Danh Ngôn Học Tập Việt Nam / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Dtdecopark.edu.vn

Rừng Trong Văn Học Việt Nam

Ca Dao Tục Ngữ Dí Dỏm Về Răng Miệng

Rắn Và Thành Ngữ Ca Dao

Tục Ngữ Nói Về Con Rắn

Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín Hay Gặp Nhất

Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín

Rừng trong văn học Việt Nam

Thái Công Tụng

1. Dẫn nhập

Con người từ thời cổ đại cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống: rừng đã là nơi cung cấp chỗ trú ẩn, chỗ nương tựa, chỗ săn bắn, vật liệu làm nhà.. Do đó con người tôn thờ cây như một cái gì linh thiêng, chứa đựng những linh hồn.

2. Vai trò của rừng.

Có thể nói rừng liên hệ đến con người qua 4 khía cạnh chính sau đây :

2.1 cung cấp :

-rừng cung cấp gổ củi: gổ làm bàn ghế giường tủ; củi nấu ăn, nung trong lò gạch, làm than .

– rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ củi như nấm, mật ong, măng tre, mây, hoa lan, dược thảo, trầm v.v. Người lính thú đời xưa ở các đồn hẻo lánh cũng chỉ dựa vào rừng m à sống:

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Ngày thời canh điếm tối dồn việc quan

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

Miệng ăn măng trúc măng mai

– rừng cung cấp thuốc trị bệnh

Xưa kia, con người nhờ các loại cây cỏ trong rừng để chữa bệnh vì cây cỏ có chất làm lành vết thương, giải nhiệt, giải độc, mụn nhọt, trị cảm cúm, trị ho .. Ngày nay, dù khoa học có tiến bộ nhưng rừng vẫn là nơi các thực vật cung cấp nguyên liệu để khảo cứu, trích các tinh dầu

Nạn sốt rét gây tàn phá làm chết rất nhiều sinh mạng. Cây quinquina (Cinchona sp) cho chất quinine và các thuốc trị sốt rét như chloroquine, quinacrine, primaquine đều từ quinine mà ra .

Trong quãng 3000 cây chứa các đặc tính chống ung thư thì có đến hơn 2000 cây từ rừng nhiệt đới .

2.2 rừng cho nhiều loại trái cây ăn được

Nhiều loài cây trong rừng có trái ăn được: sim, mồng quân, dâu rừng, trái giẻ (noyer; walnut), trái mơ ..

Trái sim có nhiều miền duyên hải Trung Việt:

Đói lòng ăn mớ trái sim

Nhịn ăn khát nước đi tìm người thương

Trái mơ cũng có trong thơ Nguyễn Bính :

Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

Say nhìn xa rặng núi xanh lơ.

Khí trời êm ả và trong trẻo

Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

2.3 điều hoà : rừng hút được chất CO2 và nhả ra oxy; rừng cản dòng nước lũ, giữ lại một phần lượng nước mưa và như vậy, giảm xói mòn, lũ lụt, giúp nước ngầm phong phú hơn. Trong thời kỳ biến đổi khí hậu như hiện nay mà thủ phạm là các khí thải CO2 do sự sử dụng các nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu hoả và hơi đốt thì rừng giúp giảm các khí đó vì với hiện tượng quang hợp, cây rừng có thể hút được các loại khí CO2. Thực vật rừng cũng có khả năng bốc và thoát hơi nước nên trong khí quyển có nhiều hơi nước bốc lên cao làm nguồn nước mưa . Nếu phá rừng thì mỗi khi mưa to, gió, bão, lại càng dễ bị lụt hơn . Lý do là vì nhờ cây rừng có thể giảm được sức mạnh của dòng chảy. Tại nhiều miền duyên hải nhiệt đới, có loại rừng ngập mặn với cây bần, cây đước. Loại rừng này giúp chận lại các trầm tích phù sa và cũng giúp cản trở dòng nước mặn ngoài biển vào nội điạ . Rừng ngập mặn che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: cua, tôm, cá, cá sấu và chim cò, khỉ, ong trên cây

Trong bài Lời nguyện của rừng, có những câu sau, đề cao vai trò đều hoà đọc ghi nhận :

Để ta sống, ta điều hòa mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi. 

Để ta sống, ta ngăn luồng vũ bão; chận cát bay làn gió bốc tung trời. 

Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian. 

Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thủy nộ lầm than. 

2.4 rừng đóng góp vào các giá trị văn hoá, như tâm linh, thẩm mỹ, giải trí, sức khoẻ và giáo dục

Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’

Các tôn giáo lớn luôn luôn nhắc nhở đến cây: cây bồ đề trong Phật giáo, rừng trúc ở đó Phật Thích Ca truyền đạo; cây sồi trong Thánh Kinh

Rừng có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của con người, và nhất là con người thời đ ại ngày nay . Với dân số tăng nhanh, với công nghiệp hoá, đô thị hoá, loài người đã mất đi không gian thiên nhiên, chỉ sống với cao ốc beton, chung đụng với ô nhiễm, với tiếng đ ộng nhà máy, tiếng động xe cộ, máy bay v.v. do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên. :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Lắm khi con người ngày nay sống hối hả ở đô thị cũng chỉ muốn những niềm vui đơn giản như đi dạo dọc theo hàng me xanh lướt thướt như trong câu thơ : Con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về., tìm lại chút bình yên thư thái

Vào rừng, thở không khí trong lành, nhìn sao ban đêm, nhìn suối, nghe nước róc rách, bướm lượn nhởn nhơ, chuồn chuồn, nghe côn trùng rỉ rả, mặt trăng lên, sao đêm nở đày trời, giúp ta tránh được các căng thẳng của cuộc sống máy móc đô thị, giúp ta quên đi những nôi nhọc nhằn của thể chất và của tâm linh, ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây (thơ Hồ Dzếnh), tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp.

Ta cũng thấy trước cảnh vật bao la của vũ trụ rằng con người chỉ là một thành phần nhỏ bé và từ đó cảm thấy khiêm tốn hơn .Mà khiêm tốn giúp cho con người đến đức tin chân thật và đức tin chân thật mới hưóng dẫn con người đến được nơi có Thượng Đế ngự trị dễ đi vào nội tâm hơn, cõi lòng lắng xuống .

Hãy đọc Bà Huyện Thanh Quan:

Dừng chân đứng lại :trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Chỉ có hai câu thơ cổ điển trên mà bao gồm mọi yếu tố môi sinh: nào là dừng chân trên đất (thổ quyển), nhìn trời tức mây trôi, gió thổi (khí quyển), nhìn non tức là núi có đá là căn nguyên của đất (thạch quyển), nhìn nước tức sông suối, biển (thủy quyển) và sinh vật, tức tác giả bài thơ (sinh quyển)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

đến những nương dâu bát ngát trong cảnh khi người vợ lính chiến xa chồng:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai !

Trong văn học dân gian, cũng nhiều ca dao tục ngữ đề cập đến rừng

Tình yêu trai gái cũng sử dụng thiên nhiên để so sánh:

Chim xa rừng thương cây nhớ cộí

Người xa nguời tội lắm người ơi

Nỏ thà không biết thì thôi

Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi, răng đành

Tình yêu trai gái đôi khi cũng mãnh liệt như trong hình ảnh này :

Yêu người như suối cuộn rừng sâu, như con tàu say gió v.v (bài Phượng Yêu)

Một môi trường hài hoà, êm ả giúp con người thảnh thơi trí óc để có thể có tư duy sáng tạo, tư duy thiền:

.. Thu ăn măng giá, đông ăn trúc

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắm

Nhìn xem phú qúy tựa chiêm bao

Chúng ta đang ở Quebec, thấy mùa thu với lá nửa vàng nửa đỏ, sau đó từ đầu tháng 10 trở đi là lá bắt đầu rụng: Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về

Lá rụng vào thu cũng là cảm xúc cho bao nhiêu nhạc sĩ, thi sĩ viết lên nhiều bài thơ, bài nhạc để đời :

Rừng thu thay lá mưa bay buồn rầu

Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào

Rừng thu lá úa em vẫn chưa về

Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ

Kiếp người cũng được ví như mùa thu với những chữ quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai trong bài Nhìn những mùa thu đi “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai”.

Thơ của Hoàng Ngọc Ẩn Rừng lá thay chưa cũng nói đến sự vô thường của kiếp người:

Anh đi rừng chưa thay lá

Anh về rừng lá thay chưa

Phố củ bây chừ xa lạ

hắt hiu đợi gió giao mùa

Khi nàng Kiều tiễn chân Thúc sinh về quê vợ, cụ Nguyễn Du đã lồng vào cảnh mùa thu:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Cũng khi trời vào thu thì nhiệt độ hạ thấp, nước ngầm trong đất bị đông lại nên thực vật phải thich nghi với sự thay đổi khí hậu bằng cách rụng lá, nhưng trước đó, lá cây từ từ chuyển màu từ xanh sang màu vàng, màu đỏ, –nhuốm màu quan san – như mọi rừng ôn đới có lá rụng (temperate deciduous forest ) ở Canada.

