Lời Phật Dạy Về Nhân Duyên Vợ Chồng / 2023 / Top 18 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Dtdecopark.edu.vn

Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Vợ Chồng / 2023

Duyên nợ vợ chồng dường như đã bị lãng quên trong xã hội xô bồ nhộn nhịp. Ở cuộc sống hiện tại họ vội vàng kết hôn, rồi tới khi hôn nhân không được như ý muốn họ lại vội vàng chia tay bởi những lý do được đưa ra là : chúng tôi không hợp nhau, người kia đã thay đổi hay tôi đã yêu người khác

Hãy cùng Phong thủy toàn tập trải nghiệm bài học ý nghĩa mà Phật dạy về duyên nợ vợ chồng qua câu chuyện dưới đây, để tự tìm cho mình một giá trị riêng, một ý niệm riêng về cuộc sống và giá trị của hôn nhân.

Đêm trong ngôi chùa vắng

Đêm khuya, trong một ngôi Chùa, có một người quỳ dưới chân Đức Phật nhờ Ngài dạy về chuyện tình yêu.

Người: Thưa Đức Phật thánh minh, con là một người đã có vợ, con hiện đang yêu say đắm một người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào?

Đức Phật: Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con không?

Người: Thưa vâng.

Đức Phật: Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy ?

Người: Nhưng vợ con hiện nay dịu dàng, lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phần tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, thưa Đức Phật?

Đức Phật: Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức. Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa. Con làm như thế là đúng.

Người: Nhưng vợ con vẫn rất yêu con, quả thật yêu con lắm, thưa Đức Phật.

Đức Phật: Vậy thì vợ con hạnh phúc.

Người: Sau khi con chia tay vợ để lấy người khác, vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa Đức Phật?

Đức Phật: Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi một tình yêu đối với vợ con. Bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.

Người: Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới người khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mãi là người đau khổ.

Đức Phật: Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thật sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới là người hạnh phúc, con mới là người đau khổ.

Người: Vợ con đã từng nói kiếp này chỉ yêu mình con thôi. Cô ấy sẽ không yêu ai khác.

Đức Phật: Con cũng đã từng nói thế phải không?

Người: Con…con…con…

Đức Phật: Bây giờ con nhìn ba ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?

Người: Quả thật con không biết, hình như đều sáng giống nhau.

Đức Phật: Ba ngọn nến ví như ba người đàn bà. Một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Đông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu…Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?

Người: Con…con…con…

Đức Phật: Bây giờ con cầm một cây nến đặt trước mắt để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất?

Người: Đương nhiên ngọn trước mặt sáng nhất.

Đức Phật: Bây giờ con đặt nó vô chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.

Người: Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nào sáng nhất.

Đức Phật: Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất. Khi con để nó vô chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Theo kinh phật thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là hoa trong gương trăng dưới nước, suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.

Người: Con hiểu rồi, không phải Đức phật bảo con phải ly hôn vội vã, Đức Phật đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.

Đức Phật: Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi!

Người: Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay, thưa Đức Phật. Đức Phật: A Di Đà Phật…

Lý Giải Nhân Duyên Vợ Chồng Trong Đạo Phật / 2023

Đức Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ. Cùng khám phá nghiệp quả, nhân duyên vợ chồng, cha mẹ và con cái

Có thể người vợ ở kiếp này là người bạn chôn kiếp trước, tới trả nợ cho bạn. Đứa con trai ở kiếp này, là chủ nợ của bạn ở kiếp trước, để đòi món nợ chưa trả. Đứa con gái ở kiếp này, là người tình ở kiếp trước, tới vì tình cảm chưa dứt. Người tình kiếp này, là vợ chồng của kiếp trước tới nối tiếp phần duyên phận chưa dứt. Hồng nhan tri kỷ của kiếp này là anh em của kiếp trước tới chia sẻ những tâm sự chưa nói hết. Người giàu có kiếp này là người giàu lòng thiện kiếp trước, tới nhận phần công đức đã phát ra từ kiếp trước….. Đây không phải là mê tín mà là nhân quả luân hồi, là số kiếp. Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ

Bất cứ việc gì, bất cứ người nào, trong gia đình (ngay cả ngoài gia đình, bề trên, cấp dưới…) phàm làm khiến cho ta tổn hại, đều phải gánh chịu thọ báo. Gia quyến lục thân, đều do tứ nhân tương tụ (tứ nhân là trả nợ, đòi nợ, trả ơn và báo oán) bất luận chúng ta thọ báo bao nhiêu oan ức, không những không được sân hận, ngược lại phải sám hối cho nghiệp chướng của chính ta, tội nghiệp của quá khứ hay đời trước nay phải trả, nếu đem lòng sân hận, làm sao không tạo thêm nghiệp mới, “Chúng sanh oan oan tương báo đến bao giờ mới hết, nếu biết lấy ân báo oán thì oán liền tiêu trừ”.

Tất cả mọi nơi đều có oan gia trái chủ đến gây nạn (làm khó dễ) chúng ta phải phản tỉnh lại, tại sao họ không tìm người khác để gây phiền phức, đều do trong quá khứ hay đời quá khứ, chúng ta có làm điều gì sai lỗi với họ, ta phải tu nhẫn nhục, làm nghịch tăng thượng duyên, lúc đó mọi oán thù trong quá khứ nhờ đó mà được tiêu trừ.

Có rất nhiều người kết hôn nhưng suốt đời chẳng có con, vì sao?

Chẳng có duyên! Con cái phải có duyên với quý vị thì chúng mới đầu thai vào nhà quý vị. Chúng nó chẳng có duyên với quý vị, sẽ chẳng đầu thai vào nhà quý vị. Nói cách khác, chúng nó đi đầu thai, phải tìm đối tượng. Quý vị mong cầu chúng nó, chưa chắc chúng nó đã để ý tới quý vị! Tìm đối tượng nào? Có mối quan hệ trong đời quá khứ. Trong kinh, đức Phật đã nói bốn loại nhân duyên.

1) Loại thứ nhất là báo ân.

