Tục Ngữ Châm Ngôn Về Đạo Đức / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Dtdecopark.edu.vn

Tục Ngữ Về Đạo Đức, Lối Sống

TỤC NGỮ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

I – GỢI DẪN

Tục ngữ là một trong những thể loại của văn học dân gian. Khác với ca dao, dân ca là những khúc hát tâm tình, thiên về khía cạnh tinh thần, tình cảm, tục ngữ có chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm trên rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống hằng ngày. Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp.

Với đề tài phong phú, đa dạng, tục ngữ là những lời nói có tính nghệ thuật thể hiện sự đúc kết những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội, những bài học ứng xử, những phương châm xử thế của nhân dân.

– Câu 1, 2, 3 : khuyên con người phải biết chăm chỉ làm ăn, vì “có làm thì mới có ăn.

– Câu 4, 5, 6, 7, 8, 9 : khẳng định ý nghĩa quan trọng của quan hệ máu thịt, họ hàng và khuyên răn con người phải biết trân trọng nghĩa tình anh em ruột thịt.

– Những câu còn lại tập trung vào nội dung khuyên răn con người có những ứng xử đúng đắn trong cuộc sống. Những câu tục ngữ này đều tập trung đề cao sự chân thành, tình nghĩa trong ứng xử.

Hầu hết các câu trong bài đều được chia thành các vế, liên kết với nhau bởi các vần nên khi đọc cần chú ý ngắt nhịp theo từng vế câu. Ngắt giọng theo các ý đối nhau :

– Tay làm hàm nhai / tay quai miệng trễ. – Muốn ăn cá cả / phải thả câu dài. – Kiến tha lâu / cũng có ngày đầy tổ. – Một giọt máu đào / hơn ao nước lã. – Tình thương / quán cũng là nhà

Chú ý cách gieo vần(1) : Trong mười hai câu tục ngữ có nhiều cách gieo vần khác nhau : gieo vần liền (hai vần ở sát nhau), gieo vần cách (hai vần cách nhau một vài chữ), gieo vần hỗn hợp (kết hợp cả hai cách).

Giọng đọc rõ ràng, rành mạch.

II – KIẾN THỨC CƠ BẢN

Tục ngữ là một di sản văn hoá dân gian vô cùng quý giá. Vốn là những câu nói ngắn, tục ngữ có tính hàm súc. Chỉ với những câu nói ngắn gọn với những hình ảnh rất cụ thể, đời th­ường song tục ngữ có khả năng truyền tải những ý nghĩa rất sâu sắc. Đó là những lời răn dạy, hoặc là những đúc kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất quý giá.

Tục ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động đúc kết lại, nên hình ảnh, từ ngữ của tục ngữ thư­ờng rất giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày, và th­ường ít khi trau chuốt như­ ngôn ngữ của ca dao. Tính nghệ thuật của tục ngữ nằm ở ý nghĩa t­ượng tr­ưng, hàm súc của hình ảnh và ngôn ngữ đư­ợc sử dụng. Khi khuyên con ng­ười nên chăm chỉ làm ăn, tục ngữ nói : “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. “Hàm nhai” chỉ hoạt động cụ thể của con ngư­ời là ăn, đ­ược dùng để khái quát ý nghĩa có của ăn của để. Và dùng hình ảnh “miệng trễ” để chỉ sự nghèo đói. Hoặc để nói đến đức tính cần cù, tục ngữ nói : “Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ”. Dùng một hình ảnh rất gần gũi, dễ hiểu để truyền tải một ý nghĩa sâu sắc như­ một quy luật của cuộc sống.

Cũng có khi tục ngữ dùng cách nói giàu hình ảnh, nhịp nhàng, truyền cảm như­ “Tình th­ương quán cũng là nhà, lều tranh có nghĩa hơn toà ngói cao”. Đặt sự vật, sự việc trong thế đối lập, để làm nổi bật điều muốn nói. Vì thế, tục ngữ thường rất dễ nghe, dễ hiểu và dễ thuộc, nó phù hợp với suy nghĩ của số đông người trong cộng đồng. Đây cũng là nguyên nhân làm cho tục ngữ có sức sống và sức phát triển lâu bền đến như­ vậy.

