở thành một tài sản văn học chung của thế giới.

Theo nhà Kiều học Trần Đình Tuấn trong hồ sơ đề nghị UNESCO vinh danh Nguyễn Du, có nhắc lại sự kiện Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi sang Việt Nam đã bắt đầu buổi nói chuyện với sinh viên bằng hai câu Kiều: Sen tàn cúc lại nở hoa/Sầu dài ngày ngắn Đông đà sang Xuân. Theo ông Tuấn, điều đó gắn với một thực tế là vài trăm năm qua, “Truyện Kiều” đi vào đời sống người dân Việt Nam mãnh liệt tới mức người ta có thể trích dẫn bất cứ câu Kiều nào để thay lời muốn nói, trong những văn cảnh điển hình.

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hóa nhân loại, ghi dấu văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. “Truyện Kiều” đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, Mông Cổ, Ả Rập, Nga…) với trên 60 bản dịch khác nhau. Tại mỗi quốc gia, tác phẩm để đời này đều được đón tiếp nồng nhiệt và đều có một đời sống riêng.

Bên cạnh tư cách một nhà thơ, Nguyễn Du còn là danh nhân có tinh thần tự hào dân tộc và tình yêu mãnh liệt với tiếng mẹ đẻ. Dũng cảm vượt qua rào cản nặng nề hàng ngàn năm của Hán văn để sáng tác bằng Việt văn. Nguyễn Du lần đầu tiên đưa tiếng Việt và ngôn ngữ Việt trở thành ngôn ngữ văn học chính thống của quốc gia.

Danh nhân Chu Văn An Người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc

Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, tự là Linh Triệt, quê ở thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Được đánh giá là người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc của Việt Nam, đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp dạy học, với triết lý giáo dục nhân văn, không phân biệt giàu nghèo, học đi đôi với thực hành, học suốt đời để biết, để làm việc và cống hiến cho xã hội. Tư tưởng đó của ông không những có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người VN mà còn góp phần phát triển các giá trị nhân văn trong khu vực. Quan điểm giáo dục của ông có những giá trị tiến bộ vượt thời đại, gần gũi với mục đích giáo dục của thế giới hiện nay.

Danh nhân Chu Văn An.

Là người chính trực, không màng danh lợi, nên khi thi đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ) vào đời Trần Minh Tông (1314-1329), nhưng ông không ra làm quan mà trở về quê nhà mở trường dạy học – trường Huỳnh Cung. Trong số môn đệ của ông, có nhiều người thành đạt, làm quan lớn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát – cả hai đều đỗ Thái học sinh và làm đến chức Hành khiển trong triều Trần. Họ không chỉ được ông dạy chữ thánh hiền mà còn được dạy về đạo đức của bậc trí nhân quân tử.

Tiếng tăm uy tín của trường Huỳnh Cung cũng như tư cách của thầy Chu Văn An ngày càng lớn và vua Trần Minh Tông đã cho mời ông đến Thăng Long giữ chức Tư nghiệp (tức Hiệu trưởng) tại Quốc Tử Giám và dạy học cho các Hoàng tử, trong đó có hoàng tử Trần Hiến Tông, sau này là vua Hiến Tông (trị vì từ năm 1329 đến năm 1341).

Chọn nghề giáo, nhưng Chu Văn An không sống lẩn tránh, quay lưng lại thời cuộc như đa số các văn sĩ thời bấy giờ. Ông nhập thế với ý thức của một trí thức Nho giáo rất rõ ràng, chỉ có điều bằng con đường riêng của mình – con đường dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước.

Nhân cách nhà giáo Chu Văn An đã được lưu truyền trong sử sách Việt Nam từ đời này qua đời khác. Ngày nay, tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhiều nơi trong nước có di tích thờ phụng ông như: đền Thanh Liệt; đền Huynh Cung; đền Văn Điển; đền Phượng Sơn ở Chí Linh, Hải Dương, nơi ông về sống ẩn và dạy học, ở nơi đây có dựng cột đá khắc 8 chữ: “Chu Văn Trình tiên sinh ẩn cư xứ”. Nhân dân Thủ đô Hà Nội cũng đã lấy tên ông để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội. Đó là phố Chu Văn An và Trường phổ thông Trung học Chu Văn An.