Trong quá khứ (hay đời quá khứ), đôi bên có ân huệ với nhau, lần này chúng nó lại thấy quý vị, bèn đầu thai vào nhà quý vị, sẽ trở thành con hiếu, cháu hiền, đến để báo ân tình xưa.

2) Loại thứ hai là báo oán.

Trong quá khứ (hay đời quá khứ), quý vị kết cừu hận với họ. Gặp gỡ lần này, họ đến làm con cái quý vị, mai sau lớn lên sẽ thành đứa con khiến cho gia đình suy bại, khiến cho quý vị nhà tan, người chết, nó đến để báo th quý vị..! Vì thế, chớ nên kết oán cừu c ng kẻ khác. Kẻ oán cừu bên ngoài có thể đề phòng, chứ họ đến đầu thai trong nhà quý vị, làm cách nào đây? Quý vị hại người đó hay hại chết kẻ đó, thần thức kẻ ấy sẽ đến làm con cháu trong nhà quý vị. Đó gọi là “con cháu ngỗ nghịch” khiến cho nhà tan, người chết..!

3) Loại thứ ba là đòi nợ.

Đời quá khứ (hay đời quá khứ), cha mẹ thiếu nợ chúng nó, chúng nó đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai, ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, nó bèn ra đi.

4) Loại thứ tư là trả nợ.

Con cái thiếu nợ cha mẹ quá khứ (hay đời quá khứ) hiện tai hay đời này gặp gỡ, nó phải trả nợ. Nó phải nỗ lực làm lụng để nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu nợ cha mẹ rất nhiều, nó cung phụng cha mẹ vật chất rất trọng hậu. Nếu thiếu nợ rất ít, nó lo cho cuộc sống của cha mẹ rất tệ bạc, miễn sao quý vị chẳng chết đói là được rồi. Hạng người này tuy có thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng thiếu lòng cung kính, chẳng có tâm hiếu thuận. Báo ân bèn có tâm hiếu thuận, chứ trả nợ chẳng có tâm hiếu thuận. Thậm chí trong lòng chúng nó còn ghét bỏ, chán ngán cha mẹ, nhưng vẫn cho quý vị tiền để sống, nhiều hay ít là do xưa kia quý vị thiếu chúng nó nhiều hay ít.

* Nhưng cũng có thể họ có nhiều duyên nợ với chúng sanh nhưng lại đi gieo nhân không con (như phá thai, sát sanh, giết người…) ở quá khứ hay tiền kiếp nên hiện tại lại phải trả nghiệp nên không có con. hoặc họ muốn có con thì phải sám hối, và làm thật nhiều việc tốt, hướng thiện và phóng sanh… Nói chung thì đường đi của Luật nhân quả rất phức tạp khó ai thấu hiểu hết.

Đức Phật dạy rõ chân tướng sự thật, người một nhà là do bốn loại quan hệ ấy mà tụ hợp. Gia đình là như thế, mà người trong một họ cũng là như thế. Ân, oán, nợ nần nhiều, bèn biến thành cha con, anh em một nhà hay ân oán, nợ nần ít hơn cũng có thể biến thành thân thích, bầu bạn. Do đó, giữa người và người với nhau đều có duyên phận. Quý vị đi đường, một kẻ xa lạ gật đầu mỉm cười với quý vị cũng là do duyên phận xưa kia. Thấy một kẻ xa lạ, vừa thấy kẻ ấy liền cảm thấy gai mắt cũng là do duyên phận trong quá khứ.

Phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta khởi tâm động niệm chớ nên không cẩn thận, ngàn muôn phần đừng kết oán cừu với hết thảy chúng sanh, đừng nên có quan hệ nợ nần với hết thảy chúng sanh. Thiếu nợ phải trả cho sạch nợ, để tương lai hay đời sau khỏi phải đền trả nữa. Chuyện này rất phiền toái! Giáo huấn của thánh hiền Nho và Phật đều dạy chúng ta phải hóa giải ân oán. [Hóa giải] sẽ là phương pháp tốt lành nhất và viên mãn nhất. Chỉ có Nho và Phật mới có thể làm được, những thứ giáo dục khác trong thế gian chẳng thể thực hiện được!

– Trong nhiều thế kỷ, gia đình là một tổ chức riêng biệt mà người gia trưởng là người cha, hay người mẹ, theo phong tục ở một vài xứ. Những tổ chức gia đình ấy vẫn luôn luôn tồn tại ở khắp nơi. Theo một quan niệm duy vật, người ta coi những trẻ con như là một sở hữu của cha mẹ của chúng: Chúng sinh ra do bởi sự mang nặng đẻ đau và hy sinh của người mẹ; chúng được nuôi dưỡng do bởi sự làm lụng khó khăn vất vả của cha mẹ. Nói về phương diện vật chất, những người làm cha mẹ có một thể chất khỏe mạnh hơn, già dặn hơn thông minh hơn những đứa con; vì lẽ đó họ có quyền ngự trị trong gia đình.

Nhưng nói về phương diện tâm linh, thì không hề có vấn đề cha mẹ là tuyệt đối cao cả hơn con cái vì tất cả sinh linh trong Trời Đất đều là những đơn vị bình đẳng của toàn thể một cơ cấu rộng lớn. Trên bình diện tâm linh, cha mẹ không có sở hữu con cái, thậm chí cũng không phải là những người sáng tạo ra con cái. Họ chỉ là những phương tiện cho những linh hồn của những đứa con mượn chỗ đầu thai ở cõi thế gian. Một sự vận hành mầu nhiệm trong cơ thể họ khiến cho họ giao hợp với nhau trong một lúc và làm vận chuyển một cơ cấu cũng không kém mầu nhiệm, mà kết quả là sự cấu tạo và sinh sản ra một thể xác hài nhị Cái thể xác đó trở nên chỗ nương ngụ của một linh hồn khác cũng tiến hóa như chúng ta. Linh hồn ấy nhất thời bị yếu kém vì cơ thể còn non nớt và chưa thể biết nói ngay được, trách niệm và bổn phận của chúng ta trong sự nuôi dưỡng cho nó lớn lên, đều là những kinh nghiệm rất quý báu cho ta. Đó là những kinh nghiệm để giúp ta tiến hóa trên con đường tâm linh và khai mở đức hy sinh và bác ái, với một tấm lòng thương cảm và trìu mến sâu xa thâm trầm.