Loại rừng này có ở các vùng miền hạ lưu sông Dương Tử, sông Hoàng hà, nghĩa là các vùng khí hậu ôn đới . Loại rừng này cũng có nhiều bên Âu Châu (Pháp, Đức ..) và ngoài cây phong (tên Latin là Acer, họ Aceraceae), còn có nhiều loại cây khác như cây sồi (chêne; oak), cây sồi rừng (hêtre), cây tần bì (frêne; ash), cây lê đá (sorbier), cây đào gai (aubépine), cây hồ đào ( noyer; walnut); cây dẻ (chataignier; chesnut); cây dương (peuplier; poplar); cây du (orme; elm), cây dẻ (marronnier; common-horse chesnut). Loại rừng này hiện diện ở các vùng núi phía Montreal, Sherbrooke, Hull, Trois Rivieres) …Gần mặt đất, trong loại rừng ôn đới này có nhiều loài dương sĩ, thảm cỏ tươi, thảm cỏ mục. Động vật thì gặp các loài chồn, chim, sóc ..

Tưởng cũng cần nói thêm là trên thế giới, tùy theo khí hậu, ta có những loại rừng khác nhau. Vài ví dụ: tại Việt Nam, Indonesia, Mã Lai cũng như vùng Amazone bên Brésil, có rừng mưa nhiệt đới (tropical rainforest), có nhiều tầng cây con chằng chịt.

Cũng có loại rừng khô nhiệt đới (tropical seasonal forest) khi có mùa khô kéo dài như các rừng Đông Bắc Ấn độ, Đông Bắc Thái Lan.

Trên kia là nói về rừng ôn đới trong đó có cây phong là cây chiếm dạng ưu thế .Nhưng ở ven sông, thường có nhiều đất ẩm thì thực vật cảnh hay quần xã thực vật thường gặp là một loại rừng khác, có tên là rừng ở bờ nước (riparian forest) với những rặng liễu:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang 

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

(thơ Xuân Diệu)

hoặc cây liễu như trong câu Kiều:

Sông Tần một giải xanh xanh

Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

2.5 rừng có vai trò hỗ trợ như giúp tạo ra đất, làm nhiều khối đá đầu tiên vỡ ra . Thực vật với rễ cây có thể xuyên qua các khe nứt của đá và dần dà làm đá bể ra, tạo điều kiện dễ dàng cho đất hình thành ; rễ cây và vi sinh vật thải vào môi trường chất CO2 và các acid khác nhau để huỷ hoại các khoáng chất trong đá, giúp sự phong hoá dễ dàng hơn

3. Kết luận

Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu do sự phát thải  các khí độc của các nhà máy, xe cộ, kéo theo nhiều hệ quả như băng hà tan, nước biển dâng, bão lụt tăng thì vai trò bảo vệ môi tr ường lại càng quan trọng hơn .

Do đó, giáo dục môi sinh trong học đường rất cần thiết; những thơ văn, ca dao, tục ngữ đề cao vai trò của môi sinh, từ sông ngòi đến  thác nước sẽ giúp trẻ em học sinh hiểu nhanh hơn vai trò cûa con người trong các hệ sinh thái nhằm bảo vệ chung trái đất.Giáo dục  cho mọi người về sự cần thiết của niềm đồng cảm giữa người và vũ trụ, tình gắn bó giữa con người với thiên nhiên để con người yêu thêm thiên nhiên, tạo vật, tìm lại mây trời hiền hoà, màu xanh của nước và của  núi rừng, nói theo danh từ thời đại là green awareness và từ đó thấy sự cần thiết có một sự hài hoà giữa dân số và thiên nhiên, hài hoà giữa thiên nhiên  và phát triển kinh tế, một sự hài hoà mà chính hệ thống triết học Á Đông luôn luôn đề cao.

Thái Công Tụng

.

Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru

Đô Thị Cổ Hội An

Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam

Văn Học Dân Gian Quảng Trị

Vài Câu Ca Dao Quảng Ngãi (Sưu Tầm)

Danh Ngôn Phụ Nữ Việt Nam

Những Câu Nói Hài Hước Siêu Bựa Nhất Cười Ra Nước Mắt

Châm Ngôn Cười Ra Nước Mắt

Danh Ngôn Hay Nhất Của Ralph Waldo Emerson P I

Những Stt Ý Nghĩa Giúp Bạn Trưởng Thành Hơn Trong Cuộc Sống

Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ

2. Paris By Night 90 – Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam (Part 1)

3. Vào dịp này, chị em phụ nữ được nhiều người bày tỏ sự quan tâm và tôn vinh dưới nhiều hình thức, như tặng hoa, tặng thiệp và kèm theo những lời chúc mừng.

4. Những câu danh ngôn bất hủ về phụ nữ Một người đàn bà xấu mặt nhưng đẹp lòng là người đàn bà đẹp.

9. Tìm hiểu chăm sóc bà bầu, làm đẹp, thời trang, Gia đình, đưa phụ nữ LÊN ĐỈNH.

15. Tổng hợp danh ngôn về tính cách hay nhất, những quan điểm của những người nổi tiếng về tính cách, những câu nói về tính cách hay nhất.

17. Aug 17, 2022 · Phụ nữ luôn muốn bản thân không ngừng đổi mới trong mắt đối phương, còn các chàng trai lại không ngừng tìm hiểu những điều còn chưa biết về họ.

20. Tuyển tập những câu danh ngôn phụ nữ hay nhất, những câu nói hay về phụ nữ, tìm hiểu những điều bạn chưa biết về phụ nữ.

21. Jul 21, 2022 · Là Phụ Nữ có chết cũng cần phải ghi lòng tạc dạ những điều này để cuộc sống sung sướng và yên bình – Duration: 15:46.

22. Phụ nữ Việt Nam là nguồn nhân tố quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam.

24. Danh ngôn Việt Nam “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn.

36. Để nói về vẻ đẹp của người phụ nữ, có lẽ nếu vận dụng mọi ngôn ngữ trên thế giới cũng thật khó để diễn tả ….

38. Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và chẳng có lời chúc mừng nào có thể sánh bằng những câu danh ngôn dành cho phụ nữ nhằm tôn vinh những đóng góp và cống hiến của họ đối với gia đình và xã hội.

40. Báo phụ nữ – Đọc báo tin tức 24h mới nhất trong ngày về phụ nữ Việt Nam và hạnh phúc gia đình,xem báo phụ nữ online để cập nhật bí quyết làm đẹp,giữ gìn hạnh phúc.

42. 4000 năm giữ nước và dựng nước, không kém cạnh các đấng mày râu, ở bất kỳ đời nào thời nào, ở bất cứ công việc nào từ làm khoa học, sáng tác văn thơ, giết giặc, trị nước, cũng có những.

43. 100 Bài Bolero Nhạc Vàng Xưa ĐẶC BIỆT Hay Tê Tái Nhạc Hay Việt Nam 792.

44. Nhân tuần lễ 8/3, Tạp chí Phụ nữ xin dành thời gian chia sẻ tâm sự của người phụ nữ Việt Nam thành danh trên đất Mỹ.

45. Cách đây từ rất nhiều năm, những người phụ nữ Việt Nam đã được dành tặng 8 chữ vàng là “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

47. – PIGAULT LEBRUN -Cái khó khăn chính đối với người đàn bà đức hạnh không phải là chinh phục họ, mà là đưa họ vào một nơi khép kín.

Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Dũng Khí Hay Nhất !!!

Danh Ngôn Về Lòng Can Đảm

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dũng Cảm, Danh Ngôn Hay

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người Thâm Sâu, Khó Đoán

Những Câu Nói Hay Về Lòng Dạ Con Người ✅

Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam

Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name

Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?

Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht

Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trên Ola Phần 2

9 Câu Nói Bất Hủ Mà ‘bố Già Marvel’ Stan Lee Để Lại Cho Nhân Loại

Trong thực tế đời sống, từ săn bắt hái lượm đến định cư nông nghiệp, dân Việt cổ thường gặp phải những tai nạn ở sông biển, mà họ cho là do thủy quái, một loài động vật ở nước gây ra. Chính vì thế mà họ đã vẽ mình, xăm trên thân hình những dạng hình ngoằn ngoèo (truyền thuyết kể là từ đời Hùng Vương) và mãi đến đời Trần mới bãi bỏ.

Chính cái truyền thuyết về Con Rồng Cháu Tiên là một thứ truyền thuyết Việt cổ đã bị khúc xạ bởi yếu tố văn hóa ngoại nhập, văn hóa Hán tộc.

Suốt quá trình bị đô hộ và sau đó là giao lưu văn hóa với Trung Hoa, khái niệm rồng của Trung Hoa mới du nhập Việt Nam. Từ đó, người Việt mới có khái niệm rồng như là một con vật linh thiêng, trong hệ thống tứ linh: long, lân, quy, phụng. Và từ đó, trong ngôn ngữ, từ long hay rồng mới gắn với cương vị đế vương, vua chúa, hay những thực thể cao quý. Như một loạt từ sau đây:

Long thể: thân thể vua

Long nhan: mặt vua

Long sàng: giường vua

Long ngai: ngai vua

Long cổn, long bào: áo vua

Long châu, long thuyền: thuyền vua…

Và hình ảnh tưởng tượng của rồng cũng đã chi phối cách mô tả ngoại hình các bậc vua chúa của nhà văn: râu rồng, mũi rồng, đi nhẹ như nước, ngồi vững như non v.v…

Đó là trong ngôn ngữ và văn chương bác học. Còn trong ngôn ngữ và văn học dân gian, từ rồng, hình tượng rồng được dùng mở rộng hơn. Và tất nhiên là không mấy hệ thống. Nên đề cập về hình tượng rồng, từ rồng trong ngôn ngữ và văn học dân gian là một câu chuyện tản mạn, có tính chất phiếm luận.