Theo TTXVN

Danh Ngôn Người Xưa Về Kinh Nghiệm Sống

Top 99 Câu Chúc Mừng Năm Mới 2022 – Những Câu Chúc Tết Hay Nhất

Những Câu Danh Ngôn Hay Về Cờ

Những Câu Nói Hay Về Đàn Bà Ngoại Tình ✅ Cực Thấm✅

Những Câu Danh Ngôn Vui Về Cuộc Sống Khiến Bạn Phải Bật Cười

Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất

Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam

Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga

Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc

Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá

Mùa

Vu-lan đối với người Việt Nam, nhất là người Phật tử,

là một mùa báo Hiếu, một mùa mà các người con nhớ đến

công ơn sanh thành của mẹ cha và muốn làm một cái gì tết

đẹp để đền đáp công ơn dưỡng dục của mẹ cha.

Nhớ

ơn cha mẹ và báo hiếu là những cảm giác, những suy tư,

những việc làm đã in sâu đậm trong lòng người Việt Nam,

đã được thể hiện linh động và triền miên, ngang qua các

câu ca dao tục ngữ mà chúng ta tìm thấy tràn ngập trong các

thôn quê vườn xóm.

Đâu

đâu cũng đề cao công cha như núi cao, nghĩa mẹ như biển

cả .

“Công

cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa

mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một

lòng thờ mẹ kính cha,

Cho

tròn chữ hiếu, mới là đạo con”.

Hay:

“Công

cha nghĩa mẹ cao vời,

Nhọc

nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

Nên

người con phải xót xa,

Đáp

đền nghĩa nặng như là trời cao.

Đội

ơn chín chữ cù lao,

Sanh

thành kể mấy non cao cho vừa”.

Hay

là:

“Tu

đâu cho bằng tu nhà,

Thờ

cha kính mẹ mới chân tu”.

“Công

cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi

con khó nhọc đến giờ,

Trưởng

thành con phải biết thờ song thân”.

“Mẹ

già ở tấm lều tranh,

Sớm

thăm tối viếng mới đành dạ con” .

Lòng

thương cha mến mẹ của người Việt Nam thường hay gắn liền

với hiện tượng thiên nhiên, nên chúng ta không thấy làm

lạ nhiều câu ca dao đã dùng mặt trời để nói lên lòng

thương mến cha mẹ:

“Đêm

khuya trăng rụng xuống cầu,

Cảm

thương cha mẹ dãi dầu ruột đau”.

Hay

là:

“Biển

Đông còn lúc đầy vơi,

Chớ

lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng”.

Cũng

vì thương cha mẹ, nên người con không bao giờ quên cầu khẩn

Phật Trời cho cha mẹ luôn được sống gần mình:

“Đêm

đêm khấn nguyện Phật Trời,

Cầu

cho cha mẹ sống đời với con”.

“Ngó

lên trời thấy cặp cu đang đá,

Ngó

ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

Đi

về lập miếu thờ vua,

Lập

trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.

Cha

mẹ săn sóc con cho từng miếng cơm manh áo, thời những người

con khi cha mẹ về già cũng phải sáng viếng tối thăm, tìm

của ngon vật lạ phụng dưỡng cha mẹ:

“Muốn

cho gần mẹ gần cha,

Khi

vào thúng thóc, khi ra quan tiền”.

“Ai

về tôi gởi buồng cau,

Buồng

trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Ai

về tôi gởi đôi giày,

Phòng

khi mưa gió để thầy mẹ đi”.

Thỉnh

thoảng, chúng ta chứng kiến cảnh những người con gái không

chịu đi lấy chồng, vì không muốn xa cha mẹ:

“Ơn

hoài thai, to như bể!

Công

dưỡng dục, lớn tựa sông!

Em

nguyện ở vậy không chồng,

Lo

nuôi cha mẹ, hết lòng làm con”.

Người

con gái đi lấy chồng xa cũng bị quở trách:

“Chim

đa đa đậu nhánh đa đa,

Chồng

gần không lấy, để lấy chồng xa.