Những sự việc tốt lành kể trên chỉ xảy ra khi người làm cha mẹ không có lòng chiếm hữu và áp chế con cái dưới một hình thức nào đó. Trong quyển “The Prophet”, ông Khalil Gibran viết như sau:

“Con cái của anh sinh ra, không phải là của anh. Chúng nó chỉ là con cái của “Sự sống bất diệt trường tồn”

Chúng nó do bởi anh sinh ra, chớ không phải là của anh. Và tuy chúng sống chung với anh trong một nhà, nhưng chúng không thuộc quyền sở hữu của anh. Anh chỉ là những cái cung nhờ đó những đứa con anh lấy đà vùng vẫy, chẳng khác nào như mũi tên bắn ra tận bốn phương trời. Người Cung Thủ kéo sợi dây cung là nhằm mục đích hòa vui, và trong khi Người yêu cái mũi tên bay, Người cũng yêu cái cung còn ở lại.”

Quan niệm sai lầm ấy có những hậu quả tâm lý rất tai hại, gây nên những sự dồn ép sinh l.ý, ý niệm tội lỗi và những xung đột tâm lý thuộc về loại trầm trọng và tê liệt nhứt. Tuy nhiên, giải pháp đối tượng của vấn đề này không phải là tự do luyến ái, hay tự do thỏa mãn d.ụ.c tính. Giải pháp thích nghi là sự thông hiểu một cách tường tận rằng cơ năng sinh sản sáng tạo của con người là một quyền năng thiêng liêng. Một cuộc soi kiếp nói: “Ái tình và sự giao hợp với một thể xác tinh khiết là cái kinh nghiệm thiêng liêng cao quý nhất một linh hồn có thể thâu thập trong một kiếp sống ở cõi trần” Quan điểm này được nhấn mạnh trong nhiều cuộc soi kiếp, và người ta nhận thấy nó trong những trường hợp mà một người phụ nữ muốn biết xem nàng có thể nào có con được không? Trong những trường hợp đó đương sự thường yêu cầu một cuộc khám bệnh rằng Thần Nhãn để xem nàng có thể tự chuẩn bị bằng cách nào để thụ thai và sinh sản.

Trong những cuộc khán bệnh đó, những phép điều trị về cơ thể nêu ra rất nhiều, nhưng không có gì khác thường. Có khác chăng là sự soi xét bằng Thần Nhãn giúp cho ông Cayce biết rõ nhu cầu của mỗi cơ thể riêng biệt của mỗi người t y theo trường hợp. Tuy nhiên, những cuộc soi kiếp cũng nhấn mạnh về tánh cách quan trọng của sự chuẩn bị tư tưởng và tâm linh, vì thái độ tinh thần của người mẹ sẽ hấp dẫn những linh hồn cùng có một tâm trạng tương tự, theo luật “Đồng thinh tương ứng; đồng khí tương cầu.”

Cuộc soi kiếp nói: Linh hồn này hãy nên biết rằng sự chuẩn bị tư tưởng và tâm linh là một việc có tính cách sáng tạo, cũng cần thiết như sự chuẩn bị về thể chất, có lẽ còn cần thiết hơn.

Đối với một người đàn bà ba mươi sáu tuổi hỏi ông rằng bà ấy còn hy vọng có con hay không, cuộc soi kiếp nói: “Bà hãy tự luyện mình thành một khí cụ tốt lành hơn về mọi mặt thể chất, trí não, và tâm linh. Người đời thường có thói quen chỉ xem sự thụ thai như một việc làm thuộc về thể chất mà thôi.”

Một cuộc soi kiếp khác nói: “Do sự giao hợp, con người có dịp tạo nên một đường vận hà để cho đấng Tạo Hóa có thể hành động xuyên qua nàng bằng quyền năng Sáng Tạo của Ngài. Vậy đương sự hãy cẩn thận coi chừng thái độ của mình và của người bạn trăm năm của mình khi các người tạo nên các cơ hội đó, vì linh hồn đầu thai vào làm con các người sẽ có một tánh tình tùy thuộc một phần nào ở thái độ của cha mẹ.”

Hai mẹ con người kia có một tình mẫu tử rất khắn khít: Họ đã là hai mẹ con trong kiếp trước. Hai cha con người kia cũng có một tình phụ tử nồng nàn: Trong một kiếp trước họ đã là hai anh em trong một gia đình. Một người mẹ không hạp với con gái của bà: Họ chưa từng có sự liên hệ gì với nhau ở trong kiếp trước. Giữa một người con gái kia với người mẹ của cô ấy, chỉ có một sự dửng dưng lạnh nhạt; cuộc soi kiếp cho biết kiếp trước hai người là hai chị em ruột nhưng lại có một mối bất hòa trầm trọng: Hai người thường xung đột cãi vả lẫn nhau, và vẫn chưa hòa thuận trở lại. Hai cha con người kia kiếp trước là hai vợ chồng. Một người mẹ và con gái thường xung đột lẫn nhau: Trong kiếp trước, họ là hai bạn gái tranh dành nhau một người đàn ông và tranh dành địa vị. Trong hai mẹ con người, người con trai hay lấn át người mẹ: Trong kiếp trước, họ là hai cha con, với sự liên hệ gia đình trái ngược lại.

Những trường hợp đó chỉ rằng sự hấp dẫn của con cái đến với cha mẹ là do bởi sự hành động của nhiều nguyên tắc. Những nguyên tắc đó nhiều đều ẩn dấu đối với cặp mắt phàm của chúng ta Những hồ sơ soi kiếp của Cayce giúp cho ta có những tài liệu suy gẫm, nhưng không có đầy đủ chi tiết để cho ta có thể dịch ra thành một định luật nhất định.