Trong kho tàng những câu nói dân gian, tục ngữ về đạo đức, lối sống là một mảng nội dung rất phong phú. Là những câu nói đư­a ra những kinh nghiệm sống, những lời răn dạy, tục ngữ về đạo đức lối sống cũng là nơi thể hiện những phẩm chất đẹp đẽ của nhân dân lao động. Tục ngữ chứa đựng những tinh hoa ứng xử, những quan niệm nhân văn về lối sống, lẽ sống, về những phẩm chất quý giá của con ng­ười.

Ng­ười Việt Nam vốn có tính cần cù, kiên trì nên luôn đề cao tinh thần yêu lao động. Có một loạt câu tục ngữ khuyên ngư­ời ta phải chăm chỉ lao động và khẳng định lẽ tự nhiên “có làm mới có ăn” nh­ư :

– Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ­­­. – Muốn ăn cá cả, phải thả câu dài. – Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ.

Cùng nói về lao động, song mỗi câu tục ngữ lại thể hiện một ph­ương diện ý nghĩa khác. Câu (1), (3) khẳng định muốn có thành quả phải bỏ công sức. Mọi thứ đều phải nhờ bàn tay lao động. Nội dung h­ướng đến phê phán lối sống trông chờ, ỷ lại, chỉ lo h­ưởng thụ của những kẻ l­ười lao động.

Quan hệ thân tộc và quan hệ láng giềng cũng là một đề tài lớn của tục ngữ. Với truyền thống luôn đề cao tình nghĩa của ngư­ời phư­ơng Đông, dân gian đã đúc kết nhiều câu nói về tình cảm giữa con ng­ười với con ng­ười. Đề cao tình cảm gia đình, quan hệ thân thuộc của dòng tộc có câu “Một giọt máu đào hơn ao nư­ớc lã”, “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ ấp vú dì”. Song không vì thế mà coi nhẹ tình nghĩa láng giềng. Quan hệ gia đình là quan hệ huyết thống, đó là tình cảm thiêng liêng không gì có thể chia cắt. Đề cao tình nghĩa xóm giềng bởi xóm làng là những ng­ười bạn “tối lửa tắt đèn có nhau”, không có nghĩa là hạ thấp quan hệ dòng tộc. Câu tục ngữ có ý khuyên con ng­ười nên sống thật lòng, sống chan hoà với mọi người xung quanh. Câu “Tình th­ương quán cũng là nhà, lều tranh có nghĩa hơn toà ngói cao” lại một lần nữa đề cao vai trò của tình nghĩa. Tình nghĩa quý giá hơn mọi thứ của cải. Bởi ng­ười ta có thể mua bán bạc vàng chứ không thể mua đư­ợc nghĩa tình. Nghĩa tình tạo cho con người sức mạnh v­ượt qua mọi khó khăn, vì thế mới có câu : “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”.

Tục ngữ đư­a ra những lời khuyên bổ ích về mọi lĩnh vực của cuộc sống. Đó đều là những lời khuyên đúng, đ­ược đúc rút từ cuộc sống thực tế nên có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Về đề tài tính cách và phẩm chất con ngư­ời, đã có nhiều câu tục ngữ có giá trị khái quát cao. Về lời nói trong giao tiếp hàng ngày, dân gian khuyên nhủ : “Nói hay hơn hay nói” hay “Vàng thì thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng, ng­ười ngoan thử lời”. Lời nói của mỗi ngư­ời phần nào thể hiện tính cách con người, vì vậy khi cất tiếng nói con ng­ười phải biết “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Về cách sống, về cách ứng xử giữa con người với con ngư­ời, tục ngữ còn đúc kết : “Khôn lỏi so bằng giỏi đàn” và “Xởi lởi trời cởi cho, so đo trời co lại”. Cả hai câu tục ngữ đều có nội dung phê phán thói ích kỉ, chỉ biết giành lấy cái lợi cho riêng mình. Những kẻ ích kỉ chỉ thấy cái lợi trư­ớc mắt nên cũng chẳng đư­ợc h­ưởng cái phúc lâu dài.