Có thể thấy dân gian quan niệm về rồng tản mạn như sau:

1. Cá gáy hóa rồng:

Quan niệm này cũng tiếp thu từ Trung Hoa. Ca dao ta nói:

Mồng bốn cá đi ăn thề.

Mồng tám cá về cá vượt Vũ môn.

Vũ môn, tức cửa Vũ gồm có ba tầng. Ở Trung Quốc và ở Việt Nam ta đều có địa điểm này. Đó là nơi mà người xưa tưởng là cá trải qua cuộc thi khảo sát về trình độ và năng lực. Nếu vượt qua ba cấp Vũ môn thì sẽ hóa rồng(!)

Từ khái niệm cụ thể đó, thành ngữ “cá hóa rồng” thường dùng để chỉ việc thi cử thành đạt của sĩ tử ngày xưa. Dân gian đã từng nuôi ước mơ:

Biết bao giờ cá gáy hóa rồng,

Đền công ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xưa

Khái niệm này cũng được mở rộng, dùng để chỉ cho việc người con gái lấy được người chồng xứng đáng:

Phận gái lấy được chồng khôn,

Xem bằng cá vượt Vũ môn hóa rồng.

2. Rồng nở từ trứng và ở hang.

Nhưng trong dân gian cũng có một quan niệm khác: rồng cũng sinh sản như rắn:

– Trứng rồng thì nở ra rồng

Liu điu thì nở ra dòng liu điu. Hay:

Trứng rồng thì nở ra rồng,

Hạt thông thì nẩy cây thông rườm rà.

Và rồng cũng ở hang:

– Lấy chồng thì phải theo chồng,

Chồng đi hang rắn, hang rồng, cũng đi.

Quan niệm này hẳn có màu sắc bản địa hơn quan niệm trên kia.

3. Trong ngôn ngữ và văn học dân gian, rồng là một yếu tố ví von, so sánh để biểu đạt một số mặt sinh hoạt của con người, như ăn, nói, viết, giao tế, thời vận, tình yêu, nhận định về con người và cuộc sống.

Trước hết về chuyện ăn. Chỉ có một thành ngữ: “ăn như rồng cuốn”. Rồng cuốn tức là rồng hút, chỉ hiện tượng vòi rồng trong tự nhiên, như cách chiêm nghiệm thời tiết:

Rồng đen uống nước thì nắng,

Rồng trắng uống nước thì mưa.

Về chữ viết, người văn hay chữ tốt thường được ca ngợi “như rồng bay phượng múa”.

Ngay cả lời nói: “nói như rồng” là nói thao thao bất tuyệt:

Trong lưng chẳng có một đồng,

Lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe.

Nhưng coi chừng, bao giờ cũng cần nói đúng thực chất, nói phù hợp với kiến thức mà mình tiêu hóa, nếu không dễ trở thành khập khiễng: “nói những lời như rồng như rắn”. Thêm yếu tố rắn làm chuyển đổi giá trị tức khắc:

Học chẳng biết chữ cua, chữ còng,

Nói những lời như rồng, như rắn!

Trên phương diện giao tế, dân gian dùng thành ngữ: “rồng đến nhà tôm” để vừa tỏ sự tự khiêm, nhún nhường của gia chủ, vừa ca ngợi người khách quý. Nhưng có khi, đó cũng là cách mai mỉa:

Mấy đời rồng đến nhà tôm.

Tôi đến nhà chị không môn thì bầu.

Âu cũng là một lối giao tế thực dụng. Và quen thuộc nhất là rồng chỉ thời vận. Hanh thông như là “rồng gặp mây”. Thường chỉ người thành đạt khoa cử:

“Như cá gặp nước, như rồng gặp mây”

Nhưng mất yếu tố thời vận thì chỉ là “rồng nằm ở cạn”, không còn vùng vẫy, múa may gì được, mà chỉ còn trơ hình hài:

Rồng nằm bể cạn giơ râu,

Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi. Hay đau khổ hơn là:

Rồng vàng tắm nước ao tù,

Người khôn ở với đứa ngu bực mình.

Đó cũng là cái tình thế bất như ý:

Khốn nạn thay, nhạn ở với ruồi,

Tiên ở với cú, người cười với ma

Con công ăn lẫn với gà,

Rồng kia rắn nọ, coi đà sao nên.

Dễ thường mấy khi rồng mây được dùng để chỉ lứa đôi, vì những hình tượng khác quyến rũ hơn, như: mận – đào, loan – phượng, yến -oanh, gió – trăng v.v… nhưng điều đó cũng có:

Mấy khi rồng gặp mây đây,

Để rồng than thở với mây vài lời.

Nữa mai rồng ngược mây xuôi,

Biết bao giờ lại nối lời rồng mây.

Như thế, “lời rồng mây” cũng là lời hẹn thề, lời chung thủy, lời nước non.

Họa hoằn lắm, rồng được dùng như là một biểu tượng của ngăn trở, của cách chia:

Ngồi buồn gởi bức thư sang,

Có con rồng bạch chắn ngang giữa trời

Vậy nên thơ chẳng tới nơi,

Trông thơ, ai biết những lời làm sao.

Ở trên, đã nhắc đến những kết hợp rồng – phượng, rồng – rắn. Ngoài ra, còn có kết hợp rồng – hổ, theo dạng thức đối lập, trong cách ví von nhẹ nhàng mà không kém sâu sắc và mai mỉa, đồng thời lại là chơi chữ:

Xấu hổ nhưng mà tốt long

Đến khi no lòng, tốt cả long lẫn hổ.

Trong nghệ thuật dân gian và cung đình Việt Nam cũng như Trung Hoa, rồng là hình tượng trang trí quen thuộc trên lâu đài đình tạ am miếu, như những mô típ: lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nguyệt, long hý châu, long lộng vũ, long ẩn, và đặc biệt là các điệu hóa cả chiếc thuyền vua, long thuyền tức thuyền rồng. Đến nỗi có người con gái nghèo mơ ước:

Vốn tôi chỉ có ba đồng,

Nửa để nuôi chồng, nửa để nuôi tôi.

Còn thừa mua cái bình vôi,

Mua xanh, mua chảo, mua nồi nấu ăn.

Còn thừa mua nhiễu vấn khăn,

Mua dăm vuông vóc may chăn cho chàng.

Còn thừa mua chiếc thuyền rồng,

Đem ra cửa bể cho chàng thả chơi…

Cũng là lời nói ngoa cho đỡ day dứt cảnh nghèo, chứ dân giả ai mà chẳng biết:

Tay chèo cất mái hò khoan

Thuyền rồng chúa ngự, khoan khoan mái chèo.

Một kiểu nói khác bày tỏ sự ước ao sang cả, biểu hiện một tâm lý hưởng thụ, để trở thành phản bội:

Một ngày dựa mạn thuyền rồng,

Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài.

Cách nói ấy tất nhiên bị phủ định bằng một suy nghĩ chín chắn hơn, xác thật hơn:

Chớ tham ngồi mũi thuyền rồng,

Tuy rằng tốt đẹp, nhưng chồng người ta.

Và quả thật, dân gian đã xét đoán đúng giá trị con người, nhìn đúng thực chất con người, không lệ thuộc những thứ trang sức phù hoa, những thứ trang hoàng sang trọng:

Dù ngồi cửa sổ chạm rồng

Chăn loan gối phượng, không chồng cũng hư

Nhưng sâu sắc và không kém chua chát là lời cảm thán sau đây:

Khen ai khéo dựng bình phong,

Bên ngoài long phượng, trong lòng gạch vôi!

Trong một cách nói ngoa ngữ, cường điệu, một chi tiết thiếu bình thường trên gương mặt người con gái cũng có thể bị châm biếm một cách dí dỏm:

Lỗ mũi em mười tám gánh lông,

Chồng thương chồng bảo râu rồng trời cho.

Đúng là người lớn lắm chuyện. Hãy trở về với thế giới trẻ em. Trong tâm tưởng hồn nhiên, ngây thơ của trẻ em qua đồng dao, rồng đã là một biểu tượng của hạnh phúc, của ấm no, giàu có như lời chúc tụng của trẻ em ngày xưa đối với gia chủ trong những ngày tết nguyên đán:

Súc sắc súc sẻ,

Nhà nào còn đèn còn lửa,

Mở cửa cho anh em chúng tôi vào,

Bước lên giường cao, thấy đôi rồng ấp.

Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu.

Ông sống một trăm, thêm năm tuổi lẻ…

Đó cũng là lời chúc tất cả bạn đọc trước thềm năm mới.

T.Đ

(SH29/02-88)

Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian

Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ

Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc

Quotes & Những Câu Nói Hay

Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

Danh Y Danh Ngôn Tinh Hoa

Những Câu Nói Hay Về Nỗi Sợ: 100+ Danh Ngôn Hay

Danh Ngôn Cuộc Sống Gia Đình

Kho Tàng Danh Ngôn Cuộc Sống

100 Câu Nói Hay Về Nghị Lực Cuộc Sống Giúp Bạn Tự Tin Vượt Lên Chính Mình

Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

1.1. Khái quát về danh ngôn

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn

1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh

1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh”

1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam.