Theo luật hấp dẫn, những người đồng thanh khí và giống nhau về tâm tình tánh chất thường rút lại gần nhau hơn. Nhưng đồng thời vì những lý do duyên nghiệp nợ nần hay nhân quả nào đó, những kẻ thù nghịch cạnh tranh nhau và tâm tính tánh chất đối chọi nhau thường cũng hay rút lại gần nhau. Một thí dụ điển hình là trường hợp một đứa trẻ được ông Cayce soi kiếp khi mới lên năm tuổi. Cuộc soi kiếp cho biết những đặc tính của đứa trẻ là thói ích kỷ, sự thờ ơ lãnh đạm và ngoan cố không chịu phục thiện khi y có lỗi. Y có những khả năng tiềm tàng của một nhà khảo cứu khoa học. Trong một kiếp trước, y là một nhà sưu tầm về tiềm lực của hơi nước như là một khí cụ sản xuất tinh lực. Ở một kiếp trước, y là một chuyên viên hóa học chế tạo cac loại chất nổ, trong kiếp trước nữa y là một chuyên viên ngành cơ khí và đi l i về dĩ vãng một kiếp nữa, người ta thấy y là một kỹ sư điện khí ở châu Atlantidẹ Bốn kiếp dành cho sự hoạt động tích cực về ngành khoa học thực dụng đã làm cho đương sự hoạt động tích cực về ngành khoa học thực dụng đã làm cho đương sự phát triển những khả năng đặc biệt, nhưng y lại quá thiên về giá trị của khoa học vật chất mà khinh rẻ giá trị của tình thương, đức tính mỹ lệ, và sự hợp nhất tâm linh của mọi loài vạn vật.

Bởi đó, y có một thái độ thản nhiên lạnh lùng đối với người chung quanh. Cuộc soi kiếp còn cho biết rằng đứa trẻ ấy sẽ thành công vẻ vang trong kiếp này nếu nó theo đuổi ngành kỹ thuật điện khí, hay cơ khí dùng sức mạnh của hơi nước, và gồm một công việc có dùng đến sự tính toán bằng phép đại số. Lời tiên tri đã tỏ ra hoàn toàn đúng. Đứa trẻ ấy bây giời đã trở nên một viên kỹ sư điện khí và những điểm chính trong tánh tình của y đều giống y như cuộc soi kiếp đã tiết lộ, tuy rằng y đã có một sự thay đổi tánh tình nhờ ảnh hưỡng của hoàn cảnh gia đình trong kiếp hiện tại.

Nếu nói rằng theo luật đồng khí tương cầu, những người giống nhau sẽ rút lại gần nhau, thì trong trường hợp này có lẽ đứa trẻ đã sinh ra trong một gia đình khoa học trí thức, mà người cha có lẽ là một kỹ sư và người mẹ là một giáo sư toán pháp ở một trường Đại Học chẳng hạn. Nhưng trái lại, y lại sinh ra trong một gia đình gồm những người nuôi lý tưởng vị tha, không có óc hoạt động thực tế. Người cha có óc tín ngưỡng tôn giáo và thích hoạt động xã hội; người mẹ tuy rằng bề xã giao hơi kém, nhưng có khuynh hướng hoạt động xã hội do ảnh hưởng của người chạ Người anh cả của đứa trẻ cũng là một người có lý tưởng vị tha, và sự hoạt động chính của y trong đời là giúp đỡ kẻ khác.

Xét về bề ngoài, thì sự đầu thai của một đứa trẻ như thế trong gia đình kể trên chưa thể nói là do nhân quả gây nên. Tuy nhiên, dường như có một nguyên tắc sửa đổi, chấn chỉnh những điều thiên lệch để đem lại sự thăng bằng trong tâm tính của một con người.

Có thể rằng linh hồn đứa trẻ đã nhận thấy sự khuyết điểm của mình và đã chọn lựa đầu thai vào một gia đình có lý tưởng vị tha giúp đời, để cho y có cơ hội phát triển khía cạnh vị tha bác ái trong tâm tính của y.

Trong kiếp hiện tại, đứa trẻ luôn luôn có dịp tiếp xúc với những người mà mục đích chính trong đời là phụng sự kẻ khác. Óc thực tế của y thường ảnh hưởng đến những người khác trong gia đình một cách lành mạnh, trái lại, lý tưởng vị tha của họ hằng ngày đều nhắc nhở cho y biết rằng ngoài ra những giá trị thực tế và vật chất của cuộc đời, còn có những giá trị đạo đức tâm linh. Tuy rằng kinh nghiệm đó không có đem đến một sự thay đổi hoàn toàn trong cái giá trị căn bản của cuộc đời y là khoa học thực dụng, nhưng nó đã ảnh hưởng đến con người của y bằng cách làm cho y trở nên bớt ích kỷ khô khan và trở nên cởi mở hồn nhiên hơn về mặt giao tế ngoài xã hội.

Như thế, việc chọn lựa hoàn cảnh để đầu thai dường như đã đạt được mục đích sửa đổi tâm tính và cuộc đới của y ít nhất là một phần nào. Những tài liệu hồ sơ Cayce chứng minh một cách đầy đủ rằng những linh hồn sắp sửa tái sinh trở lại cõi trần có một ít là được tự do trong việc chọn lựa hoàn cảnh và gia đình nào họ muốn đầu thai đây cũng có thể là duyên nghiệp hay nợ nần gì với người cha, người mẹ. Có vài bằng chứng chỉ rằng đối với những linh hồn kém tiến hóa, thì sự tự do chọn lựa ấy có giới hạn, nhưng nói chung thì sự lựa chọn cha mẹ để đầu thai dường như là một cái đặc quyền của mỗi linh hồn.

Người ta không dễ hiểu lý do tại sao một linh hồn lại cố tình chịu đầu thai vào một nhà ổ chuột tôi tăm trong ngõ hẻm, với những cha mẹ bần cùng khốn khó, một thể xác yếu đuối bệnh tật, và những hoàn cảnh bất lợi khác. Xét qua bề ngoài thì dường như một sự chọn lựa như thế có vẻ vô lý, nhưng nếu xét kỹ người ta thấy rằng điều ấy cũng có một lý do sâu xa về nhân quả – nghiệp báo nên họ mới bị đầu thai vào đó nhưng lại có khi một linh hồn cố ý chọn lựa một hoàn cảnh xấu xa bất lợi để làm phương tiện lấy đà, hầu có nỗ lực cố gắng vượt qua mọi chướng ngại và chiến thắng nghịch cảnh.