Về thái độ đối xử, cách ăn ở giữa con ngư­ời với con ngư­ời còn có câu : “Ăn nên mà ở chẳng nên, quang rơm gánh đá sao bền bằng mây”, “Tốt danh hơn lành áo”, “Yêu trẻ, trẻ đến nhà, yêu già, già để phúc”. Đó là những lời khuyên răn con ng­ười phải biết sống có tình có nghĩa, phải biết đối xử sao cho phải lẽ đời. Dân gian đã sử dụng những hình ảnh rất gần gũi, dễ hiểu để truyền lại những kinh nghiệm sống quý giá. “Ở” trong câu “Ăn nên mà ở chẳng nên, quang rơm gánh đá sao bền bằng mây” là cách ứng xử, là thái độ sống với những ng­ười xung quanh. Nếu không biết cách ứng xử, cách sống cho phải đạo với mọi ngư­ời thì sẽ nh­ư “quang rơm gánh đá”. Phải biết lựa bề đối xử : “Yêu trẻ, trẻ đến nhà, yêu già, già để phúc” sao cho phù hợp với đạo lí dân tộc. Ở đời sống tốt sẽ gặp may, “ở hiền sẽ gặp lành”. Câu tục ngữ khái quát một lẽ thư­ờng của đời sống là làm gì sẽ đư­ợc hưởng ấy, đối xử tốt với mọi ngư­ời sẽ được mọi ngư­ời đáp lại. Ng­ười Việt Nam vốn trọng nghĩa, trọng tình hơn trọng tiền bạc, “danh” trong “Tốt danh hơn lành áo” không đơn giản là danh vọng, chức t­ước mà là danh dự, là sự tôn trọng của ngư­ời đời đối với mỗi ng­ười. “Lành áo” có nghĩa bóng là tiền bạc. Dân gian đề cao danh dự hơn là tiền bạc, giàu sang.

Sống trong cộng đồng, con ng­ười phải biết th­ương yêu, đùm bọc, cảm thông với nhau. Đó là nghĩa bóng của những câu tục ngữ : “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, “Dốc bồ th­ương kẻ ăn đong, goá chồng th­ương kẻ nằm không một mình”, “Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen”. Sống ở đời phải biết thư­ơng yêu đồng loại, phải biết đau nỗi đau của người khác, phải biết cảm thông và san sẻ khó khăn với những ngư­ời kém may mắn hơn mình. Nhiều khi con ngư­ời rất vô tình, chỉ khi mình phải chịu nỗi đau ấy mới biết cảm thông với ng­ười khác. Cả hai câu tục ngữ đã thể hiện một nét đẹp trong phẩm chất của ng­ười Việt Nam, đó là tinh thần đoàn kết và tấm lòng “Thương ng­ười như­ thể thương thân”.

Tục ngữ không chỉ là những lời khuyên răn, ngợi ca những điều tốt đẹp, phê phán những lối sống, những cách ứng xử không phù hợp trong cộng đồng mà còn là nơi thể hiện những vẻ đẹp của tâm hồn, văn hoá dân tộc. Những quan niệm đúng đắn của ngư­ời x­ưa là một di sản tinh thần vô cùng quý giá đối với dân tộc. Qua tục ngữ có thể thấy những nét đẹp trong tính cách và đạo đức truyền thống của ngư­ời Việt Nam, đó là tinh thần nhân đạo xuyên thấm trong lối sống, trong quy tắc ứng xử và tinh thần yêu lao động thấm nhuần trong những câu nói về lao động sản xuất.

III – LIÊN HỆ Một số câu tục ngữ nói về tốt – xấu, đẹp – xấu : – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. – Cái nết đánh chết cái đẹp. – Người chết, nết còn. – Đói cho sạch, rách cho thơm. – Chết trong còn hơn sống đục. – Đừng ham nón tốt dột mưa, đừng ham người đẹp mà thưa việc làm. – Dù đẹp tám vạn nghìn tư, mà chẳng có nết cũng hư một đời. – Ngọc lành hay có vết. – Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ. – Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại. – Điều lành thì nhớ, điều dở thì quên. – Đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay.

(1) Tham khảo : Nguyễn Trọng Hoàn, Đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 7 (phần Gợi dẫn bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất), NXB Giáo dục, 2004.

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Hay Và Ý Nghĩa

1. Anh em trong nhà, đóng cửa dạy nhau

Anh em thuận hòa là nhà có phúc.

2. Khó mà biết lẽ biết trời,

Biết ăn, biết ở hơn người giàu sang.

3. Làm người chẳng biết lo xa,

Trẻ trung đã vậy tuổi già làm sao.

Làm người cho biết tiền tằn,

Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.

Những người đói rách rạc rài,

Bởi phụ của trời làm chẳng nên ăn.

4. Ruộng hoang người ta khẩn còn thành,

Huống chi ruộng thuộc sao đành bỏ hoang.

5. Làm người chẳng ăn chẳng chơi,

Khư khư giữ lấy của trời làm chi.

6. Hoa thơm ai chẳng nâng niu,

Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

7. Gừng già, gừng rụi, gừng cay,

Anh hùng càng cực, càng dày nghĩa nhân.

8. Thuyền không bánh lái thuyền quay,

Em không cha mẹ ai bày em nên.

9. Tiền thời lấy thúng mà đong,

Bạc thời xếp núi chưa mong gái này.

Lạ thay con cá thờn bơn,

Nằm trên bãi cát, đợi cơn mưa rào.

10. Đất có bồi có lở

Người có dở có hay,

Coi theo thời mà ở,

Chọn theo cỡ mà xài,

Dầu ai ỷ thế cậy tài

Em giữ lòng thục nữ dùi mài gương trong.

11. Làm ham sao tỏ bỏ trăng,

Một năm sao tỏ không bằng trăng lên.

12. Thế gian còn dại chưa khôn,

Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành.

13. Chê tôm ăn cá lù đù,

Chê thằng bụng bự, thằng gù lại ưng.

14. Đục nước thì mới béo cò,

Trong như giá ngọc cò mò vào đâu?

15. Nước trong ai chẳng rửa chân

Hoa thơm ai chẳng tới gần gốc cây.

16. Ai ơi đừng phụ mụt măng,

Mụt măng có nhỏ cũng bằng cây tre.

17. Đừng nài lương giáo khác dòng,

Vốn đều con cháu Lạc Hồng khi xưa.

18. Tham vàng phụ nghĩa ai ơi,

Vàng thời đã hết nghĩa tôi vẫn còn.

19. Chẳng lo chi đó cười đây,

Bão rồi mới biết cội cây cứng mềm.

20. Đời xưa trả oán còn lâu,

Đời nay trả oán bất câu giờ nào.

21. Khế với chanh một lòng chua xót,

Mật với gừng một ngọt một cay.

22. Cây cao thì gió càng lay,

Càng cao danh vọng, càng dày gian nan.

23. Trăm năm ai chớ bỏ ai,

Chớ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.

24. Gió day thì mặc gió day

Xin cho cây cứng lá dày thì thôi.

25. Hoa thơm ở chốn lầu cao,

Gió nam thổi xuống hướng nào cũng thơm.

26. Thương nhau nước đục cũng trong,

Ghét nhau nước chảy giữa lòng cũng dơ.

27. Đời người có một gang tay,

Ai hay ngủ ngày chỉ được nửa gang.

Đời người sống mấy gang tay,

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm.

28. Ngán thay sửa dép vườn dưa,

Dù ngay cho mấy cũng ngờ rằng gian.

29. Khôn thì trong trí lượng ra,

Dại thì học lỏm người ta bề ngoài.

30. Hiu hiu gió thổi đầu non,

Những người uống rượu là con Ngọc Hoàng.

Ngọc hoàng ngự tại ngai vàng,

Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi,

Con rằng con uống con chơi,

Hay đâu con uống con rơi xuống sình.

31. Vì sông nên phải lụy thuyền,

Những như đường liền, ai phải lụy ai?

Kim vàng ai nỡ uốn câu,

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

32. Đói thì đầu gối phải bò,

Cái chân hay chạy cái giò hay đi.

33. Nước giữa đồng anh chê trong chê đục,

Nước vũng trâu đằm anh hì hục khen ngon.

34. Con ta gả bán cho ngươi

Cờ ai nấy phất chứ chơi đâu mà.

35. Người mà phi nghĩa đừng chơi

Của mà phi nghĩa mấy mươi chớ mòng.

36. Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.

37. Sông sâu sào ngắn khôn dò

Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng.

38. Chợ đang đông em không toan liệu,

Chợ tan rồi em bán chịu không ai mua.

Sông dài thì lắm đò ngang,

Anh nhiều nhân ngãi thì mang oán thù.

39. Vịt chê lúa lép không ăn,

Chuột chê nhà trống ra nằm bụi tre.

40. Trai tứ chiếng, gái giang hồ

Gặp nhau mà nổi cơ đồ cũng nên.

41.Ai ơi, giữ chí cho bền,

Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

42. Mèo hoang lại gặp mèo hoang

Anh đi ăn trộm gặp nàng mói khoai.