Mai

sau cha yếu mẹ già,

Bát

cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?”.

Mình

có hiếu với mẹ cha, thời con cháu mình sẽ có hiếu với

mình. Đây là luật đáp ứng thường tình và không vì vậy

làm giảm bớt lòng thương mẹ kính cha của người Việt Nam:

“Nếu

mình hiếu với mẹ cha,

Chắc

con cũng hiếu với ta khác gì?

Nếu

mình ăn ở vô nghì,

Đừng

mong con hiếu làm gì uổng công?”.

Hay

là:

“Hiếu

thuận sinh ra con hiếu thuận,

Ngỗ

nghịch nào con có khác chi!

Xem

thử trước thềm mưa xối nước,

Giọt

sau, giọt trước chẳng sai gì”.

“Ở

đời ai cũng có lần,

Làm

cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

Người

xưa khó nhọc nuôi mình,

Khác

gì mình đã hết tình nuôi con”.

Người

con cũng biết cha mẹ thương con không phải giống nhau, cha

có lòng thương của cha, mẹ có lòng thương của người mẹ,

nên người con cũng có thể phân biệt:

“Mẹ

dạy thì con khéo,

Bố

dạy thì con khôn”.

“Mồ

côi cha, ăn cơm với cá

Mồ

côi mẹ lót lá mà nằm”.

Trong

cao dao này, chúng ta đã nhận thấy sự phân biệt của người

con về cảm tình đối với cha khác, đối với mẹ khác. Nếu

như cha mất thì đã có mẹ săn sóc cho con, cho ăn cơm ăn cá

đầy đủ, nhưng chẳng may mẹ mất đi người con mới thật

khốn khổ, phảị đi lót lá mà nằm. Và vì vậy nên chúng

ta không có lạ gì, khi người con gần mẹ hơn cha, thương

mẹ hơn thương cha. Chúng ta cũng đọc rất nhiều câu ca dao

và bài thơ tán dương lòng mẹ thương con, lòng con nhớ mẹ

:

“Lên

non mới biết non cao

Nuôi

con mới biết công lao mẫu từ”.

“Ai

rằng công mẹ như non,

Thật

ra công mẹ lại càng lớn hơn”.

“Lòng

mẹ như bát nước đầy,

Mai

này khôn lớn, ơn này tính sao “.

“Nhớ

ơn chín chữ cù lao,

Ba

năm nhũ bộ biết bao thân tình”.

“Con

ho lòng mẹ tan tành,

Con

sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

“Nuôi

con chẳng quản chi thân,

Chỗ

ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn”.

“Mẹ

ngoảnh đi, con dại,

Mẹ

ngoảnh lại, con khôn”.

“Mẹ

giàu con có, mẹ khó con không”.

“Mẹ

già như chuối ba hương,

Như

xôi nếp một, như đường mía lau” .

“Bồng

cho con bú một hồi,

Mẹ

đã hết sữa, con vòi con la”.

“Nuôi

con buôn tảo bán tần,

Chỉ

mong con lớn nên thân với đời.

Những

khi trái nắng trở trời,

Con

đau là mẹ đứng ngồi không yên.

Trọn

đời vất vả triền miên,

Chăm

lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.

lòng thương mẹ dạt dào, vì nhớ đến công ơn bú mớm sinh

thành, nuôi nấng, nên người con luôn luôn tưởng nhớ đến

mẹ :

“Chiều

chiều ra đứng ngõ sau,

Ngó

về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

“Giữa

đêm ra đứng giữa trời,

Cầm

tờ giấy bạch chờ lời mẹ răn”.

“Trải

bao gian khổ không sờn,

Muôn

đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền”.

Đối

với công ơn trời biển của cha mẹ, các người con luôn tìm

cách báo đáp ơn nghĩa nặng và làm tất cả những gì có

thể làm được để đền ơn mẹ:

“Mẹ

già ở túp lều tranh,

Sớm

thăm tối viếng mới đành dạ con”.

“Tôm

càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã

gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”.

“Đói

lòng ăn đọt chà là,

Nhịn

cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

“Đói

lòng ăn trái ổi non,

Nhịn

cơm cho mẹ, cho tròn nghĩa xưa”.