Có một điều lạ là sự tự do chọn lựa ấy dường như là có một ảnh hưởng đến tỷ lệ chết yểu của trẻ con. Nói chung thì khi sinh ra, một linh hồn có thể thoáng thấy một phần nào cái viễn ảnh cuộc đời tương lai của mình ở thế gian, khi y chọn lựa cha mẹ của y và hoàn cảnh để đầu thai. Nhưng vì con người còn có quyền xử dụng ý chí, tự do nên luật Tự Nhiên khiến cho y không thể nào biết trước tất cả mọi việc xảy ra trong tương lai. Sau khi đã chọn lựa cha mẹ và sinh ra ở thế gian, một linh hồn có thể nhận thấy rằng những người làm cha mẹ của y không ứng đáp lại đúng y như nguyện vọng của y sở cầu. Bởi đó, cái mục đích của y nhắm khi đầu thai vào làm con trong gia đình ấy đã hỏng, vì y đã gặp phải những hoàn cảnh khác hẳn, nên linh hồn bèn không muốn sống nữa và tự ý rút lui.

Đôi khi, sự chết yểu của một đứa con vừa sinh ra có thể được coi như một kinh nghiệm đau khổ cần thiết cho những người làm cha mẹ. Đứa con chỉ sinh ra có một lúc ngắn ngủi với một tinh thần hy sinh, để đem lại cho một bài học đau khổ mà họ cần dùng, và nhờ đó họ sẽ có cơ hội tiến hóa về tinh thần.

Một điểm lý thú khác đã được xác nhận rõ ràng và nhiều lần trong những tập hồ sơ của Cayce, là lúc thụ thai không phải là lúc nào linh hồn của đứa trẻ nhập vào trong bụng người mẹ. Những cuộc soi kiếp thường khuyên các bà mẹ có mang hãy giữ gìn tư tưởng trong thời kỳ thai nghén, vì những tư tưởng của người mẹ có thể ảnh hưởng đến cái bào thai, và quyết định một phần nào về loại linh hồn nào sẽ đầu thai vào làm cho con họ.

Về điểm này và nhiều điểm khác nữa, người ta cần có những cuộc sưu tầm bằng khả năng khiếu Thần Nhãn. Sự sinh sản không phải là một sự tình cờ, và việc một đứa trẻ lọt lòng mẹ để chào đời không phải là một điều giản dị như người ta có thể tưởng. Về vấn đề này cũng như bao nhiêu vấn đề khác trên địa hạt nhân sinh, những cuộc soi kiếp của ông Cayce đã tỏ ra vô cùng lý thú và hữu ích vì nó hé mở những chân trời mới lạ để dìu dắt những cuộc sưu tầm khảo cứu của người đời nay.

*Kết: Thực ra chỉ có những người nghiệp tương đối nhẹ mới có thể ước nguyện lựa chọn cha mẹ. Những người cực thiện sẽ đầu thai ngay về cõi lành (cõi trời), những người cực ác sẽ bị lôi kéo ngay vào các nơi xấu (địa ngục hay ngạ quỷ ), không thể tự mình quyết định nơi đầu thai.

Nói chung vẫn chủ yếu do duyên nghiệp của họ với người cha và người mẹ hoặc nghiệp người ấy đã gây tạo khi còn sống thế nào họ sẽ thác sinh về cõi giới tương ứng.

Bài trên chủ yếu nêu các vấn đề xảy ra trên thực tế, còn những việc sâu xa và các đường đi của duyên nghiệp hay nhân quả thì không thể dùng thuật thôi miên soi kiếp mà biết được vì rất phức tạp và còn rất nhiều nguyên do khác nữa, do đó cũng có những nhận xét chủ quan. Chúng ta đọc để tham khảo và suy ngẫm là chính, chứ không có bất kỳ một ai rõ được đường đi tường tận của Luật Nhân quả, nghiệp báo và luân hồi.

Lý Giải Nhân Duyên Vợ Chồng Trong Đạo Phật

5

(100%)

2

votes

(100%)votes

Lời Phật Dạy Về Bổn Phận Vợ Chồng / 2023

Trong bài Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt của Trường Bộ Kinh, Đức Phật đã thuyết giảng với gia chủ tử Singàlaka về bổn phận của vợ và chồng.

“Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây:

Kính trọng vợ;

Không bất kính đối với vợ;

Trung thành với vợ;

Giao quyền hành cho vợ;

Sắm đồ nữ trang với vợ;

 Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách:

Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình;

Khéo tiếp đón bà con;

Trung thành với chồng;

Khéo gìn giữ tài sản của chồng;

Khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.

Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.”

LỜI BÀN:

Theo bạn nghĩ, tại sao Đức Phật đã dạy hai bổn phận đầu tiên của người chồng là kính trọng vợ và không bất kính với vợ?

Được kính trọng là nhu cầu tất yếu của tất cả mọi người đó là sự công nhận của quyền được sống, quyền được bình đẳng. Tuy nhiên trong xã hội xưa, trọng nam khinh nữ là tư tưởng ảnh hưởng rất lớn và hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số nước trên thế giới. Vì tính gia trưởng của một số người chồng, họ đối xử vợ như một nô lệ họ đánh đập, hành hạ, chửi mắng, lăng nhục thậm chí họ đối xử vợ như một con vật. Chính vì vậy Phật dạy sự kính trọng là trên hết ở đây được hiểu như là sự công bằng cho người phụ nữ. Hơn nữa, người chồng phải kính trọng vợ vì những điều sau:

– Người vợ là người đã hy sinh rất nhiều cho gia đình. Họ đã dám rời bỏ sự che chở của cha mẹ để đến chăm sóc, lo cơm nước, áo quần, bệnh tật cho chồng. Họ đã hy sinh sắc đẹp, thời gian, tấm lòng không ngại khó khăn, vượt qua gian khổ cùng chồng, quán xuyến tất cả mọi việc, chăm lo chu toàn như một người mẹ chăm lo cho gia đình.