1.3.1. Khái quát về văn hoá

1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam

Chương 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM

2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc

2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam

2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa

2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng so sánh không nói về người

2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều nói về con người

2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều không nói về con người

2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối tượng so sánh nói về người

Chương 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI VIỆC LƯU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA

3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc

3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong danh ngôn việt nam

3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật

3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật

3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực

3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng

3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình

Top 6 Bài Văn Hay Viết Về Chân Lý Sống “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng” Của Nhà Văn Lỗ Tấn

Suy Nghĩ Về Câu Nói: “trên Con Đường Thành Công Không Có Dấu Chân Của Kẻ Lười Biếng”

Những Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường

Danh Ngôn Phụ Nữ, Hiểu Phụ Nữ Qua Câu Danh Ngôn Về Phụ Nữ

Danh Ngon Chuc Mung Nam Moi

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc

28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng

Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao

Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ

Ngày đăng: 07/05/2017, 14:19

Ca dao tục ngữ Việt Nam toàn tập 1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai 2. Ai đem con sáo sang sông Để cho con sáo sổ lồng bay cao 3. Ai đi bờ đắp một mình Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân 4. Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm Ai đi muôn dặm non sông Để ai chứa chất sầu đong vời đầy 5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào Ai đi sục sịch ngoài hàng rào Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa 6. Ai kêu là rạch, em gọi là sông Phù sa theo nước chảy mênh mông Sông ơi, thấm mát đời con gái Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng 7. Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng Ca dao tục ngữ Việt Nam toàn tập Ai tưởng bậu hiền Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai Ai đem sáo sang sông Để cho sáo sổ lồng bay cao Ai bờ đắp Phất phơ áo giống hình phu quân Ai Hay trúc nhớ mai tìm Ai muôn dặm non sông Để chứa chất sầu đong vời đầy Ai sục sịch hàng dưa Phải thợ mộc với cưa bào Ai sục sịch hàng rào Phải thợ mộc với bào cưa Ai kêu rạch, em gọi sông Phù sa theo nước chảy mênh mông Sông ơi, thấm mát đời gái Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng Ai làm Nam Bắc phân kỳ Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương Ai mà nói dối Thì trời giáng hạ khoai đồng Ai mà nói dối chồng Thì trời giáng hạ hồng bờ ao 10 Ai nhứt đứng nhì Ai mà thứ ba chúng tôi chúng tôi Posted – 08/11/2007 : 03:51:53 11 Ai bưng bát cơm đầy Dẻo thơm hạt, đắng cay muôn phần 12 Ai chơi lấy kẻo già Măng mọc có lứa người ta có Chơi xuân kẻo hết xuân Cái già sòng sọc theo sau 13 Ai nghĩ hèn Nước dù đục lóng phèn 14 Ai vội cười Cười người hôm trước hôm sau người cười Ai vội cười Nhìn cho tỏ trước sau cười 15 Ai chẳng chóng chầy Có công mài sắt, có ngày nên kim 16 Ai hành Đã đốn vác cành lẫn 17 Ai hành Đã đan lặn, tròn vành 18 Ai đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng nhiêu 19 Ai đừng lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Hay nằm thời có võng đào Dài lưng thời có áo chào nhà vua Hay ăn thời có gạo kho Việc mà chẳng ăn no lại nằm 20 Ai đừng lấy pháo binh Nửa đêm bắn rung rinh giường 21 Ai chí cho bền Dù xoay hướng đổi mặc 22 Ai chí cho bền Dù xoay hướng đổi mặc Dù nói Đông nói Tây, Ta vững rừng 23 Ai phụ có đất trời chứng giám Phận nghèo, không dám phụ Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây 24 Ai mặc Áo dà lại, đến mai 25 Ai mặc Thiếp sầu đượm thắp hoài năm canh 26 Ai Bình Định mà coi Đàn bà biết múa roi, quờn 27 Ai có nhớ ta Ta ta nhớ hàm cười 28 Ai em gởi thơ Hỏi người bạn cũ nơi nao Non đắp mà cao Sông kia, biển đào mà sâu 29 Ăn sung ngồi gốc sung Lấy anh lấy, nằm chung không nằm … Thiếp sầu đượm thắp hoài năm canh 26 Ai Bình Định mà coi Đàn bà biết múa roi, quờn 27 Ai có nhớ ta Ta ta nhớ hàm cười 28 Ai em gởi thơ Hỏi người bạn cũ nơi nao Non đắp mà cao Sông kia, biển đào mà…Posted – 08/11/2007 : 03:51:53 11 Ai bưng bát cơm đầy Dẻo thơm hạt, đắng cay muôn phần 12 Ai chơi lấy kẻo già Măng mọc có lứa người ta có Chơi xuân kẻo hết xuân Cái già

Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm

Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất

Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !

Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ

Trích Dẫn Hay Nhất Trong Sách Văn Học Việt Nam

Những Trích Dẫn Hay Và Ý Nghĩa Về Tình Yêu Trong Văn Học Đương Đại Tốt Cho Mọi Người

Trích Dẫn Hay Về Sự Tự Tin, Thông Điệp Cho Bản Thân Về Lòng Tự Tin

Những Trích Dẫn Sách Và Câu Nói Hay Về Tình Yêu Phụ Nữ Nên Đọc

Những Câu Trích Dẫn Hay Cho Thấy Tuổi Thanh Xuân Là Thời Gian Đẹp Nhất

Sống Đừng Để “cái Tôi” Quá Lớn, Kẻo Nó Gây Phiền Phức Cho Bạn

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn. Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. (Vội vàng)

Cái na ná tình yêu thì có trăm cái. Nhưng tình yêu đích thực thì chỉ có một. (Kẻ đi tìm tình yêu)

Phụ bạc len lỏi trong máu của mỗi người. Và những cuộc bỏ rơi nhau vẫn đang xảy ra ở đâu đó. (Gáy người thì lạnh)

Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. (Hai đứa trẻ)

Khoảnh khắc đó tôi đã biết âm thanh đẹp nhất của cuộc sống là tiếng của một người nói yêu một người. (Khói trời lộng lẫy)

Sự thật ở bên ngoài to lớn quá, mạnh mẽ quá, ăn hiếp hẳn cuộc đời tưởng tượng, hiện hình bằng giấy trắng mực đen. (Sống mòn)

Rất nhiều người sống trên đời cũng mang theo một hoặc nhiều câu hỏi mà không được trả lời. Cuộc sống là gì mà thê lương vậy? (Sông)

Có ai đó đã bảo người nhút nhát trước con gái là người lương thiện. Và tình yêu nhút nhát là tình yêu chân thành. (Ngày xưa có một chuyện tình)

Người ta buồn nhất, cô đơn nhất là khi ngủ dậy. Và khi ngoài bầu trời đang nắng ráo mà không biết phải đi đâu, về đâu. (Biển người mênh mông)

Cuối cùng cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ tiếc là không bao giờ nói được hết những gì mình nghĩ với người mình yêu thương. (Thư gửi một người)

Ta chẳng cần ai bảo ta là người tử tế. Ta chỉ cần đừng ai nghĩ rằng ta là một thằng quá hiền lành, người ta muốn bắt nạt thế nào cũng được. (Sống mòn)

Người ta ngây ngất trước sự hào nhoáng, mê mẫn trước sự bóng bẩy, nhưng lại rơi nước mắt trước sự giản dị tự đáy lòng. (Ngày mai của những ngày mai)

Càng ồn ào lễ hội người ta càng cô đơn, càng đông đúc chung quanh ta càng đơn độc, bởi có những tâm hồn không ai chạm thấu được. (Biển của mỗi người)

Khi bạn quá tin cậy hoặc sùng bái một ai, chắc chắn bạn không bao giờ đề phòng, thậm chí nghi ngờ. Và đôi khi bạn chết vì niềm ngây thơ của mình. (Tôi là Bê tô)

Bản chất của tình yêu là hi vọng. Nhiều khi trước một sự thật phũ phàng đã rõ mười mươi người ta vẫn tìm cách giải thích theo chiều hướng ít bi quan nhất. (Mắt biếc)

Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén, sở dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì khi đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác. (Chí Phèo)

Thời gian chưa bao giờ là bạn tốt của con người. Thời gian biến tóc ta thành hoa lau, nhuộm hồn ta thành lá đỏ. Và đến một ngày nó sẽ biến đời ta thành mây trắng lang thang. (Cảm ơn người lớn)

Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng. (Trăng sáng)

Hy sinh vì người khác luôn cho hương thơm bay ngược chiều gió. Gánh nặng vì tình yêu luôn song hành cùng sức mạnh vô song. Bất cứ gỗ đá nào chạm phải tình yêu đều trở nên bao dung mềm mại. (Vô thường)

Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt nó trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó. (Ba phút sự thật)

Trong cuộc sống nhiều lúc gặp biến cố, trái tim chúng ta đau thắt, không kịp dừng lại để nhìn thật kĩ vào vấn đề. Chúng ta bị rối tung lên. Chúng ta cứ tưởng khổ đau bất hạnh cứ ập đến đè nặng lên vai chúng ta. (Vô thường)

Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta quá khổ thì người ta chẳng nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp. (Lão Hạc)

Bệnh buồn là hỗn hợp của những đổ vỡ, ngơ ngác, thảng thốt, vu vơ, ngớ ngẩn, lạc lỏng, mất mát, vô nghĩa, không phương hướng. Những cái buồn không nắm bắt được, mù mịt bủa vây. Không biết lối nào để thoát khỏi nó. (Ngày mai của những ngày mai)

Ta giận thân làm gì mà oán đời làm gì? Sự đời là như thế, bao giờ cũng có cái sự gì nó xảy ra để cho chúng ta đang sướng phải hóa ra khổ hoặc đã khổ rồi lại phải khổ hơn trước nữa… Ai cũng chịu đựng số phận như thế chứ chẳng cứ gì một ta đâu. (Giông tố)

Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời. Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng lại vô vọng. (Tôi là ai, là ai)

Khi người ta lớn, niềm vui và nỗi buồn cũng lớn theo. Trong những giấc mơ của tôi, không chỉ có châu chấu chuồn chuồn như những ngày thơ bé. Đã có bão giông theo về trong những đêm gió luồn qua mái lá. Ở ngay cả giấc mơ cũng lớn lên đó thôi. (Cây chuối non đi giày xanh)

Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng yêu thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn. (Đời thừa)

Thật vậy, sự phù hoa giả dối của một xã hội chỉ trọng những cái bề ngoài, một nền luân lý ích kỷ, sự tín ngưỡng thế lực hoàng kim, cuộc cạnh tranh dữ dội đến vật chất đã làm hại tâm thuật người đời. Do thế, lúc người ta bần thì người ta còn thanh, và đã nên phú rồi, nhiều khi người ta hóa ra trọc. (Giông tố)

Còn chi buồn bằng tuổi trẻ gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái tim và tấm lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng. Tôi không muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết đằng cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đây ra sao. (Dế mèn phiêu lưu kí)

Một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra ý nghĩa của ước mơ không phải là ở chỗ nó có phù hợp với khả năng thực tế hay không. Điều quan trọng là nó cho phép bạn sống thêm một cuộc đời nữa với cảm xúc của riêng bạn, trong một thế giới mà bạn có thể hóa thân một cách hồn nhiên nhất vào đấng toàn năng. (Tôi là Bê tô)

Cái cảm giác tù đọng khi thức giấc với bốn bức tường câm lặng, hé cửa ra là sóng âm thanh hỗn độn của đường phố xô vào. Những bình minh lặp đi lặp lại, không bao giờ nhìn được mặt trời lên, vội vã áo quần, vội vã tất giày, vội vã phấn son rồi ào ra đường, ào qua ngày, qua tháng, qua năm… (Những bình minh khác)

Ở đời có những sự kiện, những khuôn mặt thoảng qua đời ta như cơn gió tình cờ, chẳng lưu lại một điều gì trong ký ức, nhưng cũng có những biến cố khắc sâu vào tâm hồn ta như dao chém vào đá, mãi mãi để lại trong trí não ta một vết hằn mà năm tháng chỉ đánh bóng nó lên chứ không thể làm cho nó phai đi. (Đi qua hoa cúc)

Đời sống có thể làm cho người này không vui và người khác có thể hơi buồn buồn. Ở đây anh tự tìm một cách sống riêng để không bao giờ thấy cuộc đời là một sự khổ ải. Sống thì phải vui nếu không thì hãy ngủ lâu dài. Có những hạnh phúc không bao giờ mình đến gần được. Bình thường thôi, anh sống một mình và cố tìm niềm vui của riêng anh. (Thư gửi một người)

Sứ mệnh của người làm nghệ thuật là đem lại mỹ cảm, vẻ đẹp của tâm hồn và thiên nhiên dâng hiến cuộc đời, nhưng phải với tư cách một vẻ đẹp sáng tạo chưa từng có trước đó. Bản thân sự sáng tạo đã là một ngọn lửa, một ngọn đuốc soi đường và dẫn dắt. Tiếng hát và tác phẩm chân thật sẽ sưởi ấm và an ủi những cõi đời buồn chán, cô đơn và giá lạnh. Người nghệ sĩ có trái tim chân thật luôn là người bạn ấm áp và tốt bụng của mọi người. (Ngẫu hứng)

Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phằng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút gì mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có. (Đời thừa)

Những Trích Dẫn Hay Và Cảm Động Nhất Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình

Những Trích Dẫn Hay Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình ♥

Tổng Hợp Những Trích Dẫn Hay Nhất Trong Sách Về Cuộc Sống

Bên Nhau Trọn Đời

Những Câu Trích Dẫn Sách Về Tình Yêu Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Danh Ngôn Hay Nhất Về Học Tập

Những Danh Ngôn Hay Về Học Tập

Xếp Hạng Những Câu Nói Hay Về Tình Bạn Lâu Dài

170 Caption Hay, Status Chất Đăng Facebook, Zalo, Instagram

Những Câu Chúc Mừng Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Những Stt Kỷ Niệm Ngày Yêu Nhau Ngọt Ngào, Lãng Mạn

Những câu danh ngôn hay nhất về học tập dưới đây được Meohay sưu tầm sẽ giúp các bạn hiểu và chiêm nghiệm sâu sắc hơn về việc học qua quá trình đúc kết của những bậc tiền nhân.

Danh ngôn hay nhất về học tập

“Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác.” Usinxki

“Ai làm chủ giáo dục có thể thay đổi thế giới.” Leibniz

“Bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục.” Karl Marx

“Bé chẳng học, lớn làm gì?.” Ngạn ngữ Trung Quốc

“Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người.” Ngạn ngữ Nga

“Các bài giảng của giáo sư, cho dù có đầy đủ, xúc tích đến đâu, có chứa chan tình yêu tri thức của bản thân giáo viên đến đâu, thì về thực chất, mà nói, đó chẳng qua cũng vẫn chỉ là chương trình, là những lời chỉ dẫn tuần tự để điều chỉnh trật tự nhận thức của sinh viên. Người nào chỉ biết ngồi nghe giáo sư giảng chứ bản thân mình trong lòng không cảm thấy khát khao đọc sách, thì có thể nói tất cả những điều người ấy nghe giảng ở trường đại học cũng sẽ chỉ như một tòa nhà xây trên cát mà thôi.” I.A. Gontcharov

“Cần phải lựa chọn một cách nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì.” Lev. Tolstoy

“Đi một ngày đàng học một sàng khôn.” Tục ngữ Việt Nam

“Đọc sách không bằng suy ngẫm. Học trường không hơn được trường đời”. Immanuel Kant

“Đời sống có hạn mà sự học thì vô hạn.” Trang Tử

“Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.” Khuyết Danh

“Giáo dục là làm cho con người tìm thấy chính mình.” Socrates

“Giáo dục là một điều đáng kính trọng, nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết.” Oscar Wilde

“Hiền dữ đâu phải do tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên.” Hồ Chí Minh

“Học không biết chán, dạy người không biết mỏi.” Khổng Tử

“Học kiến thức phải giỏi suy nghĩ, suy nghĩ, lại suy nghĩ. Chính nhờ cách ấy tôi đã trở thành nhà khoa học.” A. Einstein

“Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc.” Ngạn ngữ Gruzia

“Học thầy, học bạn, vô vạn phong lưu.” Tục ngữ dân tộc Thái-Việt Nam

“Học, học nữa, học mãi.” V.I. Lenin

“Hỏi một câu chỉ dốt chốc lát. Nhưng không hỏi sẽ dốt nát cả đời.” Ngạn ngữ phương Tây

“Không bỏ ra một công phu nhất định thì không có khả năng khám phá sự thật và ai sợ mất công sức thì không có khả năng lĩnh hội được chân lý.” Khuyết Danh

“Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ.” Margaret Mead

“Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người.” A. Einstein

“Một đứa trẻ được dạy bảo tốt sẽ trở thành người tốt.” Victor Hugo

“Một ngày ngồi trách móc sao bằng một giờ làm việc. Một giờ này làm lòng ta nhẹ và túi ta nặng.” Benjamin Franklin

“Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đó phải là con đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái Chân và thực hành cái Thiện.” Vijaya Lakshmi Pandit

“Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước, phải trọng dụng người tài.” Chiếu Lập Học

“Nếu ở Hoa Kỳ chỉ có một lời để lưu truyền từ thế hệ phụ huynh đến thế hệ con em của họ thì đó chỉ là một câu gồm hai chữ Tự tân. Và nếu ở mỗi thành phố có một ngôi đền dành cho sự tự tân, thì đó là ngôi trường học của nơi đó .” Ellen Goodman “Ngủ dậy muộn thi phí mất cả ngày, ở tuổi thanh niên mà không học tập thì phí mất cả cuộc đời .” Ngạn ngữ Trung Quốc

“Nhà trường phải luôn luôn có chủ trương tạo cho học trò một cá tính cân đối chớ không nên biến chúng thành một nhà chuyên môn.” A. Einstein

“Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp, mà chính phải là đặt ra các câu hỏi thích hợp.” Cynthia Ozick

“Sự ngu dốt, hơn hẳn cả sự ở không, mới là mẹ của tất cả các thói xấu. Ðịnh mệnh của các thế hệ tương lai nằm ở trong nền giáo dục khôn ngoan, một nền giáo dục cần phải phổ cập để có thể có ích lợi.” L.E. Landon, Ethel Churchill

“Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn phải nghi ngờ nó suốt đời.” F. Engels

“Thầy giáo của anh có thể dắt anh đến cửa; đạt được sự học là việc tùy thuộc vào mỗi người.” Danh Ngôn Trung Quốc

“Tôi đã học được ba điều quan trọng ở đại học: Biết dùng thư viện, biết nhớ nhanh và chính xác, biết ngủ mọi lúc nếu rảnh 15 phút và có một mặt phẳng. Điều mà tôi chưa học được là làm thế nào suy nghĩ có sáng tạo theo một thời khóa biểu.” Agnes de Mille

“Tri thức là sức mạnh.” F.Bacon

“Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt.” Hồ Chí Minh

“Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự bồi dưỡng… chỉ có qua con đường tự học, loài người mới có thể phát triển mạnh mẽ lên được.” Herrert Spencer

“Trường học có thể hô biến những người thắng và người bại, nhưng cuộc sống thì không.” Bill Gate

Học tập là quá trình trau dồi kiến thức không ngừng nghỉ, đó là cả một chặng đường dài đòi hỏi mỗi người cần sự kiên trì, chăm chỉ.