“Dấn

mình gánh nước làm thuê,

Miễn

nuôi được mẹ quản gì là thân”.

“Vô

Chùa thấy Phật muốn tu,

Về

nhà thấy mẹ, công phu chưa đành”.

“Nuôi

con chẳng quản chi thân,

Bên

ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,

Lấý

gì đền nghĩa khó khăn,

Lên

non xắn đá, xây lăng phụng thờ”.

“Đây

bát cơm đầy nặng ước mong,

Mẹ

ôi, đây ngọc với dây lòng.

Đây

tình con nặng trong tha thiết,

Ơn

nghĩa sanh thành, chưa trả xong”.

Ai

không làm tròn bổn phận người con đối với mẹ, thời bị

nghe lời trách móc:

“Đi

đâu bỏ mẹ ở nhà,

Gối

nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng”.

Người

con hiểu được tình thương của mẹ đối với con, nhưng

công lao mẹ đã trải qua để nuôi con khôn lớn nhất là những

hy sinh lo lắng của mẹ chiều chuộng con, săn sóc con, chịu

cực chịu khổ vì con, chẳng may người mẹ đã qua đời thì

người con đau khổ xót thương là chừng nào.

người con thương cha không bằng mẹ, nhưng không phải vậy

mà người con quên công ơn của người cha, vì vai trò của

người cha rất đặc biệt trong gia đình:

“Con

có cha như nhà có nóc,

Con

không cha như nòng nọc đứt đuôi”.

“Khôn

ngoan nhờ ấm ông cha,

Làm

nên phải đoát tổ tông phụng thờ”.

“Đạo

làm con chớ hững hờ,

Phải

đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

“Còn

cha gót đỏ như son,

Một

mai cha chết gót con đen sì”.

Hình

ảnh người cha đã già nhưng vẫn làm lụng nuôi con, cũng

để lại trong tâm trí người con một nỗi biết ơn vô hạn:

“Cha

tôi tuy đã già rồi,

Nhưng

còn làm lụng để nuôi cả nhà.

Sớm

hôm vừa dấy tiếng gà,

Cha

tôi đã dậy để ra đi làm”.

Đó

là hình ảnh cảm động, khi mẹ mất rồi, người cha đóng

vai gà trống nuôi con lo cho con uống sữa:

“Nghiêng

bình mở hộp nút ra,

Con

ơi con bú cho cha yên lòng”.

Tuy

vậy, vai trò giáo dục trong gia đình, người cha đặt nặng

hơn, và giáo dục thường hay nghiêm khắc hơn như vậy ảnh

hưởng tốt đẹp cho người con, khi được một người cha

nghiêm minh dạy bảo, có tác dụng hơn người mẹ nhiều :

“Mẹ

đánh một trăm, không bằng cha ngăm một tiếng” .

Ngang

các câu ca dao, các câu cách ngôn, các mẩu chuyện, chúng ta

đã thấy lòng người Việt Nam đối với cha mẹ như thế

nào. Lòng thương cha mến mẹ của người Việt Nam đã được

truyền thống dân tộc Việt Nam hun đúc, tác thành, ăn sâu

vào tâm khảm của người Việt Nam. Ngoài ra, người Phật

tử Việt Nam lại được đạo Phật dạy thêm nhiều về chữ

Hiếu, soi sáng thêm nghĩa vụ làm cho mẹ, nghĩa vụ làm con,

và nhờ vậy chữ Hiếu lại càng ảnh hưởng sâu đậm vào

người Phật tử Việt Nam, vào tâm tư hành động của người

Việt Nam.

“Tâm

Hiếu là tâm Phật,

Hạnh

Hiếu là hạnh Phật”.