Trong bài Kinh Bảy Loại Vợ, Phật có dạy rằng “người vợ nào biết thương yêu chăm sóc, giúp đỡ chồng, biết cách giữ gìn và làm giàu tài sản của chồng như một người mẹ lo lắng chu tất cho con cái. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như mẹ”. cha mẹ là người đáng kính trọng thì người chăm lo cho bạn như cha như mẹ mình cũng phải xứng đáng nhận được sự kính trọng giống như vậy.

– Chẳng những vậy, người vợ phải hy sinh thân xác khi chịu đau đớn tột cùng mổ da xẻ thịt để sinh ra đứa con. Duy trì nòi giống được xem là nghĩa vụ quan trọng nhất của người chồng với dòng họ tổ tiên nên người chồng phải là người biết ơn và kính trọng vợ vì đã giúp mình hoàn thành nghĩa vụ với gia đình.

– Đặc biệt là người vợ là người duy nhất có thể lắng nghe, có thể chia sẻ  vui buồn. Thậm chí, họ cam chịu được những thứ hỗn độn về tính cách và điên đảo tinh thần của người chồng khi bực tức, khi sân giận, khi rượu chè say xỉn nhưng người vợ vẫn ầm thầm chấp nhận và chăm lo cho chồng.

Người vợ chính là người mang lại sự ấm áp, sự nhẹ nhàng, mát dịu cho gia đình, cho người đàn ông sau một ngày bộn bề mặt vào công việc. Về đến nhà, cơm nước đã chuẩn bị sẵn trên bàn, nhà cửa đã được dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp, một nụ cười xinh tươi trên gương mặt cùng những lời hỏi thăm quan tâm nhẹ nhàng, thân mật của người vợ cũng khiến bao nhiêu mệt mỏi bên ngoài của người chồng được tan biến. Nhà chính là nơi người đàn ông muốn trở về dù đi bất cứ nơi đâu. Chính tình thương của người vợ đã xây dựng nên sự ấm áp đó nên việc kính trọng vợ là một điều người chồng phải làm.

Đối với người vợ người mà nhận được sự kính trọng từ chồng, họ đã tình nguyện ở hậu phương để chăm lo việc nội bộ trong nhà để chồng yên tâm vững chắc với công việc bên ngoài, một phần cũng do phần lớn người phụ nữ thường yếu đuối về sức lục và cả tinh thần nên họ cũng nương tựa vào sức mạnh và sự che chở của người chồng. Nếu không được chồng kính trọng họ sẽ vô cùng đau khổ, cảm thấy tổn thương và tự ti, họ tự xem mình là gánh nặng, là kẻ ăn bám của chồng. Còn với người chồng, với một người kính trọng mình, lo lắng cho mình mà mình không kính trọng lại thì đó là mối quan hệ lợi dụng, không phải tình thương.

Tiếp theo, tại sao Phật dạy người chồng nên giao quyền cho người vợ trong đó gia cả quyền quản lý tài sản gia đình? Người phụ nữ là người có khả năng quản lý, sắp xếp các công việc trong nhà tốt hơn người đàn ông. Họ quản lý chi tiêu cũng tốt hơn vì người đàn ông dễ bị lôi cuốn vào các cám dỗ như bia rượu, cờ bạc, các cuộc gặp gỡ bạn bè không chính đáng. Còn người vợ biết cách chi tiêu như thế nào cho hợp lý để đảm bảo sự hòa thuận và no ấm trong gia đình, không quá bỏn xẻn cũng không quá phung phí. Việc giao quyền hành cho vợ cũng là việc để vợ có thể chủ động và dễ dàng sắp xếp công việc vì người đàn ông thường vắng mặt nhiều hơn người vợ.

Hơn nữa, để tri ân những gì vợ hy sinh cho mình thì người chồng nên tặng quà hoặc trang sức đẹp cho vợ. Người phụ nữ hay thích lãng mạn và yêu cái đẹp. Việc tặng quà hoặc trang sức cho vợ là cách cho thấy người chồng thấu hiểu tâm lý vợ, tôn trọng sự ưa thích cái đẹp của vợ và cũng chính là cách khiến người vợ cảm thấy được hạnh phúc vì được chồng nhận ra sự có mặt và tình thương của mình dành cho gia đình. Chính vì được người chồng trân trọng và nhận ra, người vợ sẽ hết lòng vì tình thương ấy và hạnh phúc gia đình sẽ bền chặt hơn.

* Đối với người vợ:

Bổn phận đầu tiên mà Phật dạy người vợ là làm tốt bổn phận của mình. Người phụ nữ đến với cuộc đời có hai sứ mệnh cao cả là làm mẹ và làm vợ. Người đàn bà phải mang thai, phải sinh con, đó là thiên chức của một người phụ nữ. Nhưng làm vợ thì cần phải có sự khéo léo chu toàn cho cả việc bên trong và bên ngoài.

– Bên ngoài là người vợ phải biết khéo đón tiếp bà con, bạn bè và các mối quan hệ của chồng. Người chồng là người đại diện cho gia đình nên mọi hành động, lời nói của vợ phải nghĩ đến việc giữ gìn sỉ diện, danh dự của chồng với người ngoài đặc biệt là người thân và bạn bè của chồng. Một người vợ khéo léo xử lí trong các mối quan hệ của chồng sẽ tạo ra sự hòa hợp trong gia đình, người chồng cũng không phải rơi vào cảnh khó xử khi đứng giữa hai bên mà còn ngược lại còn mang đến niềm vinh dự, niềm tự hào cho chồng với bà con bè bạn.

– Đối nội là biết khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc trong nhà, tháo vát, đảm đang và quán xuyến được tất cả công việc từ người ăn kẻ ở, nuôi dạy con cái, miếng cơm manh áo, quản lý chi tiêu trong nhà và chăm lo cả tâm tư cảm xúc, sự êm ấm trong gia đình. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh 33 Uggaha, Người Gia Chủ (A.III. 38) Đức Phật có dạy người nữ nên học tập như sau: “Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình”.  Chỉ khi có sự quan sát tỉ mỉ, chi tiết và tình thương vô bờ dành cho những người mình thương yêu mới có thể làm được những điều này.