Những Lời Chúc Hay Ý Nghĩa Nhất Dành Cho Ngày Của Mẹ 2022

Stt Quan Tâm 101 Câu Nói Hay Về Vị Ngọt Ngào Của Sự Yêu Thương

Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Bình Yên Hay Nhất

[++] Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Bình Yên Để Luôn Vui Vẻ

Lời Phật Dạy Khi Chồng Ngoại Tình: Cần Tỉnh Táo Hơn Là Bi Luỵ

Đề Tài Phép So Sánh Trong Danh Ngôn Việt Nam

Danh Ngôn Tiếng Anh Về Thời Gian

Những Câu Stt Hay Về Bản Thân Mình Đáng Suy Ngẫm

150+ Stt Hay Về Cuộc Sống Chất Đáng Suy Ngẫm

Những Lời Chúc Ngày Quốc Tế Phụ Nữ Mùng 8/3 Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Stt Thất Bại, Danh Ngôn & 70 Câu Nói Hay Về Sự Thất Bại Ý Nghĩa

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGÔ THỊ THU HẢI

PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS. Đào Thị Vân

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, em đã được

sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo.

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Boxxyno.com Đào Thị Vân Người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của thầy, cô

giáo trong Viện ngôn ngữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn và khoa sau

Đại học – Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã đọc và chỉ ra

những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012

Học viên: Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố

trong một công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả

Ngô Thị Thu Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục …………………………………………………………………………………………………. i

Danh mục các bảng ……………………………………………………………………………….iii

MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ………………………………………………………………. 10

1.1. Khái quát về danh ngôn …………………………………………………………………… 10

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn ……………………………………………………………. 10

1.1.2. Vấn đề phân loại các câu danh ngôn………………………………………… 11

1.2. Khái quát về phép so sánh và cấu trúc so sánh…………………………………… 12

1.2.1. Một số định nghĩa về “so sánh” và “phép so sánh” ……………………. 12

1.2.2. Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ …………………………………. 15

1.2.3. Cấu trúc so sánh ……………………………………………………………………. 17

1.3. Khái quát về văn hóa, sơ lược về văn hóa Việt Nam thể hiện trong

danh ngôn Việt Nam. …………………………………………………………………………….. 25

1.3.1. Khái quát về văn hoá……………………………………………………………… 25

1.3.2. Sơ lược về văn hoá Việt Nam thể hiện trong danh ngôn Việt Nam 30

1.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 31

Chƣơng 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÉP SO SÁNH

TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM …………………………………………………… 33

2.1. Số liệu khảo sát và phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam ……………………………………………………………………………………………… 33

2.1.1. Số liệu khảo sát …………………………………………………………………….. 33

2.1.2. Phân loại khái quát phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……… 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii

2.2. Các kiểu so sánh trong danh ngôn Việt Nam được phân loại theo cấu trúc … 42

2.2.1. Nhận xét chung …………………………………………………………………….. 42

2.2.2. Miêu tả các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam …….. 43

2.3. Các tiểu loại phép so sánh được phân theo nội dung ngữ nghĩa …………… 80

2.3.1. Phép so sánh có đối tượng được so sánh nói về người, đối tượng

so sánh không nói về người …………………………………………………………….. 80

2.3.2. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh đều

nói về con người…………………………………………………………………………….. 82

2.3.3. Phép so sánh có đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh

đều không nói về con người …………………………………………………………….. 83

2.3.4. Phép so sánh có đối tượng được so sánh không nói về người, đối

tượng so sánh nói về người ……………………………………………………………… 84

2.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………. 85

Chƣơng 3. PHÉP SO SÁNH TRONG DANH NGÔN VIỆT NAM VỚI

VIỆC LƢU GIỮ TRI THỨC VĂN HÓA ……………………………………………. 87

3.1. Nhận xét chung về vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt

Nam với việc lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc ………………………………………… 87

3.2. Một số tri thức văn hóa dân tộc được lưu giữ qua phép so sánh trong

danh ngôn việt nam……………………………………………………………………………….. 88

3.2.1. Tri thức văn hóa về thực vật …………………………………………………… 88

3.2.2. Tri thức văn hóa về động vật ………………………………………………….. 94

3.2.3. Tri thức về văn hóa ẩm thực ………………………………………………… 101

3.2.4. Tri thức văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng ………………………………… 103

3.2.5. Tri thức văn hóa về quan niệm tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc

gia đình……………………………………………………………………………………….. 105

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………… 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Bảng tổng kết so sánh luận lí và so sánh tu từ trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 35

Bảng 2.2: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh đồng nhất trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 38

Bảng 2.3: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh dị biệt trong danh ngôn Việt Nam …. 41

Bảng 2.4: Bảng tổng kết các kiểu cấu trúc so sánh trong danh ngôn Việt Nam ……. 43

Bảng 2.5: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong phép so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

Bảng 2.6: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố A trong cấu trúc so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 64

Bảng 2.7: Bảng tổng kết các tiểu loại thành tố t trong phép so sánh sử

dụng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 69

Bảng 2.8: Bảng tổng kết từ ngữ chỉ phương diện so sánh trong danh ngôn

Việt Nam …………………………………………………………………………….. 69

Bảng 2.9: Bảng tổng kết các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong danh

ngôn Việt Nam…………………………………………………………………….. 70

Bảng 2.10: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

Bảng 2.11: Bảng tổng kết các tiểu loại của thành tố B trong phép so sánh

dùng trong danh ngôn Việt Nam ……………………………………………. 79

Bảng 2.12: Bảng tổng kết các tiểu loại so sánh trong danh ngôn Việt Nam

được phân loại theo nội dung A và B. …………………………………….. 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. So sánh là một thao tác được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc

sống hàng ngày nói chung, trong văn chương nghệ thuật nói riêng. Để nhận thức

thế giới khách quan, để nắm được bản chất quy luật của các sự vật hiện tượng

muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, con người thường sử dụng thao tác này.

Trong sáng tạo nghệ thuật, so sánh là thủ pháp hết sức quen thuộc,

được sử dụng thường xuyên. Đây là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, đặc

sắc. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra những hình ảnh cụ thể, những

cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho người đọc, người nghe. So sánh

được coi là một trong những phương thức tạo hình gợi cảm hiệu quả nhất, có

tác dụng lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng

tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người. Mặt khác nó

còn làm cho tâm hồn và trí tuệ của con người thêm phong phú, giúp con

người cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn. Nghiên cứu về

phương thức so sánh sẽ giúp chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và

giá trị của biện pháp này đối với việc cấu thành và biểu đạt ngôn ngữ nói

chung, văn học nghệ thuật nói riêng.

1.2. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại được lưu giữ dưới

nhiều hình thức. Một trong số những hình thức ấy là các lời danh ngôn. Theo

Từ điển tiếng Việt, (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học, tái bản năm

2010 ; Hoàng Phê chủ biên) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được người

đời truyền tụng” , có tác giả hoặc

khuyết danh. Tuy nhiên, hiếm có ai đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu cách thức sử

dụng từ ngữ, giá trị của các biện pháp tu từ mà cụ thể là phép so sánh trong

danh ngôn. Đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với nhiều bạn đọc. Việc lựa

chọn nghiên cứu “phép so sánh trong danh ngôn của Việt Nam” là một việc

làm cần thiết, phù hợp với nhu cầu hiểu biết, cần khám phá sâu hơn về danh

ngôn của độc giả.

Vì những lí do trên nên trong luận văn này, chúng tôi đã mạnh dạn tìm

hiểu về: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

2. Lịch sử vấn đề

2.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung và nghiên cứu danh

ngôn Việt Nam nói riêng

2.1.1. Tình hình nghiên cứu danh ngôn nói chung

Với những bài học sâu sắc và ý nghĩa thiết thực, đã từ lâu danh ngôn

trở thành món ăn mang đến cho nhân loại những hương vị độc đáo, mới mẻ.

Mỗi lời danh ngôn vừa như một trải nghiệm, lại vừa như một phát hiện lý thú,

sáng tạo của con người về công việc, kinh nghiệm sống, quan niệm tình yêu,

hôn nhân, hạnh phúc, gia đình… Hiện nay, có không ít những công trình biên

soạn, sưu tầm các câu danh ngôn: Danh ngôn thế giới đông tây kim cổ (Biên

soạn, biên dịch, sưu tầm, khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang

Năng, Nxb Văn hóa thông tin, 2004); Danh ngôn thế giới (Biên soạn: Ngọc

Khuê, Nxb Trẻ, 2001); 3500 câu danh ngôn nổi tiếng thế giới (Trần Mạnh

Thường tuyển chọn, Nxb Văn hóa thông tin, 1996); Danh ngôn cổ điển; Danh

ngôn hiện đại (Tri thức Việt biên soạn, Nxb Lao động, 2010); Sổ tay danh

ngôn (Nguyễn Huy Giới sưu tầm, biên soạn, Nxb Lao động Xã hội, 2006);

Danh ngôn Trung Hoa (Nguyễn Hữu Trọng biên dịch, Nxb Đồng Nai, 1996);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

Danh ngôn tình yêu (Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh, 2000); Tây phương xử thế (Kiều Văn biên soạn Tái bản lần thứ 1, có sửa chữa, bổ sung, Nxb. Đồng Nai, 2003); Danh ngôn

thế giới tình bạn – tình yêu (Trường Tân, Trường Khang sưu tầm, tuyển chọn,

Nxb Văn hoá Thông tin, 2004)…

Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn và khảo

cứu một số lượng khổng lồ lời danh ngôn của nhân loại, được đúc rút từ nhiều

nguồn tư liệu khác nhau trên thế giới. Hệ thống những lời danh ngôn ấy dung

nạp từ những câu nói nổi tiếng của các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử loài

người cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, châm

thành nguồn tư liệu quý báu và vô giá cho hậu thế.