Chúng

ta được biết đức Phật là một vị đã đạt được Pháp

nhãn, đã chứng ngộ trí tuệ, nên cái nhìn của Ngài rất

khác lạ đối với hành động con người và sự liên hệ

giữa người và người. Khi thấy Singàla (thi-ca-la-việt) mỗi

buổi sáng, dậy sớm đảnh lễ sáu phương (Kinh Giáo Thọ

Thi-ca-la-việt), (Trường Bộ IV, 188 B), đúng theo lời dặn

của người cha để lại, đức Phật thấy rõ sự vô ích

của lễ nghi và Ngài đã giải thích theo hướng chuyển thành

hành động đúng bổn phận của mình. Phương Đông chỉ cho

cha mẹ và con cái, phương Nam chỉ cho sư đệ; phương Tây

chỉ cho vợ chồng; phương Bắc chỉ cho bạn bè; phương Dưới

chỉ cho kẻ phục vụ và phương Trên chỉ cho Sa-môn, Bà-la-môn.

Và hành động ở đây có nghĩa là bổn phận của người

con đối với cha mẹ, cha mẹ đối với con, chỉ cho phương

Đông; bổn phận thầy đối với trò, trò đối với thầy,

chỉ phương Nam v.v. . . Như vậy, người con có năm bổn phận

đối với cha mẹ: “Nuôi dưỡng cha mẹ (khi cha mẹ già yếu);

giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản thừa

tự; và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Cha mẹ cũng có

năm trách nhiệm đối với con cái: “Ngăn chận con làm điều

ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp;

cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự

cho con”. Đây rõ ràng là một thông điệp trách nhiệm, một

trách nhiệm hỗ tương không phải một chiều. Con có năm bổn

phận đối với cha mẹ. Cha mẹ cũng có năm bổn phận đối

với con cái. Khi cha mẹ và con cái làm trọn bổn phận mình,

thời phương Đông được an lành hạnh phúc. Nói cho rõ hơn,

vận may chỉ đến với gia đình nào, khi trong gia đình ấy

cha mẹ trọn tình đối với con cái và con cái trọn đạo

với mẹ cha. Trong kinh Mangalasutta (Hạnh Phúc Kinh), khi được

một Thiên nhân hỏi làm sao được vận may (Mangala), với hy

vọng đức Phật sẽ dạy cho một hình thức lễ nghi lễ cầu

may cầu phước, đức Phật lại dạy cho ba mươi tám hành

động phải làm để được may mắn và một trong những hành

động ấy là phụng dưỡng mẹ cha:

“Màtàpitu

upatthànan …

Etam

mangalamuttamam ”

“Phụng

dưỡng cha và mẹ …

vận may tối thượng”

Hiếu

không phải là những gì nói suông bằng miệng, bằng những

nghi lễ cầu may cầu phước. Hiếu phải được cô đọng

bằng những việc làm cụ thể và ở đây là phải hầu hạ

và phụng dưỡng mẹ cha.

Trong

kinh Tăng Chi tập I, trang 74, cha mẹ được ví như ngọn lửa

đáng cung kính, vì chính người cha người mẹ đã đem lại

sự sống cho các người con, như ngọn lửa đem lại nguồn

nóng, sức sống cho loài Người.

“Thế

nào là lửa đáng cung kính? Ở đây, này Bà-la-môn, những

người mẹ những người cha của người ấy. Này Bà-la-môn,

đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì cớ sao?”.

“Từ

đấy, này Bà-la-môn, khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra (Ato

yam àhùto sambhùto). Do vậy, lửa đáng cung kính, được tôn

trọng, được cúng dường, phải đem lại chánh lạc”.

“Và

này Mahànamà, với một thiện nam tử được cha mẹ thương

tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng không phải là sự

giảm thiểu. Và này thật sự là vậy, người con hiếu dưỡng

cha mẹ được hưởng rất nhiều hạnh phúc”.

Trong

kinh Tương ưng tập I, trang 225, Bà-la-môn Màtaposaka đến hỏi

đức Phật:

“Thưa

Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp.

Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng

mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy, tôi có làm

đúng trách nhiệm không?”

“-

Này Bà-la-môn, người như vậy là có làm đúng trách nhiệm.

Này Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp,

lại nuôi dưỡng mẹ cha, người ấy được nhiều công đức”.

“Người

nào theo thường pháp,

Nuôi

dưỡng mẹ và cha,

Chính

do công hạnh này,

Đối

với cha và mẹ,

Nhờ

vậy bậc Hiền Thánh,

Trọn

đời này tán thán,

Sau

khi chết, được sanh

Hưởng

an lạc chư Thiên”.