Cuối cùng, trong năm bổn phận của người chồng và năm bổn phận của người vợ mà Đức Phật đã dạy, có chung một điều duy nhất ở điều thứ ba là cả vợ và chồng phải biết sống chung thủy. Sự chung thủy, sự trung thành trong bất kỳ mối quan hệ nào cũng là điều quan trọng nhất cho sự bền vững. Chính sự chung thủy tạo ra hạnh phúc gia đình và ngược lại nhờ có hạnh phúc nên vợ chồng mới chung thủy sống với nhau bền lâu.

Vậy nên, theo lời Phật dạy về 5 điều người chồng nên đối xử với vợ chính là cách anh bảo vệ những gì anh đang có, phải biết tri ân người mang lại hạnh phúc cho mình. Và chăm sóc cho chồng cho gia đình như là một sứ mệnh của người phụ nữ. Khi chồng biết đối xử đúng mực với vợ thì tự động người vợ sẽ hết lòng với gia đình và gia đình được che chở an vui và hạnh phúc lâu dài.

Diệu Hiền

Đạo Vợ Chồng Theo Lời Phật Dạy / 2023

(PPUD) Phật giáo vốn không xa rời với cuộc sống của con người. Đức Phật thị hiện cũng là vì an vui hạnh phúc của nhân loại.

Nhưng việc diễn dịch nhiều khi lại chỉ chú trọng đến giải thoát, giác ngộ và niết bàn mà có phần quên đi vai trò của Phật giáo đối với xã hội. Thực tế, Đức Thích Ca Mâu Ni có rất nhiều lời dạy về những mối quan hệ nhất là tình cảm gia đình. Một trong số đó là bài dạy của Đức Phật về cách giữ gìn hạnh phúc vợ chồng qua kinh Bảy loại vợ.

Dù trải qua nhiều biến cố thăng trầm trong lịch sử nhưng Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca vẫn tồn tại trường cửu suốt 2550 năm qua. “Chính tôi được nghe, một buổi sáng nọ, Đức Phật đến dự lễ cúng dường tại nhà của cư sĩ Cấp Cô Độc. Khi thân hành tới nơi, Đức Phật thoáng nghe những lời chửi bới ồn ào vọng lên từ sau nhà. Ngài hỏi cư sĩ Cấp Cô Độc rằng: – Này cư sĩ, trong nhà có việc gì mà ồn ào như thế ? Cư sĩ Cấp Cô Độc thẹn thùng cung kính thưa rằng: – Bạch Đức Thế Tôn, đó là sự ngỗ nghịch lớn tiếng của nàng dâu của con, Su-cha-ta. Tuy là dâu trong gia đình, nhưng nó ỷ vào sự giàu có của gia đình cha mẹ ruột nên nó thất lễ, không chịu vâng lời, không biết cung kính cha mẹ chồng. Bạch Đức Thế Tôn, ngay cả chồng nó, nó cũng xử sự thô lỗ và vô lễ như vậy. Ngoài ra, nó cũng không biết cung kính đảnh lễ những Bậc Đạo Sư. Dù biết Thế Tôn thân lâm, nó cũng không tỏ ra trọng nể, vẫn ồn ào lớn tiếng nãy giờ. Kính xin Thế Tôn từ bi cảm hóa nó. Lúc bấy giờ Đức Phật cho gọi nàng dâu ra và dạy rằng: – Này Su-cha-ta, có bảy loại người vợ trên đời này. Con hãy chín chắn suy nghĩ, so sánh và trả lời cho Như Lai biết con thuộc loại vợ nào: – Một là vợ như kẻ sát nhân. – Hai là vợ như người ăn trộm. – Ba là vợ như chủ nhân. – Bốn là vợ như người mẹ. – Năm là vợ như người em. – Sáu là vợ như người bạn. – Bảy là vợ như người hầu. Với gương hạnh hiền từ, cứu độ của Đức Phật, nàng dâu bắt đầu tỏ ra vâng phục rồi lễ phép thưa: – Bạch Đức Thế Tôn, lời dạy của Ngài quá ngắn gọn, con không thể hiểu được. Kính xin Ngài từ bi chỉ dạy cặn kẽ thêm. Lúc ấy, Đức Phật ân cần dạy như sau: – Một là, Người vợ nào có tâm địa hiểm độc, hai lòng không chung thủy trong hôn nhân, bỏ rơi chồng mình, quan hệ bất chính với các đàn ông khác chỉ vì choáng ngộp trước sự giàu có hay vẻ bề ngoài của họ, khinh bỉ chồng và tính tình hiếu sát. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ sát nhân. – Hai là, người vợ nào không chung lo kinh tế gia đình, trái lại còn tiêu xài hoang phí tài sản hợp pháp của chồng tạo ra. Người vợ như vậy Như Lai gọi là loại vợ trộm cướp. – Ba là, người vợ nào sống ỷ lại, lười biếng, không có lời từ ái, nhu hòa với chồng mà chỉ biết phát ngôn thô tháo, lấn lướt chồng. Người vợ như vậy Như Lai gọi là vợ chủ nhân. – Bốn là, người vợ nào biết thương yêu chăm sóc, giúp đỡ chồng, biết cách giữ gìn và làm giàu tài sản của chồng như một người mẹ lo lắng chu tất cho con cái. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như mẹ. – Năm là, người vợ nào thùy mỵ, đoan trang, khiêm tốn, biết chiều chuộng và thuận phục chồng mình như đối với một người anh trong gia đình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như em. – Sáu là, người vợ nào luôn luôn niềm nở, vui vẻ, hòa thuận với chồng như thể khi hội ngộ một người bạn thân từ lâu mới gặp lại. Luôn giữ tiết hạnh và thủy chung với chồng. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như bạn. – Bảy là, người vợ nào luôn mềm mỏng, không nóng tánh, không sân hận, giận dỗi. Dù bị chồng đối xử không đẹp nhưng vẫn nhường nhịn, không tỏ thái độ lỗ mãng, lớn tiếng. Trái lại còn biết tùy thuận để khuyên răn và chinh phục chồng mình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như người hầu. – Này Su-cha-ta, trong bảy loại người vợ mà Như Lai vừa nói, ba hạng đầu là loại vợ như sát nhân, như những người bất hảo, do đó con nên xa tránh. Những hạng vợ như vậy do sống không giới hạnh, ác khẩu và vô lễ, sau khi qua đời phải sanh vào cõi xấu. Bốn loại vợ sau là đáng tôn kính và noi theo. Đó là vợ như mẹ, vợ như em, vợ như bạn và vợ như người hầu. Những hạng vợ này khi sống thì tạo ra hạnh phúc cho gia đình và con cái; khi qua đời thì được sanh vào cõi lành. Nghe Đức Phật ân cần giáo dục, nàng dâu của cư sĩ Cấp Cô Độc tỏ ra ân hận và thành tâm sám-hối. Nàng phát nguyện sẽ chung sống và phụng sự chồng với tư cách như người hầu. Từ đó, gia đình của cư sĩ Cấp Cô Độc trở nên đầm ấm, an lạc và hạnh phúc thật sự. Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá)”[1]

Nếu nói Đức Phật là một nhà tâm lý học, một nhà xã hội học tuyệt vời cũng không có gì là quá lời. Cách đây hơn 2550 năm, Đức Phật từ việc phân tích ra những loại vợ để có lời khuyên với nàng Su Cha Ta là một cách để hòa giải những rắc rối trong gia đình trưởng giả Cấp Cô Độc. Lời dạy đó đến nay vẫn còn giá trị.

Nhưng ở đây, chúng ta cũng phải hiểu rằng, Đức Phật nói Kinh Bảy Loại Vợ không có nghĩa là chỉ để dành khuyên những người vợ mà ở đó còn có cả những người chồng. Theo đó, có bảy loại chồng:

– Một là chồng như kẻ sát nhân. – Hai là chồng như người ăn trộm. – Ba là chồng như chủ nhân. – Bốn là chồng như người cha. – Năm là chồng như người anh – Sáu là chồng như người bạn. – Bảy là chồng như người hầu.

Ngày nay, qua báo đài hay tận mắt chứng kiến những người xung quanh, chúng ta thấy biết bao nhiêu mái nhà rơi vào thảm kịch vì vợ giết chồng, chồng giết vợ, vợ lừa chồng, chiếm đoạt tài sản của chồng. Họ đã phải trả giá cho những hành động tàn nhẫn của mình. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu dẫn chứng một vài trường hợp tiêu biểu sau:

Vụ án gây chấn động dư luận suốt một thời gian dài tại Việt Nam là một người vợ phóng hỏa giết chồng – nhà báo Hoàng Hùng, đã phải nhận mức án tù chung thân.

Theo dânviet.vn (ngày 14/4/2013), TAND tỉnh Bình Định đã tuyên án tù chung thân với bị cáo Lê Thanh Tuấn vì hành vi giết vợ bằng búa rất dã man.

Những ai quan tâm đến thế giới giải trí sẽ không thể không biết cuộc ly hôn “trị giá” 14 triệu USD của người mẫu Ngọc Thúy. Theo đó, trong cuộc ly hôn, nhờ vào người tình là luật sư đã giúp cô chiếm đoạt tất cả tài sản mà chồng cũ – doanh nhân Việt kiều Nguyễn Đức An đã dành cả cuộc đời lao động vất vả mới có được.

Từ thực trạng trên, chúng ta mới thấy rằng đạo đức con người ngày càng suy đồi, xuống cấp trầm trọng. Dường như chỉ vì những cơn nóng giận, ghen tuông mù quáng hay vì lòng tham mà một người sẵn sàng hãm hại người vợ/ chồng của mình. Những loại người vợ/chồng đó chẳng khác gì những kẻ sát nhân hay kẻ trộm. Nếu lý giải nguyên nhân là do họ không có nền tảng giáo dục thì sẽ không thể thuyết phục được. Có lẽ lòng ích kỷ, tham lam, không nhớ đến vai trò và trách nhiệm của mình đối với người bạn đời mà họ mới có những hành động mất nhân tính như thế.

Vì thế, bên cạnh việc luật pháp trừng trị nghiêm minh đối với các trường hợp phạm tội thì việc giáo dục các đôi bạn trẻ ngay từ khi bắt đầu bước vào đời sống hôn nhân là điều vô cùng cần thiết. Một trong những cách giúp gia đình được vững bền và hạnh phúc là hành theo lời Phật dạy. Ngày nay, nhiều Tu viện, Chùa, Tịnh xá đã tổ chức những Lễ Hằng Thuận cho các đôi Tân lang – Tân nương. Theo đó, các đôi vợ chồng trẻ được các Chư Tăng ban đạo từ, hiểu về vai trò và trách nhiệm của vợ/chồng thông qua Kinh Bảy Loại Vợ.

Việc kết hợp đọc tụng và giải giảng ý nghĩa Kinh Bảy Loại Vợ trong các Lễ Hằng Thuận mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Hạnh phúc gia đình không thể chỉ tồn tại vĩnh cửu nếu chỉ vì dục lạc, đam mê mà còn phải có sự tôn trọng, sống có tình có nghĩa với nhau, làm tròn bổn phận dâu hiền, rể thảo, hiếu dưỡng ông bà, cha mẹ hai bên. Một khi hai vợ chồng hiểu được trách nhiệm của mình thì sẽ hạn chế những trường hợp đáng tiếc xảy ra như chúng tôi vừa nêu.

Chúng tôi hy vọng rằng những lời dạy của Đức Phật về việc giữ gìn hạnh phúc gia đình, sẽ ngày càng được nhiều Phật tử tại gia nhất là những đôi uyên ương sắp bước vào cuộc sống hôn nhân luôn luôn ghi nhớ, áp dụng vào thực tế cuộc sống. Được như vậy thì tình yêu của họ mới luôn luôn vững bền và đủ sức mạnh vượt qua những thử thách, chông gai trong cuộc sống.

[1] Thích Nhật Từ biên soạn (2005), Kinh tụng hằng ngày, NXB Tôn Giáo TP. HCM, tr 199 – 208 Nhuận Đoan tổng hợp