2.1.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có

nền văn hóa, văn học mang đậm dấu ấn dân tộc. Có thể nói những lời danh

ngôn Việt Nam chính là cái hồn, là thần thái của con người nơi đây, bởi

chúng được hoài thai, sinh ra và nuôi dưỡng trong lòng dải đất hình chữ S.

Danh ngôn Việt Nam không chỉ là những câu nói hay của các danh nhân

người Việt, mà còn là các câu tục ngữ, ca dao sâu sắc do cha ông từ xưa

truyền đời để lại. Biên soạn sưu tầm các lời danh ngôn này có các công trình

tiêu biểu: Từ điển danh ngôn: Thế giới và Việt Nam (Nguyễn Nhật Hoài, Vũ

Tiến Quỳnh, Nxb Phương Đông, 2006); Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và

biên soạn: Trí Thắng, Kim Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000); Danh ngôn

Đông – Tây: Pháp – Việt (Biên soạn: Vương Trung Hiếu, Trần Đức Tuấn, Nxb

Đà Nẵng, 1994); Tục ngữ Anh – Pháp – Việt (Lê Ngọc Tú, Nxb Khoa học xã

hội, 1996); Danh ngôn tình yêu hôn nhân gia đình: Việt – Anh – Pháp (Vương

Trung Hiếu, Nxb Đồng Nai, 1998); Lời non nước: Danh ngôn Chủ tịch Hồ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

Chí Minh (Đào Thản sưu tầm và chú dẫn, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2005);

Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb Thuận Hóa,

2005); 365câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên soạn,

Nxb Thanh niên, 2010); Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh

niên, 2008)…

Nhìn chung, các công trình trên đã sưu tầm và biên soạn một số lượng

tương đối các lời danh ngôn Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống:

kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, gia đình, ứng xử, quan niệm về hôn

nhân, công việc, xử thế… Dưới ảnh hưởng của nền văn hóa dân tộc, các lời

danh ngôn đều mang đậm chất Việt Nam, những hình ảnh, từ ngữ, cách thức

diễn đạt… đều lưu giữ dấu ấn văn hóa Việt Nam.

2.2. Tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam về phương diện ngôn ngữ

2.2.1. Nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ nói chung

Trên thực tế, có rất nhiều tác giả biên soạn, sưu tầm các lời danh ngôn.

Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì có rất

ít công trình. Tiêu biểu hơn cả trong số đó là bài viết Vận dụng tục ngữ, thành

ngữ và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân, tạp chí ngôn ngữ, số 10,

Tr.1-7, 2004).

Trong bài viết này, tác giả có đề cập tới danh ngôn trong việc vận dụng

danh ngôn trên báo chí. Song, để nghiên cứu sâu về danh ngôn trên phương

diện ngôn ngữ, hình thức biểu đạt, các biện pháp tu từ… thì chưa có tác giả

nào quan tâm đến.

2.2.2. Nghiên cứu về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

Trong nghiên cứu văn học, một trong các phương thức biểu hiện của

ngôn từ nghệ thuật ở tác phẩm văn chương là phương thức so sánh. Nhìn từ

góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức biểu đạt hình tượng của

mọi ngôn ngữ. Vì thế đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn

ngữ học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nền văn học thế giới, từ

những buổi đầu, phương thức so sánh đã được nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp

Arisstole quan tâm. Trong cuốn Thi học, ông đã đề cập tới so sánh. Arisstole

xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rộng rãi trong văn

chương, bởi nó mang đến giá trị biểu cảm và tính thẩm mĩ cao.

Với nền văn học Trung Hoa cổ đại, phép so sánh được thể hiện qua

những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thi ca dân gian Trung Quốc. Tỉ

gió trong văn học.

Vấn đề này ở nước ta cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học

đề cập đến. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX khi xuất hiện những

công trình nghiên cứu tiếng Việt thì trong đó phương thức so sánh cũng được

miêu tả trong giáo trình bài giảng Phong cách học. Nghiên cứu về phép so

sánh có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình

Việt ngữ (Nxb Giáo dục, H. 1964), Phong cách học tiếng Việt (Nxb Giáo dục,

H. 1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H.

2005); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt

(Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1973); Nguyễn Thế Lịch với

Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngôn ngữ, số 3, 1991); Hữu Đạt với Phong cách

học Tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001); Hoàng Kim Ngọc với cuốn

So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình (Nxb KHXH, 2009)…

Ở những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đi đến sự hình thành

khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của phương thức so sánh. Đây là cơ sở

lý thuyết vô cùng quý báu giúp chúng ta tham khảo trước khi đi sâu nghiên

cứu, khám phá về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam.

2.3. Tổng kết về tình hình nghiên cứu danh ngôn Việt Nam

Kết quả khảo sát tư liệu cho thấy, đã có nhiều công trình sưu tầm và

biên soạn danh ngôn Việt Nam, danh ngôn thế giới. Nhưng để đi sâu và tìm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

6

hiểu đầy đủ, toàn vẹn về danh ngôn trên phương diện ngôn ngữ thì hiếm có

hoặc có rất ít công trình. Đặc biệt, tìm hiểu về phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam thì chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào. Bởi vậy, trong

khuôn khổ luận văn này, bước đầu chúng tôi đi tìm hiểu về phép so sánh trong

danh ngôn Việt Nam, từ đó thấy được giá trị của chúng trong sáng tạo nghệ

thuật truyền thống.

3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát của luận văn là các lời

danh ngôn Việt Nam trong một số công trình sau:

+ Danh ngôn Hồ Chí Minh (Sưu tầm và biên soạn: Trí Thắng, Kim

Dung, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000);

+ Danh ngôn thế giới và Việt Nam (Huỳnh Hữu Lộc biên soạn, Nxb

Thuận Hóa, 2005);

+ 365 câu danh ngôn cho cuộc sống hàng ngày (Việt Phương biên

soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

+ Danh ngôn làm giàu, Đức Uy biên soạn, Nxb Thanh niên, 2008);

+ Danh ngôn thế giới Đông Tây kim cổ (Biên soạn, biên dịch, sưu tầm,

khảo cứu: Trần Tất Lạnh, Hoàng Điệp, Hà Quang Năng, Nxb Văn hóa thông

tin, 2004 )

+ 7500 câu danh ngôn (Nhiều tác giả biên soạn, Nxb Thanh niên, 2010);

+ 3600 câu danh ngôn (Mai Ngọc Lan biên soạn, Nxb Văn hóa Thông

tin, 2010);

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

+ Danh ngôn hôn nhân và gia đình (Việt Hương sưu tầm, Nxb Thanh

Niên, 2005)

+ Danh ngôn thế giới (Việt Hùng sưu tầm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005).

– Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phép so sánh trong các

câu danh ngôn của người Việt về hai phương diện sau:

(1) Nghiên cứu đặc điểm của phép so sánh được sử dụng trong các câu

danh ngôn của người Việt: (Cấu trúc, ngữ nghĩa; Phương thức so sánh; Hình

thức so sánh…);

(2) Nghiên cứu phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt

với vai trò lưu giữ tri thức văn hoá dân tộc.

4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu:

4.1.1. Về mặt lí luận: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn của

Việt Nam, người viết nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của phép so

sánh và phân loại phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam, đồng thời qua đó

thấy được vai trò lưu giữ tri thức văn hóa dân tộc của phép so sánh trong danh

ngôn người Việt.

4.1.2. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu phép so sánh trong danh ngôn Việt

Nam, người viết hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham

khảo cho những ai muốn nghiên cứu danh ngôn về phương diện ngôn ngữ nói

chung và phép so sánh nói riêng.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:

căn cứ lí luận cho đề tài;

2. Thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí đã

định trước;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

3. Miêu tả, phân tích đối tượng nghiên cứu đã phân loại;

4. Tổng kết các kết quả đã nghiên cứu được và rút ra kết luận.

5. Các phƣơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên

cứu chủ yếu sau đây:

5.1. Phương pháp thống kê, phân loại

Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại

đối tượng nghiên cứu, cụ thể ở đây là thông kê và phân loại những trường hợp

sử dụng phép so sánh trong các câu danh ngôn của người Việt trong nguồn tư

liệu đã chọn.

5.2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp

Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích đối tượng

nghiên cứu và tổng kết các kết quả nghiên cứu.

5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu này dùng để so sánh các câu danh ngôn về

một số phương diện cụ thể khi cần.

6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

– Về mặt lí luận:

Đây là lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu

sắc về phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam về phương diện cấu trúc và

ngữ nghĩa. Nếu đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm về

vai trò của phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam nói riêng, trong văn học

nói chung.

– Về mặt thực tiễn

Như đã nói ở phần mục đích của đề tài, luận văn sẽ là tài liệu tham

khảo cho những ai muốn học tập và nghiên cứu về phép so sánh sử dụng

trong danh ngôn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương:

Chƣơng 1: Cơ sở lí luận

Chƣơng 2: Kết quả khảo sát và phân loại phép so sánh trong danh ngôn

Việt Nam

Chƣơng 3: Phép so sánh trong danh ngôn Việt Nam với việc lưu giữ tri

thức văn hóa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Khái quát về danh ngôn

1.1.1. Định nghĩa danh ngôn

1.1.1.1. Định nghĩa danh ngôn trong từ điển

Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Từ điển bách khoa, Viện Ngôn ngữ học,

Hoàng Phê chủ biên ; H. 2010 ) thì “Danh ngôn là những lời nói hay được

người đời truyền tụng” .

Cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Đại học quốc gia TPHCM; Nguyễn

Như Ý chủ biên, năm 2009) đưa ra định nghĩa về danh ngôn như sau:

“Danh ngôn là câu nói ngắn gọn, sâu sắc của một nhà tư tưởng, nhà

hoạt động chính trị xã hội hay nhà khoa học, văn nghệ sĩ nổi tiếng về con

người và cuộc sống” ;

Theo Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh (Nxb Văn hóa Thông tin;

Song Dương, Đặng Thông chủ biên; H. 2010) thì so sánh là “xem xét để tìm

ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước,

phẩm chất” .

Ở cuốn giáo trình này, ngoài nghiên cứu những biện pháp tu từ khác,

tác giả còn bàn về hình thức biểu hiện của biện pháp tu từ so sánh. Có thể nói,

đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học ở

Việt Nam nghiên cứu về các biện pháp tu từ nói chung và biện pháp tu từ so

sánh nói riêng.

b) Định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa:

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, hai tác giả này cũng đưa ra định

nghĩa về so sánh:

” So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu

với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi

ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc,

người nghe” [17,190].

Như vậy, trong định nghĩa trên, hai tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về

so sánh tu từ mà còn đề cập đến hiệu quả nghệ thuật khi sử dụng phép so sánh.

c) Định nghĩa của tác giả Nguyễn Thế Lịch:

Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật tiếng

Việt” (đăng trên Số phụ, Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1988), tác giả đã đưa ra định

nghĩa về so sánh như sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Ngắn Gọn Và Xúc Tích Nhất

Những Câu Nói Vui Về Cuộc Sống Tình Yêu Hài Hước Bá Đạo

Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Bạn Trai Cũ.

Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Em Gái Hay, Ý Nghĩa Nhất

21 Câu Nói Kinh Điển Chỉ Có Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (Phần 3)

Những Danh Ngôn Hay Về Học Tập

Xếp Hạng Những Câu Nói Hay Về Tình Bạn Lâu Dài

170 Caption Hay, Status Chất Đăng Facebook, Zalo, Instagram

Những Câu Chúc Mừng Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Những Stt Kỷ Niệm Ngày Yêu Nhau Ngọt Ngào, Lãng Mạn

Stt Hay Và Hài Hước Về Tình Yêu Được Chia Sẻ Nhiều Nhất Trên Facebook

Sinh thời, nhà lãnh đạo kiệt xuất của giai cấp vô sản V.I.Lenin từng có câu nói rất nổi tiếng: “học, học nữa, học mãi”. Việc học đối với mỗi chúng ta mà nói, đó là công việc cả đời bởi có học bao nhiêu đi nữa dường như vẫn là chưa đủ.

Khi con người mới ra đời, chúng ta bắt đầu học nói, học đi. Lớn lên một chút lại đến trường để được học chữ, học văn hóa. Và trong suốt quá trình phát triển, chúng ta không ngừng học cách để làm người. Có ai đó từng nói “những gì chúng ta biết chỉ là một giọt nước còn những gì ta chưa biết là cả một đại dương”.

Con người ta biết một rồi sẽ muốn biết mười và vì kiến thức luôn không ngừng mở rộng nên nếu chúng ta không học, không thu nạp kiến thức thì chúng ta sẽ bị tụt hậu. Những danh ngôn hay về học tập sẽ cho bạn thấy sự học quan trọng đến nhường nào.

Những danh ngôn hay về học tập

1. Học vấn do người siêng năng đạt được, tài sản do người tinh tế sở hữu, quyền lợi do người dũng cảm nắm giữ, thiên đường do người lương thiện xây dựng.

2. Trường học có thể hô biến những người thắng và người bại nhưng cuộc sống thì không.

3. Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp mà chính phải là đặt ra những câu hỏi thích hợp.

– Ethel Churchill, L.E.Landon –

8. Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới.

– Vijaya Lakshmi Pandit –

17. Cần phải lựa chọn một cách nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì.

Qua những danh ngôn hay về học tập, có thể nói, việc học trước hết là cho bản thân mỗi người, sau đó là học cho Tổ quốc. Có kiến thức, chúng ta sẽ không sợ bị tụt hậu. Chỉ có kiến thức mới giúp chúng ta có được sự tự tin khi đứng trước người khác, khi gặp một công việc khó hay khi tham gia một thử thách nào đó.

Có những kiến thức tưởng như vô nghĩa nhưng một ngày bạn sẽ thấy, kiến thức mà bạn đã thu nạp được hôm qua chính là nền tảng, là bước đệm để bạn dễ dàng tiếp cận được với những kiến thức mới. Hãy không ngừng học hỏi để tiếp cận với những kiến thức mới và biến mình trở thành người có ích cho xã hội, cho đất nước.

Danh Ngôn Hay Nhất Về Học Tập

Những Lời Chúc Hay Ý Nghĩa Nhất Dành Cho Ngày Của Mẹ 2022

Stt Quan Tâm 101 Câu Nói Hay Về Vị Ngọt Ngào Của Sự Yêu Thương

Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Bình Yên Hay Nhất

[++] Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Bình Yên Để Luôn Vui Vẻ

Châm Ngôn Gđpt Việt Nam : Bi

Những Câu Nói Hay Của Bts ❤️ ❤️

Danh Ngôn Về Chờ Đợi

65+ Câu Nói Về Duyên Số, Duyên Nợ, Sự Tình Cờ Trong Cuộc Sống

Danh Ngôn Về Danh Dự Và Dối Trá

Những Câu Nói Tỏ Tình Dễ Thương

do BHD Trung Ương GĐPT Việt Nam tu chỉnh năm 2004 – PL 2548 )

I. Chuẩn bị :

Một vài mẫu văn bản hành chánh của GĐPT như : thư mời dự chu niên, đơn xin gia nhập, chứng chỉ trúng cách,…

II. Giờ học :

Cuộc đời con người có thể ví dụ như con thuyền ở giữa biển mênh mông, không biết nơi nào là bến, cần có la bàn định hướng. Với GĐPT, la bàn đó chính là châm ngôn Bi – Trí – Dũng. Em đã từng thấy các từ này ghi liền nhau trong văn bản nào ? ( Giới thiệu các mẩu văn bản hành chánh có ghi châm ngôn ).

– Châm ngôn của GĐPT là gì ?

– Thế nào là Bi ? Trí ? Dũng ?

– Vì sao Bi, Trí , Dũng phải có mặt đầy đủ ở mỗi đoàn sinh GĐPT ?

– Em thực hành châm ngôn Bi – Trí – Dũng ra sao ?

Châm ngôn của GĐPT là Bi – Trí – Dũng

– Bi : trong nghĩa từ bi ( cho vui cứu khổ ).

Học theo hạnh của Phật và chư vị Bồ tát, người Phật tử không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác kể cả loài vật. Cho dù với hành động nhỏ nhặt mà diệt trừ được khổ đau, đem an vui đến cho người và vật ta quyết không từ chối.

– Trí : Trong nghĩa trí tuệ ( hiểu biết sáng suốt không bị vô minh che lấp ). Người Phật tử không cam chịu dốt, sống trong u mê mà phải luôn tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp, chân lý. Ngoài ra còn phải giúp mọi người được học hỏi và hiểu biết như mình.

– Dũng : Trong nghĩa tinh tấn, dũng mãnh ( không yếu đối, ương hèn, biếng nhát ). Là đoàn sinh GĐPT, em phải luôn cố gắng, kiên trì, vượt mọi thử thách, chướng ngại để tiến đến giác ngộ, phải dám nghĩ, dám làm.

– Bi – Trí – Dũng phải phối hợp, hỗ trợ, nương vào nhau. Bi thiếu Trí, Dũng cũng thành nhu nhược, sai lầm. Trí, Dũng không Bi sẽ luôn nguy hiểm và gây khổ cho nhau. Có Bi, Trí mà không Dũng thì Bi, Trí ấy vô dụng. Dũng không Bi, Trí sẽ hành động sai lầm, độc ác,…

– Em thương yêu tất cả mọi người, mọi loài, luôn quan tâm, giúp đỡ người khác vượt khó, vượt khổ, tìm được sự an lạc.

– Em cố gắng trao dồi kiến thức, học hỏi giáo pháp để thấy rõ chân lý.

– Em cố gắng tu tập, không ngại khó, ngại khổ trên đường thực hiện lý tưởng giác ngộ.

Bộ Sưu Tập Những Câu Nói Hay Về Bóng Đá Độc Nhất Vô Nhị

Danh Ngôn Tiếng Anh Ý Nghĩa Về Biển Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo

Tuyển Chọn Những Bài Thơ 6 Chữ Hay Nhất,dạt Dào Cảm Xúc

Thải Tập Vạn Giới Chương 430: 6 Chữ Châm Ngôn

15 Câu Châm Ngôn Xử Thế Kinh Điển Nhất Định Phải Biết