Khi

Bà-la-môn Manatthaddba hỏi đức Phật nên cung kính cúng dường

ai là tốt lành, đức Phật khuyên (Tương ưng tập I, trang

221):

“Với

mẹ và với cha,

Với

anh tuổi nhiều hơn,

Với

thầy là thứ tư

Không

nên sanh kiêu mạn,

Nên

kính trọng vị ấy,

Nên

tôn kính vị ấy,

Cúng

duớng chúng tốt lành”.

Phụng

dưỡng cha mẹ đúng pháp, được hưởng quả tốt lành như

kệ số 404 sau đây trong kinh Sut-tanipàta (Kinh Tập) đã nêu

rõ:

“Dhammena

màtàpitaro Bhareyya,

Payojage

dhammikam so vàmjìam

Etam

gihì vattayam appamatto

Sayam

pabhe nàma upetit pe”.

“Thờ

mẹ cha đúngpháp,

Buôn

bán đúng, thật thà,

Gia

chủ không phóng dật,

Được

sanh Tự Quang thiên”.

Bước

thêm một bước nữa, đức Phật trong kinh Tăng Chi tập I,

trang 147, dùng một hình ảnh táo bạo hơn, nhưng rất linh động

và chính xác để tán dương các gia đình có những người

con có hiếu. Những gia đình ấy được xem ngang bằng với

Phạm thiên, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời xưa, gia

đình ấy đáng được cúng dường, tôn trọng. Nói một cách

rõ rệt hơn, là gia đình nào có con cháu biết hiếu dưỡng

cha mẹ, những gia dình ấy là những gia đình đáng được

cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, ngang

bằng với Phạm thiên, là những vị Thiên cao nhất ở Dục

giới và Sắc giới, ngang bằng với các bậc Đạo sư thời

xưa, là những vị đáng được tôn trọng nhất từ xưa đến

nay.

“Những

gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ

(Pùjittà) mẹ cha ở nhà, những gia đình ấy được chấp

nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đình nào, này

các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ ở trong

nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư

thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các

con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được

chấp nhận là đáng được cúng dường (Sàhuneyykàni)”.

“Phạm

thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo

sư ngày xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.

Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa

với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ

kheo, là mẹ cha đối vớì con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng

dục chúng, giới thiệu cho chúng vào đời”.

“Cha

mẹ là Phạm thiên,

Bậc

Đạo sư thời trước,

Xứng

đáng được cúng dường,

thương đến con cháu.

Do

vậy bậc Hiền trí,

Đảnh

lễ và tôn trọng,

Dâng

đồ ăn và uống,

Vải

mặc và giường nằm,

Thoa

bóp (cả thân mình),

Tắm

rửa cả chân tay,

Với

sở hành như vậy,

Đối

với mẹ và cha,

Đời

này người hiền khen,

Đời

sau hưởng Thiên lạc”.

(Tăng Chi II A, trang 94)

Trong

mùa Vu-lan báo hiếu chúng ta đã được nghe những câu ca dao

tục ngữ nói lên công lao trời biển của mẹ cha và tấm

lòng hiếu thảo thương mẹ kính cha của người Phật tử

Việt Nam; chúng ta cũng được nghe những lời Phật dạy về

trách nhiệm báo hiếu đối với các người con Phật. Như

vậy có thể nói Phật tử Việt Nam luôn được các câu ca

dao tục ngữ ăn sâu vào tâm trí của người dân Việt từ

nhiều thế hệ nối tiếp. Do chịu ảnh hưởng của các truyền

thống một cách tự nhiên và tất nhiên ấy, nên người Phật

tử Việt Nam không những tham dự các buổi lễ Báo Hiếu đông

đủ và tích cực mà còn áp dụng hạnh hiếu thảo của mình

đối với cha mẹ hiện tiền cũng như quá khứ trong bảy đời

một cách trọn vẹn nữa.

(Bài

giảng Đại lễ Vu-Lan PL. 2539 – 1995 tại Thiền Viện Vạn

Hạnh)

Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội

Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc

Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông

Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )