Triết Học Trong Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Dtdecopark.edu.vn

Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:02

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Bên cạnh việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn học truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”. Tinh thần đó tiếp tục được bổ sung và khẳng định trong kết luận của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của Việt Nam đương đại, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc”. Để đạt được những mục tiêu trên chúng ta phải tiến hành đồng thời nhiều biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp có vai trò hết sức quan trọng đó là cần xuất phát từ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mà nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của truyền thống đó là kho tàng văn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng. Ca dao, tục ngữ là di sản tinh thần quý báu, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lý làm người, là “túi khôn” mà ông cha ta đã dày công xây dựng và lưu giữ. Những triết lý giáo dục sâu sắc, đậm chất nhân văn về thế giới, về con người của nhân dân ta đã được khái quát và đúc kết qua ca dao, tục ngữ sẽ có tác dụng quan trọng trong việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người. Vận dụng ca dao, tục ngữ nhằm khơi dậy niềm say mê học tập của học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa 1 Mác – Lênin và môn Giáo dục công dân trong các trường trung học phổ thông. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu huyền thoại và truyền thuyết tạo nên tâm điểm căn bản văn hóa dân tộc và hồn con người Việt Nam thì ca dao, tục ngữ là cẩm nang bí quyết, là một cuốn từ điển mà tiền nhân đã tích lũy theo thời gian và để lại cho con cháu. Trong đó hàm chứa triết lý dân tộc, phản ánh tâm thức Việt Nam và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nó là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá trị tinh thần, bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc ta. Thế nhưng, hiện nay văn học dân gian là nguồn tư liệu ít được khai thác, tiếp cận về mặt triết học vì có ý kiến cho rằng đây là loại văn phong không uyên bác, lạc hậu và có nhiều hạn chế. Tuy nhiên, nếu chúng ta dày công sưu tập và nghiên cứu thì từ kho tàng văn học dân gian ấy có thể khám phá ra khí phách con người Việt Nam, khám phá ra những đặc điểm về tâm – sinh lý, tình cảm, cũng như quan niệm về thế giới, về con người của người Việt Nam. Đồng thời nó còn thể hiện năng lực tư duy, phán đoán, phân tích và nhận thức của cha ông ta về vũ trụ và con người. Vậy nên, muốn tìm hiểu hồn dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua kho tàng này, qua đó chứng tỏ cha ông ta đã có một khối hiểu biết, kinh nghiệm và luân lý sâu sắc. Nhờ vậy mà đất nước và dân tộc ta sống còn và sống mạnh cho đến hôm nay sau những chiến tranh, xâm lược từ bên ngoài và phân tranh, chia rẽ ngay trong nội bộ. Mặt khác, Nghị quyết của Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Về chính sách khoa học và kỹ thuật cũng đã chỉ rõ: “Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác – Lênin ở Việt Nam” là một việc làm hết sức cần thiết không chỉ có ý nghĩa trọng đại trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài. Hiện nay, nền kinh tế thị trường và sự mở cửa, giao lưu đã đưa nước ta hội nhập mạnh mẽ vào nền văn minh nhân loại, làm thay đổi nhanh chóng 2 diện mạo và đời sống đất nước. Thực tiễn đó cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức trong ngành giáo dục khi mà gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng, vấn đề giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách hơn bao giờ hết trở thành mối quan tâm trước hết của toàn xã hội. Để phát huy hơn nữa sức mạnh của dân tộc, đồng thời khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn bao giờ hết lại càng đòi hỏi phải quan tâm hơn nữa đến những giá trị tinh thần, đó là truyền thống văn hóa của dân tộc, là nền văn học dân gian nói chung – kho tàng ca dao, tục ngữ nói riêng; đồng thời kết hợp hài hòa với tinh hoa văn hóa của nhân loại để tạo nên sự phát triển bền vững cho nền văn hóa nước nhà. Lịch sử là một dòng chảy liên tục, tiếp nối không ngừng. Xưa – nay và cả ngày mai, vốn có quan hệ chặt chẽ theo dòng thời gian. Lý luận và kinh nghiệm giáo dục có tính kế thừa và phát triển. Giữa sự phát triển xã hội và giáo dục cũng như giữa lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nhìn lại quá khứ để mạnh tiến đến tương lai – đó là những lý do để tôi chọn đề tài: “Triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học triết học. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Hiện nay ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung dưới góc độ văn học dân gian là chính, chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về vấn đề triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Cụ thể: – Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện văn học 1 (2001), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản giáo dục. – Vũ Ngọc Phan (1995), “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nhà xuất bản Văn học. 3 – Cao Huy Đỉnh (1974), “Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. – Phúc Khánh (1961), Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật. – Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2000), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục. – Nguyễn Nghĩa Dân (2011), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt nam, Nhà xuất bản Thanh niên. – Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Lòng yêu nước trong văn học dân gian Việt Nam, Nxb Hội nhà văn. – Phương Thu (2004), Ca dao, tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội. – Triều Nguyên (2005)”Ca dao Thừa Thiên – Huế”, Nhà xuất bản Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, Huế. – Triều Nguyên (2010), “Khảo luận về tục ngữ Người Việt”, Nxb Khoa học xã hội. – Phạm Việt Long (2010), “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. – Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. – Nguyễn Hữu Vui (2004), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đi sâu và làm sáng tỏ những vấn đề của ca dao, tục ngữ của Việt Nam như khái niệm, nguồn gốc, sự hình thành, phát triển, nội dung và các hình thức nghệ thuật nói chung của ca dao, tục ngữ. Làm rõ nội dung phản ánh của ca dao, tục ngữ như: ca dao, tục ngữ nói về thiên nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, xã hội và về giáo dục, về đạo đức. Ca dao, tục ngữ thể hiện tình yêu quê hương đất 4 nước; thể hiện tình cảm đôi lứa, thể hiện về quan hệ hôn nhân – gia đình,… Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác. – Một số luận văn đã nghiên cứu liên quan đến đề tài này là: Lương Thị Lan Huệ (2004), “Một số vấn đề triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam”. Tác giả đã trình bày một số tư tưởng triết học trong ca dao, tục ngữ người Việt như: Tư tưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người đối với xã hội. Tác giả cũng đã rút ra một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Việt Nam, nêu ý nghĩa triết học của ca dao, tục ngữ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Phạm Thị Thúy Hằng (2006), “Những tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian Việt Nam”. Tác giả cũng đã trình bày một số tư tưởng triết học về thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam. Đề cập đến những ảnh hưởng của truyện kể dân gian đối với việc xây dựng nền văn hóa của dân tộc. Cao Thị Hoa (2011), “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên – Huế”. Tác giả đã đi sâu phân tích và làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên – Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống (nhân sinh quan, thế giới quan) của con người Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên – Huế, vận dụng nó ở góc độ kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. – Một số bài viết đăng trên các tạp chí triết học như: Lê Huy Thực (2004 – 2005), “Triết lý dân gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam”, Tạp chí triết học số 2 (153); “Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ thơ ca dân gian”, Tạp chí triết học số 9 (172). Đỗ Lan Hiền (2005), “Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian”, Tạp chí triết học số 6 (169). 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5 * Mục đích: Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Trên cơ sở đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho con người Việt Nam. Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài làm rõ: – Quá trình hình thành của ca dao, tục ngữ Việt Nam. – Những nội dung triết lý giáo dục thể hiện trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là ca dao, tục ngữ Việt Nam qua các công trình đã được xuất bản. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm, phương pháp luận của triết học Mác – Lênin. Đó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, so sánh và đối chiếu, khách quan và biện chứng trong việc nghiên cứu tư tưởng triết học. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống về vấn đề triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Làm rõ những vấn đề về giá trị giáo dục, giá trị nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ của dân tộc. Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết. 6 CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CA DAO TỤC NGỮ VÀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM 1.1. Vấn đề chung về ca dao, tục ngữ Việt Nam 1.1.1. Khái niệm ca dao, tục ngữ Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng, được coi là nền văn học khởi nguồn. Đó là những viên ngọc quý, những kinh nghiệm, những điều hay, lẽ phải mà ông cha ta để lại. Là tâm hồn, trí tuệ, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân ở từng chặng đường lịch sử. Là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống của người dân lao động. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, tinh tế, có vần và dễ nhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, giữ gìn và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Mặc dù luôn được trau chuốt, có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau nhưng ca dao, tục ngữ vẫn luôn giữ được cái hồn, cái hình của mình. Ca dao, tục ngữ vừa là một hiện tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, phản ánh cuộc sống sinh hoạt muôn hình muôn vẻ của nhân dân, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và xây dựng đất nước, từ đó kết tinh thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 1.1.1.1. Ca dao Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; giao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Cho nên, ca dao là lời của các bài hát 7 dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, thì “ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ” [43, tr.303]. Ca dao là những bài hát ngắn, thường là 3, 4 câu. Cũng có một số ít bài ca dao dài. Những bài ca dao xưa thường có nguồn gốc dân ca. Dân ca, tước bỏ làn điệu đi, lời ca ở lại, đi vào kho tàng ca dao. Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu, đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ biến và được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân. Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian, do đó tất cả những sáng tác thơ ca nào mang phong cách của những câu hát cổ truyền, người ta gọi là ca dao. Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử. Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắc Việt Nam. Thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam. Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người. Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa những con người lương thiện, đó còn là nhận thức sâu sắc về bạn, về thù, về chính nghĩa. Tóm lại, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực cuộc sống của 8 nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất. Nội dung của ca dao rất phong phú, đa dạng. Phản ánh những quan niệm về trời, đất, về thời thế, nguồn gốc con người; phản ánh lịch sử, công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống áp bức bóc lột và xâm lược. Miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán, những kinh nghiệm trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân lao động, những kinh nghiệm trong sản xuất, chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ, trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội. Qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ, khó khăn và những phẩm chất tốt đẹp của người dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội để sinh tồn và vươn lên giành lấy hạnh phúc. Nét nổi bật trong bộ phận ca dao lịch sử là nội dung của nó đã thể hiện một cách mạnh mẽ, sâu sắc tình cảm của nhân dân đối với quê hương, đất nước, với nòi giống, tổ tiên: “Thương chi đồng nỗi thương con/ Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà”; “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”. Hay những câu ca dao phản ánh những sự kiện của lịch sử dân tộc, nói lên thái độ, quan điểm, lòng yêu nước của nhân dân ta trong khi bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô xâm lược: “Ru con, con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng/ Túi gấm cho lẫn túi hồng/ Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân”. Ca dao còn là tiếng nói của trái tim, bày tỏ sự uất ức, phẫn nộ của nhân dân, là tiếng hát đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, cường quyền, chống quân xâm lược, vạch trần những cái xấu, những tội ác mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta. Hình ảnh nổi bật trong những câu ca dao nói về đất nước, quê hương, dân tộc,…là những hình ảnh về con người Việt Nam cần cù trong lao động, 9 dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hy sinh trong quan hệ giữa người với người và luôn luôn lạc quan, yêu đời. Ca dao thể hiện những phẩm chất tốt đẹp đó của người Việt Nam và hướng con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tình yêu quê hương, đất nước, cảm hứng về một non sông tươi đẹp, về một nòi giống vẻ vang, về một dân tộc anh hùng,… là một cảm hứng vừa nồng nàn, vừa đằm thắm, lắng sâu. Nhiều tên núi, tên sông, tên các làng quê, các di tích lịch sử – văn hóa, các sản vật, các cảnh sinh hoạt cùng phong tục tập quán ở các địa phương được thể hiện rất phong phú trong ca dao. Ca dao còn là tiếng hát nghĩa tình, tiếng hát yêu thương của con người. Phong phú và đặc sắc nhất, giàu cung bậc nhất trong tình cảm của con người là mảng ca dao giành cho tình yêu đôi lứa. Những tâm tình, những khía cạnh của tình yêu và trạng thái tâm lý của trai gái lúc yêu nhau, được ca dao diễn đạt bằng một ngôn ngữ vừa giản dị, vừa bay bổng, vừa ý nhị, vừa đậm đà, chứ không mang màu sắc ủy mị, sướt mướt, trái lại nó rất rắn rỏi, bền chặt, trong sáng mặc dù trong cuộc sống, trong hôn nhân có không ít trắc trở, khổ đau: “Thuyền về có nhớ bến chăng?/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền!”. Nội dung của ca dao đã phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do hôn nhân. Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách, tình yêu cho con người thêm mạnh mẽ trong cuộc sống, trong lao động, trong đấu tranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc của mình. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu 10 . VỀ CA DAO TỤC NGỮ VÀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM 1.1. Vấn đề chung về ca dao, tục ngữ Việt Nam 1.1.1. Khái niệm ca dao, tục ngữ Trong. làm sáng tỏ triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Trên cơ sở đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho con người Việt Nam. Kế thừa

Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Nội dung Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn: Chứa đựng tiếng cười trào phúng

Phân loại

Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

Chi chi chành chành Cái đanh thổi lửa Con ngựa đứt cương Ba vương ngũ đế …

Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

Trời mưa trời gió đùng đùng Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu Đem về trồng bí trồng bầu Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

Dập dìu cánh hạc chơi vơi Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô Khi đi nhớ cậu cùng cô Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

Ca dao trào phúng, bông đùa

Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho Đêm nằm thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà Đi chợ thì hay ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm Trên đầu những rác cùng rơm Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

Ca dao trữ tình. Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Tục ngữ Việt Nam

Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ. Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

Chữ tác đánh chữ tộ

Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

“Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

“Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

“Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

“Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

“Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

“Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

“Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

“Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

“Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

“Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

“Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

“Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ sơ, ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

“Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà … ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

“Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

Râu ông nọ cắm cằm bà kia

Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

Chẻ một câu tục ngữ làm hai

Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

– Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

– Muốn sang thì bắc cầu kiều,

– Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

– Một cây làm chẳng nên non,

– Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

– Người khôn con mắt đen sì,

– Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

– Nói lời thì giữ lấy lời,

– Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

– Vàng thì thử lửa thử than,

– Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

– Thứ nhất thì tu tại gia,

– Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

– Khúc sông bên lở bên bồi,

– Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

– Sự đời nghĩ cũng nực cười,

– Ai ơi đã quyết thì hành.

– Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

Lệ Như Thích Trung Hậu

ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

Phật lịch 2545

Tân Tỵ 2001

Gs. Cao Huy Thuần.

(Paris)