43. Làm trai quyết chí tang bồng,

Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.

44. Trống chùa ai đánh thì thùng,

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng?

45. Đàn trâu mà gảy tai trâu,

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.

46. Cây cao bóng mát không ngồi

Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mưa.

47. Rủ nhau xuống biển bắt cua,

Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.

48. Mật ngọt càng tổ chết ruồi,

Những nơi cay đắng là nơi thật thà.

49. Chân mình còn lấm mê mê,

Lại đi cầm đuốc mà rê chân người.

50. Thua thì thua mẹ thua cha,

Cá sinh một lứa ai mà thua ai.

51. Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

52. Hơn nhau tấm áo manh quần,

Thả ra bóc trần ai cũng như ai.

53. Hèn mà làm bạn với sang,

Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.

54. Đi đâu mà vội mà vàng,

Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

Thủng thẳng như chúng anh đây,

Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng.

Tìm Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Và Kỉ Luật Câu Hỏi 136754

Sinh ra trong cõi hồng trần,Là người, phải lấy chữ Nhân làm đầu.

Có nhân nhân nở, vô nhân nhân trẩm.

Thức lâu, mới biết đêm dài,Ở lâu, mới biết là người có nhân.

Thương người, như thể thương thân.

Ở có nhân, mười phần chẳng khốn.

Đất có lề, quê có thóiPhép vua thua lệ làngMuốn tròn phải có khuônMuốn vuông phải có thước.Luật pháp bất vị thân

Bề trên ở chẳng kỷ cươngCho nên kẻ dưới lập đường mây mưa

Uống nước, nhớ nguồn.

Con người có tổ, có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn.

Con chim có tổ, con người có tông.

Con chim tìm tổ, con người tìm tông.

Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,

Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng.

Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,

Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng.

Ăn cây nào, vào cây ấy.

Ăn cây nào, rào cây ấy.

Ăn của Bụt, thắp hương thờ Bụt.

Ăn oản, thời phải thờ Phật.

Ăn oản, phải giữ lấy chùa.

Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật.

Ta về, ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.

Cáo chết ba năm, còn quay đầu về núi.

Thứ nhất thì tu tại gia,

Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.

Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu.

Nâng niu bú mớm đêm ngày,

Công cha, nghĩa mẹ, coi tày bể non.

Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ.

Lên non, mới biết non cao,

Nuôi con, mới biết công lao mẫu từ.

Con mẹ thương mẹ lắm thay,

Chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau.

Liệu mà thờ mẹ kính cha,

Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.

Có cha, có mẹ, thì hơn,

Không cha, không mẹ, như đờn đứt giây.

Trách ai được cá quên nơm,

Được chim bẻ ná, quên ơn sinh thành.

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm mớm, lưỡi lừa cá xương.

Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều,

Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau.

Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã gạo cho trắng, mà nuôi mẹ già.

Mẹ cha như chuối chín cây,

Sao đấy chẳng liệu, cho đây liệu cùng.

Cha mẹ ở tấm lều tranh,

Sớm thăm, tối viếng, mới đành dạ con.

Mẹ cha như nước như mây,

Làm con phải ở cho tày lòng son.

Con có làm ra của vạn tiền trăm,

Con ơi, hãy nhớ lúc con nằm trong nôi.

Trâu dê chết để tế ruồi,

Sao bằng lúc sống, ngọt bùi là hơn.

Lúc sống, thời chẳng cho ăn,

Đến khi thác xuống, làm văn tế ruồi.

Sống thì chẳng cho ăn nào,

Chết thì cúng giỗ, mâm cao cỗ đầy.

Dạy con, con nhớ lấy lời,

Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên.

Con giữ cha, gà giữ ổ.

Dâu hiền hơn gái, rể hiền hơn trai.

Trai mà chi, gái mà chi,

Cốt sao có nghĩa, có nghì là hơn.

Con ở đâu, cha mẹ đấy,

Cháu con ở đâu, tổ tiên ở đấy.

Trẻ đeo hoa, già đeo tật.

Già sinh tật, đất sinh cỏ.

Lụ khụ, như ông cụ bảy mươi.

Bảy mươi chưa đui, chưa què, chớ khoe là giỏi.

Một già, một trẻ như nhau.

Kính lão, đắc thọ.

Thương già, già để tuổi cho.

Cá không ăn muối, cá ươn,

Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư.

Cha mẹ là biển là trời,

Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha.

Nói con, con chẳng nghe lời,

Con nghe ông huyểnh, ông hoảng, hết đời nhà con.

Cha mẹ đánh cửa trước, vào cửa sau. (1)

Một mẹ, nuôi được mười con,

Mười con, không nuôi được một mẹ.

Con bà, có thương bà đâu,

Để cho chàng rể, nàng dâu thương cùng.

Cha mẹ nuôi con, bằng trời bằng bể,

Con nuôi cha mẹ, con kể từng ngày.

Mẹ nuôi con, biển hồ lai láng,

Con nuôi mẹ, kể tháng kể ngày.

Mẹ già hết gạo treo niêu,

Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai.

Mẹ lá rau, lá má,

Con đầy rá, đầy mâm.

Mẹ sớm chiều, ngược xuôi tất tưởi,

Con đẫy ngày, đám dưới đám trên.

Cơm cha thời ngon, cơm con thời đắng.

Bình phong khảm ốc xà cừ,

Vợ hư thời bỏ, chớ từ mẹ cha.

Những Câu Châm Ngôn Hay Và Triết Lý Về Đạo Đức Của Con Người

2. Nhận thức về cái đẹp mà một bài kiểm tra đạo đức.

3. Đức hạnh là cuộc chiến, và để sống trong nó, chúng ta luôn phải chiến đấu với bản thân mình.

4. Mức cao nhất có thể đạt được của văn hóa đạo đức là khi chúng ta nhận ra mình phải kiểm soát suy nghĩ của mình.

5. Khi luật pháp trở nên bạo ngược, đạo đức bị buông thả, và ngược lại.

6. Sự khác biệt giữa người có đạo đức và người có danh dự là người sau hối tiếc hành động nhục nhã, ngay cả khi nó thành công và anh ta không bị bắt quả tang.

7. Tôi sẽ cho anh định nghĩa về đạo đức: Luôn tốt khi duy trì và nuôi dưỡng cuộc sống, luôn xấu khi gây thương tổn và phá hủy cuộc sống.

10. Thứ tốt vừa phải chẳng tốt được như người ta nghĩ. Biết kiềm chế tâm tính luôn là đức tốt; nhưng kiềm chế nguyên tắc đạo đức luôn là xấu xa.

11. Quyền lực luôn luôn thu hút những kẻ không có đạo đức.

12. Không bao giờ có một người thực sự vĩ đại mà lại không phải là một người thực sự đạo đức.

13. Có lẽ chẳng có hiện tượng nào chứa nhiều cảm xúc tiêu cực như sự phẫn nộ vì đạo đức, nó cho phép ghen tị được hoành hành dưới vỏ bọc của đức hạnh.

14. Con người cần ít đổ rắc rối của mình lên môi trường xung quanh, và học cách thể hiện ý chí – trách nhiệm cá nhân trong lĩnh vực niềm tin và đạo đức.

15. Người không có đạo đức giống như con thú hoang bị thả rông vào thế giới.

18. Không có nhận thức nào về đạo đức lại không dẫn tới điều gì đó bất tiện.

19. Một người có danh dự nếu anh ta giữ mình kiên trì theo đuổi lý tưởng về đạo đức cho dù nó bất tiện, không đem lại lợi lộc hoặc thậm chí là nguy hiểm.

12. Tri thức trong đầu và đạo đức trong tim, thời gian cống hiến để nghiên cứu và lao động thay vì hình thức và lạc thú, đó là cách để trở nên hữu dụng, và nhờ vậy, có được hạnh phúc.

22. Đức hạnh là nền tảng của mọi thứ và chân lý là bản chất của mọi đức hạnh.

23. Hạnh phúc, cho dù dưới chế độ chuyên quyền hay dân chủ, cho dù trong sự nô lệ hay tự do, không bao giờ đạt được nếu ta không có đạo đức.

26. Đạo đức là những hành động mà một người làm để hoàn thiện tính cách nội tâm của mình.

27. Một người chỉ thực sự có đạo đức khi anh ta phục tùng sự thôi thúc muốn giúp tất cả mọi sinh mệnh anh ta có thể giúp được và lùi lại không làm tổn thương tới bất cứ sinh linh nào.

28. Xuất thân và sự giàu sang kết hợp cùng nhau đã thắng thế đạo đức và tài năng trong mọi thời đại.